1.3.4. Một số loại quỹ khác 5
1.4 Đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán 6
Chương 2: Thực trạng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam 15
I. Sự cần thiết hình thành quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam 15
3.4 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay 26
3.5 Thực trạng 1 số Quỹ đầu tư ở Việt Nam 32
III. Đánh giá chung về hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán: 42
Chương III. Định hướng và giải pháp phát triển quỹ đầu tư tại Việt Nam 45
1. Một số định hướng để hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam 45
Mở đầu
Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế đang diễn ra mjanh mẽ như hiện nay thì nhu cầu
về vốn để đẩy mạnh phát triển kinh tế, tránh tụt hậu là vấn đề cần thiết đới vói mỗi nước. Để
huy động một cách tối đã,ngoài sự gọp mặt của ngân hàng còn có một số tổ chức phi ngân
hàng khác điểm hình là Quỹ đầu tư chứng khoán, một định chế tài chính trung gian tham gia
hoạt động kinh doanh trên thị trường đặc biệt là trên thị trường chứng khoán. Quỹ đầu tư
chứng khoán tham gia thị trường với hai tư cách:tư cách là tổ chức phát hành, phát hành ra
các chứng chỉ quỹđầu tư để thu hút vốn và tư cách là tổ chức đầu tư dùng tiềnthu hút được để
đầu tư chứng khoán. Trên thế giới hiện nay có khoảng hàng chục nghìn Quỹ đầu tư đang hoạt
động cung cấp cho các nhà đầu tư. Nhờ đó mà tỷ trọng tham gia thị trường chứng khoán của
các quỹ ngày càng tăng so với nhà đầu tư cá nhân. Quỹ đầu tư chứng khoán đã thực sự trở
thành một định chế tài chính trung gian ưu việt trên thị trường chứng khoán, làm cho thị
trường phát triển, nhất là trong giai đoạn đầu hình thành vì sự có mặt của nó sẽ tạo cho công
chúng thói quen đầu tư. Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để thu hút rộng rãi công
chúng tham gia đầu tư, tăng quy mô vốn thị trường thông qua tạo lập các Quỹ đầu tư chứng
khoán là rất cần thiết. Xuất phát từ các lợi ích mà Quỹ đầu tư chứng khoán mang lại cho các
nhà đầu tư công chúng, việc nghiên cứu để có những chính sách,biện pháp thúc đẩy loại hình
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam sẽ góp phần thiết thực tìm ra các giải pháp trên. Sự phát
triển của loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chứng
khoán trong tương lai để thị trường chứng khoán Việt Nam phát huy được vai trò thực sự
trong việc chuyển tiết kiệm trong nền kinh tế thành đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
1.3. Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán
1.3.1. Căn cứ vào hình thức huy động vốn
Có thể huy động vốn qua 2 hình thức là quỹ đầu tư tập thể và quỹ đầu tư tư nhân
- Quỹ đầu tư tập thể: là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi chứng chỉ
quỹ đầu tư ra công chúng. Những người đầu tư vào quỹ này có thể đa số là các thể nhân, các
tổ chức kinh tế nhưng đa phần là các nhà đầu tư cá nhân, ít có kiến thức về thị trường chứng
khoán. Qũy tập thể cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa
đầu tư, giảm mức độ rủi ro, chi phí đầu tư thấp và hiệu quả đầu tư đảm bảo do tính chuyên
nghiệp của đầu tư mang lại.
- Quỹ đầu tư tư nhân: là quỹ huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho
một số nhóm nhỏ nhà đầu tư có thể được lựa chọn trước, là các thể nhân, các định chế tài
chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. Các nhà đầu tư vào quỹ này thường góp vốn với quy mô
lớn nhưng họ cũng đòi hỏi các yêu cầu về quản lỹ quỹ rất cao. Họ sẵn sàng chấp nhận khả
năng thanh toán thấp nhưng các quỹ này thường tham gia kiểm soát hoạt động của các công
ty nhận vốn đầu tư. Việc kiểm soát này có thể dưới hình thức là thành viên hội đồng quản trị ,
cung cấp tư vấn hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các thành viên hội đồng quản trị của công ty
nhận vốn đầu tư.
