1
Tiểu luận
Thuế tiêu thụ đặc biệt tác động
tại Việt Nam
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1 Khái niệm:
1.1.1 Thuế: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ
phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước
ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế
không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người
định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.
1.1.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt: là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành
trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch
vụ.
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi
khác nhau: chẳng hạn ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt,ở Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt;
ở nước ta, tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành
năm 1951. Ðến năm 1990 Bộ tài chính soạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế
- Trường hợp tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện
chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong
nước thỉ tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế TTĐB.
b. Đối tượng chịu thuế:
- Hàng hóa: Thuốc lá, rượu, bia, xăng các loại, bìa lá, vàng mã, tàu bay, du thuyền, xe môtô
có dung tích xi lanh trên 125cm
3
và xe ôtô dưới 24 chỗ.
- Dịch vụ: Kinh doanh vũ trường, kinh doanh mát-xa, karaoke, kinh doanh gôn, kinh doanh
xổ số…
c. Đối tượng không chịu thuế:
- Hàng hoá xuất khẩu, hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế hải quan, …
- Xe ôtô cứu thương, xe ôtô chở phạm nhân, xe ôtô tang lễ, xe ôtô thiết kế có chổ ngồi và
đứng chở từ 24 người trở lên, xe ôtô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao
1.5 Thuế suất áp dụng đối với mặt hàng ô tô: thuế suất tỷ lệ
STT
Hàng hóa, dịch vụ Thuế suất (%)
4 Xe ô tô dưới 24 chỗ
a) Xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, trừ loại quy định tại
điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
Loại có dung tích xi lanh từ 2.000 cm
3
trở xuống 45
Loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm
3
đến 3.000 cm
3
ản xuất có tỷ lệ xăng pha trộn không quá 70% tổng số
nhiên liệu sử dụng và loại xe kết hợp động cơ đi
ện với động
cơ xăng (xe hybrid) có tỷ lệ xăng sử dụng theo tiêu chuẩn nh
à
sản xuất không quá 70% số năng lư
ợng sử dụng so với loại xe
chạy xăng tiết kiệm nhất, có cùng số chỗ ngồi v
à cùng dung
tích xi lanh có mặt trên thị trường Việt Nam)
B
ằng 70% mức
thu
ế suất áp dụng
cho xe cùng lo
ại
quy đ
ịnh tại điểm
4a, 4b, 4c và 4d
Điều này
e) Xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học (được thiết kế theo
tiêu chuẩn của nhà sản xuất chạy hoàn toàn bằng năng lượng
sinh học, năng lượng điện)
B
ằng 50% mức
thu
ế suất áp dụng
cho xe cùng lo
ại
1.6.2 Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu.
Giá tính thuế nhập khẩu được xác định theo các quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính
thuế không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm.
1.7 Văn bản liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt qua các năm
Luật Thuế TTĐB lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 trong chương trình cải cách
thuế giai đoạn I. Quá trình thực hiện, thuế TTĐB đã được sửa đổi và hoàn thiện nhiều lần để
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và các yêu cầu
đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những lần sửa đổi, bổ sung quan trọng nhất
là các Luật được ban hành trong các năm 1998, 2003, 2005 và mới nhất là năm 2008 (Luật
thuế TTĐB số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008, hiệu lực từ 01/04/2009).
