BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ HOÀN
BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
HỢP TÁC THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ
NỘI DUNG TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Hải Lý
Sơn La, năm 2013
Lời cảm ơn
Đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS. Nguyễn Hải lí đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận.
Thứ hai, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Toán - Lý - Tin, Phòng khoa học công nghệ và Quan hệ quốc tế, Trung tâm thông tin
thư viện trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Thứ ba, em muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt đến các giáo viên và học sinh của
trường THPT Trần Quốc Tuấn – Quảng Ninh đã giúp đỡ và hợp tác giúp em
trong quá trình thực nghiệm sư phạm tại trường.
Qua đây, chúng em cũng xin cảm ơn tập thể lớp K50 ĐHSP Toán - Lý cùng
toàn thể bạn bè, những người đã giúp đỡ, khuyến khích và ủng hộ nhiệt tình
trong quá trình em tiến hành nghiên cứu khoá.
Nội dung của khoá luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các
bạn để khoá luận hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Sơn la, tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoàn
1.3.2. Cơ sở của việc dạy học hợp tác theo nhóm 9
1.3.3. Đặc điểm của dạy học hợp tác theo nhóm 10
1.3.4. Phân loại nhóm 11
1.3.5. Cách chia nhóm 11
1.3.6. Cơ cấu tổ chức và hoạt động nhóm 12
1.3.7. Quá trình tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm 13
1.3.8. Ưu điểm và hạn chế của dạy học họp tác theo nhóm 14
1.3.9. Khả năng vận dụng dạy học hợp tác theo nhóm ở trường THPT 16
1.4. Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm
trong dạy học Toán ở một số trường trung học phổ thông 17
1.4.1. Đối với giáo viên. 17
1.4.2. Đối với học sinh 18
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC THEO
NHÓM TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG TOÁN TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG 20
Ví dụ 1: Bài : Phương trình quy về phương trình bậc nhất, bậc hai (tiết 2). 20
Ví dụ 2: Bài: Cấp số cộng (tiết 1). 23
Ví dụ 3: Bài: Phương trình mặt phẳng (tiết 1). 26
Ví dụ 4: Bài: Tổng và hiệu của hai vectơ (tiết 1). 29
Ví dụ 5: Bài: Tích của vectơ với một số (tiết 1). 31
Ví dụ 6: Bài: Vi phân. 33
Ví dụ 7: Bài: Khái niệm về khối đa diện (tiết 1). 35
Ví dụ 8: Bài: Dấu của tam thức bậc hai (tiết 1). 36
Ví dụ 9: Bài 3: Phương trình và hệ phương trình bậc nhất nhiều ẩn (tiết 1). 39
Ví dụ 10: Bài 3: Hàm số liên tục (tiết 1). 40
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1. Mục đích thực nghiệm 43
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 43
3.4. Phương pháp thực nghiệm 43
3.3. Nội dung thực nghiệm 43
HS
Học sinh
K
Khá
PP
Phương pháp
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
T
Tỉnh
TB
Trung bình
THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
Tr
Trường
Y
Yếu
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn khoá luận
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập quốc tế về mọi mặt, sự phát
triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ, cũng
như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế đòi hỏi người học và người dạy phải
thường xuyên trang bị cho mình những kiến thức cơ bản phục vụ chuyên môn.
2
Từ những lý do trên, với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học Toán ở
trường THPT, tôi mạnh dạn nghiên cứu khoá luận: “Bước đầu vận dụng
phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học một số nội dung
Toán trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu nhằm mục đích:
Bước đầu vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học
một số nội dung Toán THPT nhằm nâng cao việc dạy học toán.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu ở trên, khoá luận cần giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Nghiên cứu các quan điểm dạy học hiện đại, dạy học tích cực và làm rõ
cơ sở lí luận của dạy học hợp tác theo nhóm.
- Nghiên cứu chương trình SGK hiện hành, SGV và các tài liệu tham khảo
có liên quan.
- Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học hợp tác theo nhóm tổ chức dạy học
một số nội dung Toán THPT.
- Tiến hành thực nghiệm: Tổ chức dạy học một số nội dung Toán THPT
theo kế hoạch đã thiết kế, kiểm tra, chấm bài kiển tra, phát phiếu thăm dò, đánh
giá các số liệu thực nghiệm và rút ra những kết luận cần thiết.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy
học một số nội dung Toán THPT.
- Phạm vi nghiên cứu: HS trường THPT Trần Quốc Tuấn (Quảng Yên -
Quảng Ninh).
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Bản chất của sự học và chức năng của sự dạy
1.1.1. Bản chất của sự học tập
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người - đó là sự
phản ánh tâm lí của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng. Sự
học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy. Sự phản ánh đó không phải thụ
động như chiếc gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của
mỗi người như thông qua tri thức, kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú của chủ thể
nhận thức. Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện
trong tiến trình hoạt động phân tích - tổng hợp của não người và có tính lựa
chọn. Quá trình học tập của HS cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của
V.I.Lênin về quá trình nhận thức : ‘‘Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận
thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan’’
Quá trình nhận thức của HS thể hiện tính độc đáo : Quá trình nhận thức
của HS không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu là sự tái
tạo những tri thức của loài người đã tạo ra, nên HS nhận thức những điều rút ra
từ kho tàng tri thức chung của loài người đối với các em còn mới mẻ.
liền với bộ ba đó. Trong đó, người học với năng lực cá nhân của mình tham gia
vào quá trình thu lượm tri thức mới, người học trước hết là người đi học chứ
không chỉ đơn thuần là được dạy. Người dạy bằng kiến thức, kinh nghiệm của
mình chịu trách nhiệm hướng dẫn người học, chỉ cho họ cái đích cần tới. Cần
lưu ý rằng chức năng chính của người dạy chỉ là hướng dẫn và giúp đỡ người
học chứ không thể làm thay công việc của người học. Môi trường là tất cả
những yếu tố xung quanh người học và người dạy, bao gồm cả yếu tố bên
trong (như :tình cảm, cảm xúc, nhân cách con người…) và bên ngoài (như : gia
đình, nhà trường, bạn bè và xã hội…).
1.2.2. Các tương tác trong ba tác nhân
Phương pháp sư phạm tương tác dựa trên mối quan hệ qua lại giữa ba tác
nhân: người học, người dạy và môi trường, mối quan hệ đó được thể hiện qua sự
tương hỗ sao cho mỗi tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai
tác nhân còn lại.
Người học bằng phương pháp học, kết quả học tập, cách cư sử, thái độ của
mình truyền các thông tin cho người dạy và người dạy phản hồi lại bằng cách
cung cấp thêm thông tin, trả lời các câu hỏi, đánh giá kết quả học tập tập của
người học, từ đó điều chỉnh, tìm ra hướng đi mới cho hoạt động dạy của mình.
Như vậy, người học đã hành động và người dạy đã phản ứng.
Tương tự người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình, gợi ý, hướng
dẫn người học, hướng họ tới cái đích cần đạt tới, về phần mình người học tiếp
thu những gợi ý đó và tự mình thu lượm tri thức. Nếu người học thấy thoả mãn
thì họ sẽ có cảm tình với người dạy và ngược lại. Lúc này, người dạy lại hành
động và người học lại phản ứng.
Môi trường có thể ảnh hưởng đến phương pháp học của người học và
phương pháp sư phạm của người dạy, vì thế mà nó ảnh hưởng đến quá trình dạy
6
học. Người học và người dạy không phải là sự trừu tượng chung chung, họ là
những con người cụ thể tồn tại trong thế giới vật chất, bên trong họ là tình cảm,
tác phẩm của mình.