1.3.2. Căn cứ vào mục đích đầu tư
Các quỹ thường được thành lập với các mục tiêu cụ thể tương ứng với 3 loai quỹ sau:
- Quỹ thu nhập (Income Fund)
Để có được thu nhập ổn định quỹ dành phần lớn vốn để đầu tư vào trái phiếu và vào
cổ phiếu ưu đãi là những công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn định.
- Quỹ tăng trưởng-thu nhập (Growth-income Fund)
Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có giá cao đồng thời có mức cổ tức ổn
định. Loại quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trong dài hạn và dòng thu nhập ổn
định trong ngắn hạn.
- Quỹ tăng trưởng (Growth Fund)
Quỹ đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt. Mục tiêu chính là tăng
giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức thu được. Người đầu tư vào các
quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu tăng lên hơn là khoản thu nhập từ cổ tức.
- Quỹ đầu tư linh hoạt (Flexible Porfolio)
Quỹ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ trên thị trường tiền tệ tuỳ thuộc
vào điều kiện của thị trường. Người quản lý quỹ có quyền được thay đổi linh hoạt danh mục
đầu tư để đáp ứng những biến động trên thị trường.
- Quỹ ngành (Sector Fund)
Các Quỹ ngành tập trung vào các cổ phiếu của một ngành công nghiệp cụ
thể nào đó. Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các
ngành này đều có thể mang đến cho nhà đầu tư nào đầu tư đúng hướng cơ hội có những
khoản lợi nhuận lớn.
1.4 Đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán
Mô hình quỹ đầu tư chứng khoán có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quỹ đầu tư chứng khoán luôn dành đa số vốn đầu tư của Quỹ để đầu tư vào
chứng khoán. Đặc điểm này phân biệt quỹ đầu tư chứng khoán với các loại quỹ đầu tư khác.
Quỹ có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng và hợp lý theo quyết định của các nhà đầu tư
nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP quy
định quỹ đầu tư chứng khoán phải dành tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào lĩnh vực
chứng khoán. Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán cũng có
thể tiến hành đầu tư vào những lĩnh vực khác như góp vốn, kinh doanh bất động sản v.v
Thứ hai, quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi
công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Nói một cách khác, các nhà đầu tư đã uỷ thác cho
công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán việc quản lý quỹ và tiến hành hoạt động đầu tư
chứng khoán từ số vốn của quỹ. Công ty quản lý quỹ có thể cử ra một cá nhân chịu trách
nhiệm thực hiện việc quản lý quỹ gọi là nhà quản trị quỹ. Nhà quản trị được chọn thường
phải là người có thành tích và được sự ủng hộ của đa số nhà đầu tư. Để đảm bảo công ty quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán tiến hành hoạt động đúng như mong muốn của các nhà đầu tư,
quỹ đầu tư chứng khoán cần phải có một ngân hàng giám sát. Ngân hàng này sẽ thay mặt các
nhà đầu tư để giám sát cũng như giúp đỡ quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động đúng mục tiêu
mà các nhà đầu tư đã đề ra, tránh tình trạng công ty quản lý quỹ tiến hành các hoạt động đi
ngược lại lợi ích của nhà đầu tư.
Thứ ba, quỹ đầu tư chứng khoán có tài sản độc lập với tài sản của công ty quản lý quỹ
chứng khoán tăng, phản ánh giá trị thực của chứng khoán.Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội
hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư
nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng
đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ.