1.7.1 Các nghị định của chính phủ về thuế tiêu thụ đặc biệt
Số/Ký hiệu Ngày ban hành
Trích yếu
26/2009/NĐ-CP 16/03/2009
Quy đ
ịnh chi tiết thi h
à
nh m
ột số điều của Luật Thuế
tiêu thụ đặc biệt
156/2005/NĐ-CP
15/12/2005
Ngh
ị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi
tiết thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế
giá trị gia tăng
Ngh
ị định quy định chi tiết thi h
ành Lu
ật Thuế ti
êu th
ụ
đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt
325/HĐBT 19/10/1991
Ngh
ị định quy định chi tiết thi h
ành Quy
ết định của
Hội đồng Nhà nước bổ sung sửa đổi thuế doanh thu và
thuế tiêu thụ đặc biệt
391/HĐBT 10/11/1990
Ngh
ị định quy đ
ịnh thi h
ành đi
ều 32 của Luật thuế ti
êu
thụ đặc biệt về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với
hàng được phép xuất, nhập khẩu phi mậu dịch
6
352/HĐBT 02/10/1990
Ngh
ị định quy định chi tiết thi h
ành Lu
đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng
119/2003/TT-
BTC
22/12/2003
Hư
ớng dẫn thi h
ành Ngh
ị định số 149/2003/NĐ
-
CP
ngày 04/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
86/2001/TT-BTC
29/10/2001
Hư
ớng dẫn ho
àn thu
ế ti
êu th
ụ đặc biệt
đ
ã n
ộp đối với
thuốc lá điếu xuất khẩu
168/98/TT/BTC 21/12/1998
Hư
ớng dẫn thi h
Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt và các Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt
74/TCT 01/01/1993
Thông tư hư
ớng dẫn thi h
ành Ngh
ị định số 56
-
CP ngày
28/8/90 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
7
43/TC/TCT/CS 13/08/1991
Thông tư hư
ớng
d
ẫn thi h
ành Quy
ết định của Hội đồng
Bộ trưởng số 203-HĐBT ngày 29-06-1991 quy định
một số điều chi tiết thi hành các luật thuế doanh thu,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức
46/TCT 04/10/1990
Thông tư hư
ớng dẫn thi h
ành Lu
ật Thuế ti
8
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG ÔTÔ
2.1 Đối với người tiêu dùng
Tâm lý của người tiêu dùng thường không ưa thích sự tăng giá. Khi biểu thuế tiêu thụ
đặc biệt thay đổi theo hướng gia tăng sẽ kéo theo nhiều thay đổi trong hành vi của người
tiêu dùng.
Vào cuối năm 2008, lượng ôtô tồn đọng của các DN còn khá nhiều và chỉ tiêu tài chính
vẫn còn rất xa để đạt được định mức. Chính vì vậy mà nhiều DN đã giảm mạnh giá xe, tăng
khuyến mãi để giải quyết hàng tồn kho, khách hàng là những người hưởng lợi nhiều nhất do
các hãng xe hơi tiếp tục đưa ra chính sách giảm giá và khuyến mại đặc biệt để giải phóng
hàng tồn và bảo vệ mức thị phần. Tuy nhiên đến cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 2009, thông
tin về thời hạn chính thức áp dụng Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) vẫn giữ nguyên,
những người có nhu cầu bắt đầu đổ xô đi mua xe nhằm tránh bị tăng giá. Tâm lý này đã gây
nên hiện tượng rối loạn thị trường ô tô. Vào cuối tháng 3-2009, những người có nhu cầu thật
sự đối với các loại ô tô 7 chỗ đều đã tranh thủ mua để khỏi phải chịu thêm ít nhất 10% thuế
TTĐB nữa. Riêng đối với ô tô bán thể thao 7 chỗ hiệu Captiva, vào tuần cuối của tháng
3/2009, có đại lý tăng số lượng bán ra đến 50% so với tháng 2, các loại xe Innova, Fortuner
không còn để bán bởi khách hàng có nhu cầu mua ô tô tăng vọt. Đối với ô tô nhập khẩu,
khách chứ không phải là ô tô.