7
Người dạy chỉ là người hướng dẫn của người học, giống như người thuyền
trưởng đã trao tay lái cho một thuyền viên, điều đó có nghĩa là người dạy không
trực tiếp cầm lái mà với các kiến thức, kinh nghiệm của mình, bằng phương pháp
sư phạm họ chỉ gợi ý, giúp đỡ, để chính người học phải tự cầm lái.
Môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học của người học và phương
pháp dạy của người dạy, vì thế có ảnh hưởng đến hai tác nhân trên.
Mặt tích cực của phương pháp sư phạm tương tác là đã chú ý đáng kể đến
môi trường, đây là nơi diễn ra hoạt động dạy và học, đồng thời xác lập các tương
tác của ba yếu tố trong quá trình dạy học. Do vậy, trong quá trình tổ chức dạy
học theo phương pháp tương tác đòi hỏi phải chú ý một yếu tố mới, cần được
quan tâm đúng mức đó là môi trường.
Tóm lại, phương pháp dạy học tương tác cho thấy mối quan hệ tương hỗ
của ba tác nhân: người học - người dạy - môi trường, đây là một phương pháp sư
phạm sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình đào tạo, nó đồng thời khẳng định
vai trò của ba tác nhân, từ đó nhận thấy rằng: ‘‘ Mỗi học sinh là một cá nhân, có
nhu cầu học tập khác nhau nhưng sự học tập của con người là một quá trình xã
hội, trong đó nguời khác cũng tham gia vào hoạt động hợp tác với người học”.
Người khác và người học ở đây chính là muốn đề cập đến quan hệ thầy - trò và
trò - trò. Quan hệ trò - trò chính là biểu hiện của sự tác động qua lại giữa người
học và môi trường. Quan hệ ấy được thể hiện tích cực nhất ở sự thảo luận giữa
các nhóm học tập, giữa các thành viên trong nhóm và ngược lại nhóm học tập lại
là môi trường thuận lợi để gắn kết người học với nhau, trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ chung. Đó không chỉ đơn thuần là sự gắn kết về mặt học tập mà còn là
sự gắn kết về mặt đạo đức, tâm lí, không chỉ có thế, nhóm học tập còn coi như
môi trường xã hội thu nhỏ.
Theo định hướng của phương pháp dạy học tích cực: tích cực hoá hoạt
động của người học thấy rằng quan hệ giữa người học với nhau đang là một vấn
Dạy học theo nhóm ở đây được coi là một phương pháp dạy học.
Những người tham gia trong nhóm phải có mối quan hệ tương hỗ, giúp đỡ và
phối hợp lẫn nhau. Nói cách khác là tồn tại tương tác “ mặt đối mặt ’’ trong
nhóm HS.
HS trong nhóm cùng thực hiện nhiệm vụ chung. Điều này đòi hỏi trước tiên
là phải có sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên
trong nhóm cần hiểu rằng họ không thể trốn tránh trách nhiệm, hay dựa vào
những người khác. Trách nhiệm cá nhân là then chốt đảm bảo cho tất cả các
thành viên trong nhóm thực sự tốt lên trong học tập theo nhóm.
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là một trong những phương
pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao và đã được sử dụng rất nhiều trong
dạy học ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương tây. Ở Việt Nam,
hiện nay theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, đây là một trong
những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở phổ thông.
9
Trong phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm, lớp học được chia thành
các nhóm nhỏ, tuỳ mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân
chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, cố định hay thay đổi trong từng phần của tiết
học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
1.3.2. Cơ sở của việc dạy học hợp tác theo nhóm
a. Cơ sở về mặt tâm lý
Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú
và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực, tính tích cực sản sinh tư duy
độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mống của sự sang tạo. Ngược lại, PP học tập
tích cực sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập.