1.5.3. Với người đầu tư và người nhận đầu tư
1.4.3.1. Quỹ đầu tư chứng khoán cung cấp cho những nhà đầu tư riêng lẻ những thuận lợi cơ
bản để giúp họ đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích
Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu tư chứng
khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm giữ vào bất cứ lúc nào
cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc trên thị trường thứ cấp (đối với Quỹ
đóng) để thu hồi vốn. Giá bán chứng chỉ quỹ thay đổi phụ thuộc vào thay đổi của tổng giá trị
tài sản danh mục của Quỹ đầu tư phát hành ra cổ phiếu. Đặc biệt, chứng chỉ, cổ phiếu của các
Quỹ thị trường tiền tệ có tính thanh khoản rất cao, người sở hữu cổ phiếu có thể bán lại cổ
phiếu bất cứ lúc nào trên thị trường mà giá cả biến động rất ít. Do vậy, trong tài sản của các
công ty, cổ phiếu Quỹ thị trường tiền tệ được coi như tương đương với tiền.
Đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro. Bằng việc sử dụng tiền thu được từ
những nhà đầu tư để đầu tư phân tán vào danh mục các chứng khoán, các Quỹ đầu tư làm
giảm rủi ro cho các khoản đầu tư và làm tăng cơ hội thu nhập cho các khoản đầu tư đó.
Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Thay cho việc người đầu tư phải đi
thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư vào một quỹ với chi phí giảm đi
rất nhiều. Tiền tập hợp trong các Quỹ đầu tư chứng khoán được đặt dưới sự quản lý của các
nhà đầu tư chuyên nghiệp - các công ty quản lý quỹ. Các chuyên gia của quỹ hay công ty
quản lý quỹ sẽ tìm hiểu thị trường, đánh giá cơ hội tốt nhất để mua chứng khoán, quản lý
danh mục đầu tư thường xuyên, xác định chính xác thời điểm để mua bán chứng khoán.
Trong các quỹ thường có các cán bộ nghiên cứu, những người quản lý danh mục đầu tư, họ
biết được các công ty hay khu vực thị trường nào hoạt động hiệu quả. Không những thế, các
chuyên gia còn có khả năng thâm nhập tới nhiều nguồn thông tin, nguồn hàng hơn bất kì một
người đầu tư cá nhân nào.
Tiết kiệm chi phí đầu tư. Vì là những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên
nghiệp, Quỹ đầu tư chịu chi phí giao dịch thấp hay được hưởng những ưu đãi về phí giao dịch
đầu tư. Ngoài cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các công ty quản lý quỹ đầu tư còn có dịch vụ
cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ
với các tổ chức tài chính và doanh nghiệp khác. Điều này có lợi cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, các doanh nghiệp mới thành lập ít bạn hàng, thiếu thông tin về thị trường.
1.5.4. Xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán, giúp phát huy nội lực nền kinh tế
Quỹ đầu tư chứng khoán tạo ra phương thức đầu tư hấp dẫn thích hợp với những nhà đầu tư
nhỏ lẻ, ít chuyên môn
Quỹ đầu tư chứng khoán là một định chế tài chính rất phát triển tại nhiều nước trên thế giới
2. Quỹ đầu tư ở 1 số nước trên thế giới
2.1 Thực trạng phát triển quỹ đầu tư tại Mỹ
Thị trường chứng khoán Mỹ là nơi có quỹ đầu tư rất phát triển. Các quỹ đầu tư hoạt động
theo cả hai mô hình dạng công ty và dạng tín thác đầu tư, trong đó quỹ đầu tư dạng công ty
đặc biệt là các quỹ đầu tư dạng mở chiếm ưu thế trong ngành quỹ đầu tư tại Mỹ.
Theo luật công ty đầu tư 1940, quỹ đầu tư tập thể tại Mỹ bao gồm các loại hình chính sau:
- Công ty phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá( Face amunt Certificate)
Đến nay loại hình công ty này hầu như không còn tồn tại nữa. các nhà đầu tư vào công ty
phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá phải trả một khoản cố hình hàng tháng cho công ty đầu tư
để đầu tư số tiền đó vào các công cụ nợ có chất lượng cao nhất như các công cụ nợ của chính
phủ Mỹ và các trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ xếp hạng AAA.