2.2 Đối với nhà sản xuất ô tô
2.2.1 Tác động đến giá xe ô tô: Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt vừa được Quốc hội thông qua,
và theo biểu thuế mới chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/4/2009, thuế suất thuế tiêu thụ đặc
biệt đối với các loại xe có dung tích xi-lanh từ 2.000cm3 trở xuống sẽ ở mức 45%, các loại
xe có dung tích xi-lanh trên 2.000cm3 đến 3.000cm3 ở mức 50% và xe trên 3.000cm3 ở
mức 60%. Các mức thuế suất mới sẽ tạo nên những xáo trộn nhất định giữa các loại xe này
xuất phát từ cách tính mới. Trong đó, các loại xe từ 6-9 chỗ sẽ phải chịu mức tăng giá mạnh
mẽ nhất còn các loại xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống phải chịu mức tăng giá ít hơn. Loại xe từ 6-
9 chỗ có dung tích xi-lanh trên 2.000cm3 đang hưởng mức thuế chung là 30% trong khi từ
1/4/2009, sẽ phải chịu mức thuế tăng thêm từ 15-30%. Cụ thể, thuế suất thuế tiêu thụ đặc
biệt đối với các loại xe 6-9 chỗ có dung tích xi-lanh từ 2.000 cm3 trở xuống tăng từ 30% lên
45% kéo theo mức tăng giá bán khoảng 12%, các loại xe trên 2.000 cm3 đến 3.000 cm3
tăng từ 30% lên 50% kéo theo mức giá bán tăng khoảng 15% và xe trên 3.000 cm3 tăng từ
30% lên 60% kéo theo mức tăng giá bán khoảng 23%.
Riêng với nhóm xe 5 chỗ ngồi trở xuống chỉ có những loại xe có dung tích xi-lanh trên
3.000 cm3 phải chịu mức thuế tăng lên dù không đáng kể. Hiện các loại xe này đang chịu
mức thuế suất 50% và từ 1/42009 tăng lên 60% kéo theo mức tăng giá bán khoảng 7%.
Những thay đổi về giá xe ô tô từ 01/04/2009
Loại xe
Dung tích
(cm3)
Thu
ế mới
(% )
Thu
ế cũ
(% )
Tác đ
từ 2.000cm3 trở xuống. Đây là các loại xe có phân khối thấp nhưng vẫn phải chịu mức thuế
tăng thêm 15% kéo theo mức giá tăng 12%. Các loại xe này, ví dụ như Toyota Innova,
Mitsubishi Zinger, Chevrolet Vivant… đang có đối tượng sử dụng chủ yếu là các gia đình
và mức giá bán thuộc nhóm trung bình và thấp hiện nay.
Theo biểu thuế mới, các loại xe nhỏ là được hưởng lợi nhiều hơn cả khi không những
không phải chịu mức thuế tăng thêm mà còn giảm đi, dù không nhiều.
Trong đó các dòng xe hạng trung như Toyota Camry, Honda CR-V, BMW 5 series… không
phải chịu bất kỳ sự thay đổi nào khi thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt giữ nguyên mức 50%.
Riêng các dòng xe nhỏ có dung tích xi-lanh từ 2.000cm3 trở xuống như Hyundai Getz,
Chevrolet Spark hay Kia Morning… sẽ được hưởng mức thuế giảm thêm 5%, từ mức 50%
hiện nay xuống còn 45%, theo đó mức giá bán cũng sẽ giảm khoảng 3%. Mức độ ảnh hưởng
của thuế tiêu thụ đặc biệt đến giá xe bán ra là rất lớn.
Việc tăng thuế TTĐB tác động đến giá xe lắp ráp trong nước còn nhiều hơn tác động đến
giá xe NK. Giá xe NK đánh thuế TTĐB trên giá thể hiện trong tờ khai hải quan. Còn đối với
xe lắp ráp trong nước, sau khi cộng giá linh kiện và thuế cùng với các chi phí khác, hình
thành nên giá bán mới áp thuế TTĐB.
2.2.2 Tác động đối với ô tô sản xuất trong nước:
Trong tháng 03/2009, tổng sản lượng bán hàng của các thành viên Hiệp hội các nhà sản
xuất xe ôtô Việt Nam (VAMA) giảm 14% so với tháng 03/2008, đạt 11,316 xe, trong đó
dòng xe du lịch và xe thương mại giảm mạnh với mức giảm lần lượt là 35% và 33%, riêng
phân khúc xe việt dã/đa dụng (SUV/MPV) chủ yếu là xe 6-9 chỗ lại tăng mạnh với mức
tăng là 53% so với tháng 03/2008 do khách hàng tranh thủ mua xe trước khi tăng thuế Tiêu
thụ đặc biệt từ 01/04/2009.