Như vậy, để đạt được sự tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập thì
cần đảm bảo ba yếu tố quan trọng khởi đầu trong quá trình học tập là: nhu cầu,
động cơ và hứng thú. Dạy học hợp tác theo nhóm là phương pháp dạy học phù
hợp với cả ba yếu tố của người học.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, học sinh có cơ hội bộc lộ và thể hiện
mình về các mặt giao tiếp, làm việc hợp tác… cũng như có cơ hội rèn luyện, phát
triển các kĩ năng về các mặt đó. Đặc biệt, một số em học sinh có những nhược
điểm nhút nhát hay khả năng diễn đạt kém… sẽ có điều kiện rèn luyện, tập dượt,
từng bước khắc phục nhược điểm, khẳng định được mình trong tập thể.
Dạy học hợp tác theo nhóm tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau,
hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong các em góp phần đem lại
bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập.
Hiệu quả của hoạt động nhóm phụ thuộc vào hoạt động của từng thành
viên trong nhóm. Nếu có học sinh nào có thái độ xấu, bất hợp tác hay quá yếu
kém, không hoàn thành được phần việc của mình đều dẫn đến kết quả không tốt
hay sự chậm trễ chung của cả nhóm.
b. Về phía giáo viên.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên có vai trò là người tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động, là người cố vấn, gợi mở, khuyến khích và hỗ trợ việc
học của học sinh.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, yêu cầu về kĩ năng sư phạm của giáo
viên cũng mở rộng hơn so với các phương pháp dạy học truyền thống vì sẽ bao
gồm cả các kĩ năng về các mặt: xây dựng các hình thức thích hợp với hoạt động
nhóm; hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong khi các nhóm hoạt động nhóm; phát
triển cho học sinh kĩ năng phản ánh, trình bày quan điểm của mình,…
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, yêu cầu về đánh giá, xử lí thông tin từ
phía học sinh của giáo viên cũng cao hơn vì trong một thời gian ngắn, giáo viên
thu nhận được nhiều thông tin đa dạng từ các nhóm, cá nhân học sinh và những
thông tin này đều phải xử lí, đưa ra những kết luận phản hồi ngay.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, với trường hợp lớp quá đông học sinh
dẫn đến số các nhóm là nhiều, việc bao quát, kiểm soát các mặt, giúp đỡ từng
nhóm hoạt động hiệu quả cũng như trình bày, phản ánh tốt kết quả hoạt động
của nhóm sẽ là khó khăn lớn đối với giáo viên.
trình độ.
+ Nhóm cùng trình độ: được áp dụng khi cần có sự phân hoá về mức độ
khó, dễ của nội dung bài học cho từng đối tượng, thường chia thành bốn nhóm:
giỏi, khá, trung bình và yếu.
12
Giáo viên có thể có những yêu cầu khác nhau đối với từng nhóm trong cách
giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập, và có thể gợi ý cho nhóm yếu, đưa ra yêu
cầu cao hơn cho những nhóm khá, giỏi.
Ưu điểm: tác động đến từng đối tượng trong lớp, khuyến khích, động viên
các em, tạo hứng thú học tập cho cả lớp.
Nhược điểm: việc đánh giá đúng trình độ của học sinh để chia vào các
nhóm là rất khó khăn và phải thận trọng vì trình độ của học sinh có thể thay đổi
theo thời gian và đôi khi ranh giới chưa rõ ràng . Nếu cho học sinh khá vào
nhóm yếu, các em đó không cần cố gắng hoặc các học sinh yếu sẽ ỷ lại. Một
nhược điểm nữa là về mặt tâm lí đòi hỏi giáo viên phải hết sức khéo leo, tránh
tâm lí tự ti cho nhóm kém và tự kiêu cho nhóm giỏi.
+ Chia nhóm khác trình độ: thường đuợc sử dụng khi nội dung hoạt động
dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ: khi tổ chức thực hành ngoài lớp học,
ôn tập, vận dụng kiến thức vào thực tế. Trong trường hợp này, vai trò của nhóm
trưởng rất quan trọng, để phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
* Chia nhóm theo sở trường: thường được tiến hành trong các buổi ngoại
khoá, mỗi nhóm gồm nhũng học sinh có cùng sở trường, hứng thú.