- Công ty quản lý ( Managerment Company)
Đây là 1 lạo quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần phổ thông ra
công chúng. Bản thân công ty không trực tiếp tiến hành hoạt động đầu tư mà phải sử dụng
nhà tư vấn đầu tư hay quản lý đầu tư để quyết định lạo chứng khoán nào sẽ đữa danh mục
đầu tư của quỹ. Công ty đầu tư này có hội đồng quản trị thay mặt các cổ đông thực hiện việc
giám sát đầu tư và ký kết các hợp đồng có liên quan tới hoạt động đầu tư của quỹ với các tổ
chức khác.
Công ty quản lý được cấu trúc dưới 2 dạng: Cty đầu tư dạng mở và dạng đóng.
- Đơn vị tín thác đầu tư ( Unit Incestment Trust)
Đây là một dạng quỹ đầu tư được tổ chức theo kiểu : “ hợp đồng tín thác” thay vì lập công
ty. Quỹ phát hành “ đơn vị chứng chỉ hướng lợi” thể hiện cho phần lợi ích đới với các loại
kiểu công ty gọi là “ công ty đầu tư chứng khoán”.
Quỹ tín thác đầu tư theo cả hai kiểu là kiểu hợp đòng và kiểu công ty được chia ra thành kiểu
quỹ mở và kiểu quỹ đóng phụ thuộc vào việc nhà đầu tư có hay không quyền yêu cầu mua lại
chứng chỉ hưởng lợi hoặc chứng chỉ đầu tư. Hầu hết tất cả các quỹ tín thác đầu tư kiểu hợp
đồng hiện có ở Nhật Bản là kiểu quỹ mở. Tuy nhiên, theo nghĩa mà các chứng chỉ hưởng lợi
được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán trên khắp nước Nhật, quỹ tín thác
đầu tư được niêm yết có mỗi liên hệ với chỉ số Nikkei 300 và được thiết lập vào năm 1995
có thể được gọi là kiểu quỹ đóng. Quỹ quốc gia ( Một quỹ tín thác đầu tư nước ngoài kiểu
công ty) được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Osaka là một kiểu quỹ đóng.
Các quỹ tín thác đầu tư được hình thành ở Nhật Bản chịu sự điều hành của luật tín thác đầu tư
chứng khoán tháng 6/1951. Bản thân các quỹ này không hình thành 1 cách tự phát như ở các
nước Châu Âu mà là một văn phạm do chính phủ đưa ra nhằm thuyết phục “ một chính sách
được xây dựng để nhân dân mua một lượng lớn cổ phiếu do “ Zabatni” ( Tên gọi một tập
đoàn kinh doanh lớn trước chiến tranh) phát hành bị liên minh các Đảng cầm quyền phá
vỡ( được gọi là phổ thông hóa việc sở hữu chứng khoán) và giúp cho các ngành thiếu tiền lập
quỹ.
Do luật tín thác đầu tư xây dựng theo kiểu đầu tư trước chiến tranh, nên nó lấy theo mầu tín
thác đầu tư theo kiểu đơn vị tín thác.
2.3 Quỹ đầu tư tại Trung Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á.
Ở TQ các quỹ đầu tư – Công ty CITIC- mục đích công ty này là đầu tư vào các công ty ngoại
quốc lơn ở Hồng Kông để ổn định chính trị và nắm giữ quyền lợi kinh tế tại Hồng Kong sau
năm 1997 khi Anh quốc trao trả chủ quyền của vùng đất này. Công ty CITIC chiếm giữ một
vị trí quan trọng chủ yếu trong nền kinh tế Hồng Kong, sở hữu cổ phần lớn nhất tại Công Tu
Hàng không Cathay Pacific, Công ty điện thoại và các công ty quan trọng chủ yếu của Hồng
Kong. Chẳng những vậy, quỹ đầu tư CITIC còn là phương tiện để chính phủ TQ tham gia đầu
tư ra nước ngoài qua các dự án có lời cao và đặc biệt đối với các lĩnh vực giúp giải quyết cho
TQ các nguồn nguyên liệu mà họ cần trong việc sản xuất trong nước.