Loại xe Bắc Trung Nam
T
ổng
cộng
Xe du lịch 815 160 445
1,420
139
435
1,156
Xe T
ải, Pick
-
up &
Van
1,684 896 1,598
4,178
T
ổng cộng
4,849
1,598
4,869
11,316
Chassis - - 36
36Tháng 4/2009 dường như là một tháng u ám của các nhà sản xuất xe ôtô khi mức tiêu thụ
ôtô sụt thê thảm so với tháng 3 và so với cùng kỳ năm 2008.Trong tháng 04/2009, tổng sản
413
Xe Minibus, Bus
253
88
380
721
Xe T
ải, Pick
-
up &
Van
1,585 881 1,318
3,784
T
ổng cộng
3,410
1,339
2,962
7,711
thuế tiêu thụ đặc biệt mới được áp dụng, mức thuế áp cho một số dòng này thấp hơn trước.
Do đó, người tiêu dùng đã chuyển hướng sang việc mua các dòng xe nhỏ, thay vì mua xe 7
chỗ trở lên như trước đây. Mặt khác, thời gian gần đây một số doanh nghiệp cũng đã tung ra
nhiều mẫu mã, chủng loại cho dòng xe du lịch này để thu hút khách hàng.
Tính chung tổng doanh số bán hàng của các thành viên VAMA trong 5 tháng đầu năm 2009
đạt hơn 32.200 xe, giảm 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Toyota Việt Nam với doanh số bán
ra hơn 8.750 xe, tiếp tục giữ vị trí cao nhất trong 5 tháng qua, kế đến là Trường Hải bán
được 6.860 xe, Vinamotor bán được hơn 5.890 xe, GM Daewoo bán được hơn 3.890 xe,
Honda hơn 1.490 xe, Ford hơn 2.460 xe, và Mercedes-Benz gần 1.260 xe…
Theo thống kê của VAMA, riêng trong tháng 10/2009, tổng sản lượng bán hàng của các
thành viên thuộc Hiệp hội đạt 11.762 xe, tăng nhẹ so với tháng 9 nhưng gấp đôi so với cùng
kỳ năm ngoái (tăng 103%). Dòng xe 5 chỗ vẫn là tâm điểm trong các dòng xe bán ra với
doanh số gần 3.900 chiếc, cao hơn gần 500 chiếc so với tháng 9. Xe đa dụng cũng có mức
tăng khá mạnh, đạt 1.115 xe.
Tình hình tiêu thụ xe của các thành viên VAMA từ tháng 1 đến tháng 11/2009
(ĐVT: chiếc)
Lo
ại xe hạng
1
2
3
4
5
6
3.498
3.866
4.486
Xe đa d
ụng
MP V
771 1.565 2.408 512 860 877 994 848 971 1.115
1.168
Xe vi
ệt d
ã
SUV
452
627
2.154
413
625
639
ổng
3.852
6.
671
11.
316
7.
711
8.
761
9.
699
10.
839
10.555
11.071
11.762
12.259
(Nguồn: www.vietnamcar.com)
2.2.3 Tác động đối với ô tô nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc giảm mạnh trong hai tháng đầu năm 2009, theo
nhiều ý kiến phân tích, là hoàn toàn dễ hiểu. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, thắt chặt chi
phần lớn vào dòng xe 6-9 chỗ với đủ các chủng loại. Trên thực tế, đây cũng là phân khúc
bán chạy nhất thị trường như các tên tuổi Toyota Innova, Chevrolet Captiva, Ford Everest.
khi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) có hiệu lực từ 1/4 nâng thuế suất từ 30% lên các
mức 45%, 50% và 60% (tùy theo dung tích) thì ngay lập tức thị trường rơi vào khủng
hoảng. Sau khi "lên đỉnh" vào tháng 3 nhờ tâm lý chạy thuế, doanh số dòng xe này giảm
thảm hại, tới 83%. Thậm chí Captiva giảm còn 3 chiếc trong suốt tháng 4. Ford Everest
14
cũng chịu chung số phận và chỉ 9 chiếc được giao cho khách hàng. Sản phẩm bán chạy nhất
thị trường là Innova cũng giảm tới 4 lần, xuống còn gần 300 chiếc.Phần lớn các sản phẩm
này đều đóng vai trò chủ lực của các hãng xe.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lượng xe nhập về Việt Nam đã có sự gia tăng
mạnh mẽ trong những tháng cuối năm 2009. Nếu như tháng 8, cả nước nhập 7.300 ôtô
nguyên chiếc, trị giá 105 triệu USD thì tháng 9, con số trên lần lượt là 8.000 chiếc, tương
ứng 132 triệu USD và tháng 10 lượng xe nhập khẩu lên tới 9.000 chiếc, trị giá 140 triệu
USD. Tính chung tổng lượng ô tô nhập khẩu trong năm 2009 đạt 80,6 nghìn chiếc, trong đó
xe dưới 9 chỗ là 47,1 nghìn chiếc chiếm 58,4% lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả
nước.