Tóm lại, có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách đều có ưu và
nhược điểm riêng, giáo viên phải cân nhắc dựa vào mục tiêu bài học, loại bài
học, không gian học tập, trình độ, sở trường của học sinh để chọn cách chia
nhóm phù hợp.
1.3.6. Cơ cấu tổ chức và hoạt động nhóm
Cơ cấu tổ chức: Một nhóm thường gồm có:
+ Nhóm trưởng: Thường là người có kiến thức vững vàng, có năng lực lãnh
nhóm đều thực hiện xong tất cả các nhiệm vụ nhỏ.
+ Nhóm chuyên gia: Trong nhóm có một số thành viên có kiến thức tốt về
một số lĩnh vực được xem là chuyên gia, có vai trò tham mưu, cố vấn cho cả
nhóm về lĩnh vực ấy.
1.3.7. Quá trình tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm
Trong tài liệu lí luận cơ bản về dạy và học tích cực của giáo sư Trần Bá
Hoành và một số tác giả khác đã đưa ra và cụ thể hoá cấu tạo một tiết học (hoặc
một buổi làm việc) theo nhóm như sau:
1. Làm việc chung của cả lớp.
+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
+ Tổ chức các nhóm làm việc thông báo thời gian.
+ Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm để việc thảo luận đạt hiệu quả. Giáo
viên cần xác định mục đích chỉ dẫn nhiệm vụ cần thực hiện ấn định thời gian,
nghĩa là học sinh phải hiểu ý nghĩa, mục đích việc sắp làm, nắm vững các bước
thực hiện và biết trước thời gian cần thực hiện nhiệm vụ bao lâu.
2.Làm việc theo nhóm.
+ Phân công trong nhóm.
14
+ Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm.
+ Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Sau khi xác định nhiệm vụ cần thực hiện học sinh thực hiện theo nhiệm vụ cá
nhân, sau đó trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm để rút ra vấn đề chung cuối
cùng đại diện nhóm báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình.
3. Thảo luận tổng kết trước lớp.
+ Các nhóm báo cáo kết quả.
+ Thảo luận chung.
+ Giáo viên nhận xét, bổ xung, tổng kết khi thời gian thảo luận kết thúc
giáo viên tổ chức để đại diện các nhóm báo cáo kết quả thảo luận trước lớp, các
nhóm khác nhận xét, bổ xung.
thể hiện, tự khẳng định khả năng của mình nhiều hơn. Đặc biệt, khi HS học theo
nhóm thì kết quả học tập thường cao hơn, hiệu quả làm việc tốt hơn, khả năng ghi
nhớ lâu hơn. Nhóm làm việc còn cho phép các em thể hiện vai trò tích cực đối với
việc học của mình - hỏi, biểu đạt, đánh giá công việc của bạn, thể hiện sự khuyến
khích và giúp đỡ, tranh luận và giải thích…rất nhiều kĩ năng được hình thành như:
biết đưa ra ý tưởng của mình trong môi trường cùng phối hợp, giải thích, học hỏi
lẫn nhau bằng ngôn ngữ và phương thức tác động qua lại. Hay nói cách khác, HS
trở thành chủ thể đích thực của hoạt động học tập của cá nhân.
Phát triển năng lực cộng tác làm việc: cộng tác làm việc là phương
pháp làm việc được HS ưa thích. HS được luyện tập những kĩ năng cộng tác làm
việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến những người khác và tính khoan
dung.
Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội: dạy học nhóm là quá trình
học tập mang tính xã hội. Học sinh học tập trong mối tương tác lẫn nhau trong
nhóm, có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và không
cảm thấy phải chịu áp lực của GV.
Phát triển năng lực giao tiếp: thong qua cộng tác làm việc trong
nhóm, giúp HS phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và
phế phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
Tăng cường sự tự tin cho HS: vì học sinh được liên kết với nhau qua
giao tiếp xã hội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc phải sai lầm. Mặt khác,
thông qua giao tiếp sẽ giúp khắc phục sự thô bạo, cục cằn.