Ở Thái Lan, năm 1975 công ty quỹ tập thể ( Mecnutal fund Company-MFC) là công ty quản
lý đầu tiên duy nhất được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực hoạt động quản lý. Công ty
MFC là liên doanh giữa chính phủ Thái Lan và công ty Tài chính quốc tế. Tới cuối năm
- Tại Trung Quốc:
+ Quỹ đầu tư lớn nhất được phát triển bởi nhà nước với mục đích vì cả kinh tế và chính trị, cả
trong và ngoài nước.
- Tại Thái Lan:
+ Các quỹ đầu tư được sở hữu bởi công ty quỹ tập thể
+ Năm 1997 có đến 97% quỹ dạng đóng đến 1998 chỉ còn 61%
+ Từ sau khửng hoảng tài chính 1997, các quỹ đầu tư có khuynh hướng hướng vào các công
cụ tài chính có thu nhập cố định hơn là cổ phiếu như trước đây.
- Tại Malaixia:
+ Chính phủ thành lập Công ty quản lý độc lập theo sự chỉ đạo của chính phủ
+ Quỹ này được chia thành các quỹ nhỏ hoạt động chuyên biệt theo từng ngành để giúp
người dân Malaixia làm chủ cổ phần thông qua hoạt động của quỹ
- Tại Singapore:
+ Quỹ được thành lập bới Chính phủ với mục tiêu phát triển nước mình trong tương lai với
lượng vốn khổng lồ và các hoạt động liên doanh ngoại quốc, đầu tư nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng phát triển quỹ đầu tư chứng
khoán ở Việt Nam
I. Sự cần thiết hình thành quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
Tại sao nhà đầu tư sử dụng quỹ đầu tư?
Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 5 yếu tố:
o Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư
o Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận
o Được quản lý chuyên nghiệp
o Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
o Tính năng động của quỹ đầu tư.
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường non trẻ, Từ những ưu điểm của quỹ đầu
tư và sự góp mặt của các quỹ đầu tư vào sự phát triển của các thị trường chứng khoán lớn trên
thế giới, thì sự xuất hiện của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất cần
thiết.
Đối với nhà đầu tư :
1. Lịch sử hình thành ( cơ sở pháp lý hình thành)
Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là kể từ khi Luật
đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 2 năm 1998, hàng loạt công ty đầu tư nước ngoài
đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Cùng với làn sóng đầu tư đó, trước năm 1993 khi có thông
tin về sự hình thành của thị trường chứng khoán Việt Nam, một số Quỹ đầu tư cũng đã được
thành lập. Giai đoạn đầu các quỹ đầu tư muốn hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt
Nam phải liên doanh với một doanh nghiệp Việt Nam chứ không được phép thành lập và đầu
tư trực tiếp vào thị trường.
Đây là các quỹ đầu tư tư nhân thành lập ở nước ngoài nhưng được phép vào hoạt động có hạn
chế ở Việt Nam.
- Tháng 10 năm 1991 : Vietnam Fund
- Tháng 06 năm 1992 : Vietnam Keppel Fund (The Vietnam Investment Fund Ltd.)
- Tháng 08 năm 1993 : Beta Vietnam Fund
- Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Frontier Fund
- Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Enterprise Investment Fund
- Tháng 09 năm 1994 : Templeton Vietnam Opportunities Fund
- Tháng 10 năm 1994 : Lazard Vietnam Fund
Tất cả các quỹ này đều được niêm yết ở Dublin, Ireland do lệnh cấm vận Việt Nam của Mỹ
trước tháng 9 năm 1994. Sau khi dỡ bỏ lệnh cấm vận, Templeton Vietnam Opportunities
Fund được thành lập và niêm yết ở New York Stock Exchange.
Cuối năm 1994, mặc dù số vốn các quỹ huy động chưa được đầu tư hoàn toàn nhưng giá giao
dịch của các quỹ trên tất cả các thị trường chứng khoán đều được giao dịch ở mức Premium.