Trong năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu mặt hàng này từ 14 thị trường. Hàn Quốc là thị
trường Việt Nam nhập khẩu ôtô nhiều nhất với 29.261 chiếc, trị giá 296,5 triệu USD chiếm
0,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tăng 39,6% về lượng và 39,4% về trị giá so
với cùng kỳ năm ngoái. Đứng thứ hai sau thị trường Hàn Quốc là Hoa Kỳ với lượng nhập
trên 5 nghìn chiếc, trị giá 132,93 triệu USD, giảm 44,7% về lượng và giảm 41% so với cùng
kỳ năm ngoái. Tiếp theo là các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan với lượng nhập
lần lượt là 4,2 nghìn chiếc, 3 nghìn chiếc và 1,8 nghìn chiếc, đạt trị giá 112,2 triệu USD,
106,6 triệu USD và 31,3 triệu USD.
Trong 05 tháng đầu năm 2010, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại vào Việt Nam đã
đạt con số 18.523 xe, tương đương kim ngạch 312,6 triệu USD, tăng 7,4% về số lượng
nhưng chỉ 1,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009
Kim ng
Tháng 5/2010
4.500
78
Ngu
ồn: Tổng cục Thống k
ê
2.3 Đối với nhà nước
Việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng ôtô từ năm 1996 đến nay không
chỉ góp phần hạ mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng này để đáp ứng nhu cầu hội
nhập, mở cửa nền kinh tế mà còn góp phần hạn chế bớt nạn ùn tắc giao thông và ô nhiễm
15
môi trường trong bối cảnh Chính phủ chưa có đủ điều kiện về thời gian và nguồn lực để giải
quyết các vấn đề trên một cách toàn diện và ổn định. Thuế tiêu thụ đặc biệt nói chung và
thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, thuốc lá và ôtô nói riêng đóng một vai trò quan trọng
trên phương diện nguồn thu ngân sách Nhà nước. Trong những năm qua, số thu từ sắc thuế
này thường chiếm khoảng 24% trong tổng số thu từ thuế gián thu, và chiếm khoảng 7%
trong tổng nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước. Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần bảo
đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Số liệu cụ thể như sau:
SỐ THU TỪ THUẾ TTĐB SO VỚI TỔNG THU TỪ THUẾ QUA CÁC NĂM
ĐƠN VỊ: TỶ ĐỒNG
NĂM
TỔNG THU
TỪ THUẾ
Ọ NG2003 127,947
8,851
7%
22,374
17%
số quyết
toán
2004 155,579
12,773
8%
21,614
14%
2005 191,725
15,716
8%
59,927
17%
số ước
tính
2009
336,098
27,587
8%
65,000
19%
QI/2010 101,041
7,397
7%
21,290
21%
Nguồn: Bộ Tài Chính
NĂM
TỔNG THU
TỪ THUẾ %TĂNG
THU
Ế
TTĐB
HÀNG SX
TRONG
NƯỚC
%
TĂNG
THU
Ế
XNK VÀ
TTĐB
HÀNG
NK
GHI
CHÚ
2003 127,947
8,851
22,374
số
quyết
toán
2004 155,579
14%
17,365
1%
38,309
2008 359,109
34%
21,556
24%
59,927
số ước
tính
2009 336,098
-6%
27,587
28%
65,000
18
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI KIẾN NGHỊ CẢI THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG Ô TÔ
3.1 Những kết quả đạt được và một số hạn chế từ việc áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc
biệt đối với mặt hàng ô tô
khẩu.