Phát triển năng lực phương pháp: thông qua quá trình tự lực làm việc
và làm việc nhóm giúp HS rèn luyện phát triển phương pháp làm việc.
Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá: lựa chọn nhóm theo
hứng thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên, các đòi hỏi như nhau hay khác nhau
về mức độ khó khăn, các học tập như nhau hay khác nhau, phân công công việc
như nhau hoặc khác nhau, nam HS và nữ HS làm bài cùng nhau hay riêng rẽ.
Nâng cao kết quả học tập: những nghiên cứu so sánh kết quả học tập
của Hs cho thấy rằng, những trường học đạt kết quả dạy học đặc biệt tốt là
riêng, để vẫn đảm bảo dạy và học theo phân phối chương trình vào trong các tiết
học chính khóa như hiện nay, GV cần căn cứ vào nội dung kiến thức cần xây
dựng từ đó có thể thiết kế tiến trình DH theo nhóm cho nội dung cả bài hoặc có
thể chỉ một đơn vị kiến thức trọng tâm nào đó của bài.
+ Không gian lớp học phù hợp với cách chia nhóm.
+ Thiết bị đồ dùng, phương tiện dạy học và tư liệu đảm bảo đầy đủ.
+ Giáo viên: GV nhiệt tình, tích cực, có năng lực về chuyên môn, năng lực
tổ chức DH tích cực và kĩ năng thiết kế tổ chức DH hợp tác theo nhóm.
+ Học sinh: Số lượng HS phù hợp với không gian lớp học.
17
1.4. Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm
trong dạy học Toán ở một số trường trung học phổ thông
Để tìm hiểu thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo
nhóm trong dạy học Toán ở một số trường trung học phổ thông, tôi tiến hành
điều tra trên hai đối tượng:
Giáo viên: Trường THPT Trần Quốc Tuấn (Quảng Yên, Quảng Ninh)
Học sinh các lớp : 10A
1
, 10A
2
, 11A
1
, 11A
2
, 11A
3
, 12A
1
, 12A
+
+ 2
Tăng Đình Hương
7
+
+ 3
Nguyễn Minh Nguyệt
7
+
+
bước lên lớp và phương pháp giảng dạy bộ môn đều nắm vững.
Về trình độ đào tạo thì 100% GV được đào tạo hệ Đại học chính quy.
Về chất lượng giảng dạy đa số giáo viên đạt chất lượng giảng dạy loại giỏi.
Đặc biệt cũng có một số giáo viên đạt chất lượng giảng dạy loại giỏi và đạt danh
hiệu dạy giỏi ở các cấp, tuy số lượng chưa nhiều nhưng nó cũng đóng vai trò
tích cực trong việc cổ vũ động viên các nhà giáo không ngừng học hỏi để nâng
cao tay nghề.
18
Bảng 2. Đánh giá mức độ tổ chức hoạt động nhóm của GV.
Câu hỏi
A
B
C
D
E
Câu 2
100%
0%
0%
0%
0%
Câu 3
20%
60%
20%
0%
0%
Nhận xét: Tất cả các GV có tổ chức hoạt động nhóm trong giờ dạy học toán cho
24
2
0
13
14
10
2
10A
2
32
1
13
16
2
0
16
11
5
3
11A
1
45
0
12
29
4
0
12
20
13
27
5
0
12
21
14
7
12A
2
48
1
17
28
2
0
28
14
6
Nhận xét: Về phía học sinh qua phát phiếu điều tra, quan sát tôi có một số nhận
định ban đầu như sau: Đa số các em có học lực khá (32%), trung bình (58,4%)
các em có hứng thú khi học toán chiếm tỉ lệ cao.
19
Bảng 4: Đánh giá mức độ hoạt động nhóm của HS.
Câu hỏi
A
B
C
D