Đây là thời gian các quỹ phát triển rất mạnh mẽ do thực tế năm 1993, 1994 là những năm cao
điểm của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận là một trong những
lý do chính đem lại sự thành công vang dội này. Chính vì vậy, cổ phiếu của các quỹ đều được
giao dịch ở mức Premium.
Công ty quản lý quỹ Mekong Capital được thành lập vào tháng 5/2001 và chính thức đi vào
hoạt động tư năm 2002, là công ty quản lý đầu tư đầu tiên tại Việt Nam. Mekong Capital hiện
đang quản lý 3 quỹ gồm Mekong Enterprise Fund, Ltd- MEF, Mekong Enterprise Fund, Ltd-
MEF II và Vietnam Azalea Fund – VAF.
với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư
khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với
việc ra quyết định đầu tư của quỹ.
Theo quy định của Luật chứng khoán 2006, quỹ đầu tư chứng khoán được chia thành hai loại
theo tiêu chí về số lượng thành viên và cách thức góp vốn, theo đó, quỹ đầu tư chứng khoán
bao gồm quỹ đại chúng và quỹ thành viên.
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng.
Quỹ đại chúng thường có số lượng nhà đầu tư tham gia đông đảo, trong đó có nhiều nhà đầu
tư không chuyên nghiệp và các nhà đầu tư nhỏ. Quỹ đại chúng là mô hình tạo điều kiện thu
hút những nguồn vốn nhàn rỗi nhỏ thành một lượng vốn lớn để đầu tư chứng khoán có hiệu
quả. Quỹ đại chúng có hai loại là quỹ mở và quỹ đóng.
Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại
theo yêu cầu của nhà đầu tư. Quỹ mở luôn có số vốn và số chứng chỉ quỹ biến động. Chứng
chỉ quỹ mở có tính thanh khoản cao nhưng việc quản trị khá phức tạp, thường thích hợp với
những thị trường chứng khoán phát triển.
Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua
lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. Mô hình quỹ đóng có số vốn đầu tư ổn định hơn so với quỹ
mở, nhưng khả năng huy động thêm vốn hạn chế hơn.
Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt
quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân. Quỹ thành viên thích hợp với
những nhà đầu tư chuyên nghiệp, có lượng vốn góp lớn. Ngoài ra, quỹ thành viên còn khác
quỹ đại chúng ở những điểm sau đây:
Quỹ thành viên không phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng.
Quỹ thành viên không chịu nhiều sự ràng buộc về giới hạn đầu tư như quỹ đại chúng.
Quỹ thành viên không bắt buộc phải có ngân hàng giám sát.
So với nhà đầu tư của quỹ đại chúng, thành viên của quỹ thành viên có vai trò lớn hơn trong
hoạt động điều hành quỹ.
*NGHỊ ĐỊNH SỐ 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 1 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một
số điều của luật chứng khoán.
*LUẬTSỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN
3. Quá trình hoạt động và phát triển của các Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
3.1 Giai đoạn 2000 - 2004
Sự ra đời và phát triển các quỹ đầu tư ở VN
Mặc dù UBCK nhà nước đã ban hành những văn bản pháp quy về QĐT chứng khoán từ khi
trung tâm gioa dịch TPHCM chưa chính thức đi vào hoạt động nhưng cho đến khi nó chính
thức đi vào hoạt động thì cũng chưa có một quỹ đầu tư nào của VN đi vào hoạt động. Trong
khi đó các QĐT cảu nước ngoài đã đi vào hoạt động từ trước khi thị trường chứng khoán Việt
Nam ra đời và đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trướng mới mẻ này.
Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là :
Việt Nam chưa có kinh nghiệm và kiến thức hoạt động trên thị trường chứng khoán chung và
tổ chức hoạt động của các QĐT chứng khoán nói riêng. Do đó sự xuất hiện và hoạt động của
các QĐT nước ngoài sẽ đem lại cho chưng ta những kiến thức kinh nghiệm trong việc khai
thác quản lý và phát triển thị trường mới mẻ đầy tiềm năng này.