19
- Mức thuế suất áp dụng đối với dòng xe từ 6 chỗ - 9 chỗ ngồi tăng đột biến, không có lộ
trình khiến cho nhu cầu về các dòng xe này giảm mạnh, đặc biệt dòng xe này là dòng xe tiêu
dùng chính trong dân cư và là dòng xe chủ lực của các hãng xe.
- Áp ụng thuế suất cao nhằm bảo hộ cho các doanh nghiệp lắp ráp xe trong nước. Tuy nhiên
chính sách này đã bộc lộ một số hạn chế đó là các doanh nghiệp quá ý lại việc được bảo hộ
tuyệt đối nên rất chậm chạp trong việc nội địa hóa và nâng cao tính cạnh tranh. Thực tế cho
thấy kết quả trong giai đoạn phát triển vừa qua của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn
chưa cho ra những chủng loại xe hiệu quả thực sự phù hợp với môi trường và hoàn cảnh của
riêng Việt Nam.
3.2 Một số kiến nghị
Quan điểm nhất quán bảo hộ ngành Công nghiệp ô tô luôn được Chính phủ ViệtNam
triệt để duy trì và áp dụng. Điều này thể hiện rõ nhất trong chính sách thuế Chính phủ đề ra
trong suốt thời gian qua. Về cơ bản, chính sách thuế quan được xây dựng với các biện pháp
thuế quan và phi thuế nhằm áp đặt mức thuế cao đối với xe nhập khẩu và hạn chế tối đa
nhập khẩu miễn thuế. Hàng rào thuế quan và phi thuế này thời gian qua đã được phát huy
hết hiệu quả để bảo vệ ngành công nghiệp ô tô trong nước còn non trẻ này tránh khỏi những
sóng gió của thị trường ô tô thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt và thực sự đã tạo được sự ngăn
cách to lớn giữa xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước.
Tại những nước phát triển hơn, ô tô chỉ chịu thuế VAT, không chịu thuế TTĐB. Ô tô
đang trở thành phương tiện đi lại hàng ngày, không phải là tài sản lớn. Vì vậy, chúng ta nên
nghĩ đến việc giảm, thay vì tăng thuế TTĐB. Thay vào đó, Chính phủ nên áp dụng việc thu
phí cầu đường, để đảm bảo việc cứ chạy càng nhiều xe trên đường thì phải trả càng nhiều
phí, xây dựng chính sách thuế khác với ôtô như thuế môi trường, tài nguyên
Đối với ngành lắp ráp ô tô trong nước, thời điểm 2017-2018 lại là một thách thức rất lớn.
Đến nay, ngành này vẫn còn tồn tại và phát triển được là nhờ vào hàng rào bảo hộ bằng thuế
quan. Với giá thành sản xuất như hiện nay, chắc chắn sẽ không doanh nghiệp nào có thể tồn
tại, một khi thuế nhập khẩu xe từ những nước ASEAN được cắt xuống còn 0%.
cần đồng nhất mức tăng với xe SXTN để tránh phân biệt đối xử, tạo sự cân bằng trong hạn
chế tiêu dùng (bởi ôtô SXTN cũng thông qua NK linh kiện).
Bên cạnh đó, cần xây dựng lộ trình thuế song song với chiến lược phát triển công nghiệp
ôtô. Đặc biệt, cần hoàn thiện công cụ thuế khác để đánh thuế đúng đối tượng; qua đó tăng
tiết kiệm tiêu dùng và hạn chế sử dụng tài nguyên. Chỉ với biện pháp tổng hoà này, thuế mới
đảm bảo là chính sách điều hành kinh tế; tránh lúng túng, mâu thuẫn; không để xảy ra tiêu
cực đối với thị trường, NTD hay tạo kẽ hở cho sự bảo hộ hay trục lợi.
Để phát triển một ngành công nghiệp có quy mô lớn như ngành công nghiệp ô tô đòi hỏi
cần có sự nỗ lực của toàn xã hội mà quan trọng nhất là từ phía Chính phủ và các doanh
nghiệp trong ngành.