Các quỹ đầu tư nước ngoài có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn của Việt Nam, trong
khi các tổ chứng cũng như các nhân các nhà đầu tư VN còn ít ỏi và thiếu kinh nghiệm và
lượng vốn không lớn để có thể tham gia đầu tư vào một thị trường hoàn toàn mới này.
QĐT chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam
Một số QDDT nước ngoài hoạt động tại VN như : Laza Vietnam Fund, Vietnam frontier,
Vietnam fund, Vietnam Enterprise Investment Ltd Co… Các QĐT nước ngoài đã phần nào
đáp ứng nhu cầu về vốn của nước ta. Khi mà thị trường chứng khoán VN mới ở giai đoạn sơ
khai chưa cho phép một mức giao dịch năng động chứng khoán chỉ đầu tư do quỹ phát hành
Một số đặc điểm cơ bản của các QĐT nước ngoài tại VN :
Là các QĐT tư nhân : người đầu tư góp vốn lập quỹ đầu tư và giao dịch việc quản lý được
giao cho các công ty quản lý quỹ. Quỹ đưa vào hoạt động tại Việt Nam dưới dạng các khoản
đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp.
Đây là các QĐT dạng đóng
Phương thức đầu tư đa dạng : các quỹ đầu tư bằng cách mua cổ phiếu của các công ty. Một
số quỹ còn tập trung để có được cổ phiếu kiểm soát của các công ty .
Các QĐT này đầu tư vào VN với mục đích đầu tư dài hạn tuy nhiên với những điều kiện
pháp lý ngặt nghèo thiếu đồng bộ đã khiến cho một số quỹ phải bỏ cuộc. Đa số các quỹ đầu
đầu tư chứng khoán Việt Nam- VMF”. Quỹ có thời gian hoạt động : 30 năm(từ 2003-2033).
Phạm vi hoạt động đó là quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư. Công ty có cơ cấu vốn :
Vốn huy động là : 16 tỷ đồng
Vốn pháp định là : 8 tỷ đồng
Công ty đã ký hợp đồng quản lý nhận quản lý 50 tỷ đồng vốn ủy thác đầu tư đầu tiên từ ngân
hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín- SACOM bank đối tác chiếm 70% vốn trong
công ty VMF
Ngân hàng Ngoại thương được chọn là ngân hàng giám sát và chọn công tu kiểm toán
EARNT và Young VN làm đơn vị kiểm soát độc lập, điều đó thể hiện công ty cam kết thực
hiện quản lý đầu tư một cách chuyên nghiệp và có đẩm bảo chất lượng và uy tín cao.
VF1 – Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam
Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam là quỹ đầu tư chứng khoán đóng, được thành lập ngày
24/03/2004 theo Giấy phép lập quỹ và phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng số 01/GP-
QĐT của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Quỹ VF1 có vốn điều lệ là 300 tỷ
đồng, thu hút 1064 nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước tham gia. Trong đó tỷ
lệ tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài là 22%. Ngoài 60% vốn điều lệ được sủ dụng để
đầu tư vào chứng khoán, 25% cổ phiếu, nguồn vốn của quỹ còn được đầu tư vào các lĩnh vực
khác như bất động sản, tài chính, ngân hàng, du lịch, ngành chế biến nông- lâm – thủy hải sản
…
VF1 đã chọn cơ cấu vốn 22,62% vào cổ phiếu niêm yết, 18,59% vào cổ phiếu chưa niêm yết,
25,19% vào trái phiếu, 24,74% vào các công cụ tiền gửi ngân hàng, cổ phiếu mà VF1 đầu tư
là các cổ phiếu có chất lượng.
3.2 Giai đoạn 2004-2006
Về quy mô của các quỹ đầu tư
Năm 2005-2006 là khoảng thời gian thành công với TTCK Việt Nam và đánh dấu sự khởi
sắc, sôi động của nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam khi các quỹ đầu tư
nước ngoài đua nhau tăng vốn, nhiều tập đoàn tài chính lớn đã đến Việt nam để tìm cơ hội
đầu tư. Trong tương lai, các cty quản lý quỹ trên đang hướng đến thành lập những quỹ có quy
mô vốn lớn hơn và thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài để đầu tư vào Việt Nam.
Các quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Sự đầu tư
quyết định đầu tư và góp phần tái cấu trúc Công ty Kiến trúc và trang trí nội thất AA, khoản
đầu tư 1,5 triệu USD vào Công ty Nhựa Tân Đại Hưng, Công ty Tin học Lạc Việt và gần đây
nhất là khoản đầu tư 1,3 triệu USD vào Công ty Gỗ Đức Thành. Đứng thứ hai là Vietnam
Opportunity Fund (VOF) với mức tăng trưởng đạt 25%/năm với lĩnh vực đầu tư chủ yếu là
dịch vụ tài chính (20%), hàng tiêu dùng - thực phẩm (23%), bất động sản (7,2%), giáo dục
(4,2%). Qua 2 năm hoạt động, 90% số vốn của Quỹ này với tổng vốn đạt 40 triệu USD đã
được giải ngân vào hơn 30 công ty với danh mục đầu tư tiêu biểu gồm Vinamilk, Ngân hàng
Phương Nam, Kinh Đô miền Bắc, Kinh Đô miền Nam. Quỹ VEIL đầu tư hơn 50% tài sản
vào những công ty niêm yết và sắp niêm yết trên thị trường thuộc lĩnh vực kinh doanh bất
động sản. Qua 10 năm hoạt động đã đầu tư tổng số 1.500 tỷ đồng với mức tăng trưởng bình
quân 4-5 năm trở lại đây đạt 10%/năm, riêng năm 2004 đạt mức tăng trưởng 15%/năm. Trong
suốt 10 năm hoạt động vừa qua, Các quỹ đầu tư của Dragon Capital không có doanh thu
trong 03 năm đầu, bắt đầu sinh lời trong 4 năm tiếp theo và nay hoạt động của Quỹ đã ổn
định ở mức tăng trưởng lợi nhuận trung bình năm đạt 10%/năm. Quỹ VF1 là quỹ đầu tư trong
nước đầu tiên được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Được cấp phép thành lập vào
ngày 24/03/2004, với số vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, giá trị tài sản ròng của một đơn vị quỹ
VF1 là 10.300 đồng. Đến tháng 12/2004, giá trị tài sản ròng của một đơn vị quỹ là 10.158
đồng với tổng lợi nhuận 07 tháng cuối năm 2004 là 4,73 tỷ đồng. Năm tháng đầu năm
2005, tình hình hoạt động cũng chưa được cải thiện với giá trị đơn vị quỹ là 10.362 đồng.
Tuy kết quả hoạt động chưa mấy khả quan, nhưng một phần nguyên nhân chính là việc Quỹ
VF1 đã thua lỗ 3 tỷ đồng khi đầu tư vào cổ phiếu BBT. Về tổng thể, hầu hết các doanh
nghiệp mà VF1 đầu tư đều tăng trưởng cao. Thêm vào đó, Quỹ đầu tư VF1 đã có đứng ra trực
tiếp thực hiện dự án tái cơ cấu lại BBT nhằm cắt giảm thua lỗ và tiến đến có lãi trong năm
2005. Lợi nhuận ròng của Quỹ chưa tính các khoản trừ chi phí khác vào cuối năm 2005
đạt khoảng 10%. Với những cơ hội đầu tư từ quá trình cổ phần hoá DNNN và sự phát triển
của TTCK , Quỹ đầu tư VF1 đã nâng vốn điều lệ của Quỹ thêm 200 tỷ đồng, nâng tổng vốn
điều lệ lên 500 tỷ đồng theo giấy phép số 468/QĐ-UBCKNN do UBCKNN cấp ngày
05/07/2006. Ngày 14/11/2006, Chủ tịch UBCKNN đã cấp phép niêm yết bổ sung chứng chỉ
Quỹ đầu tư VF1 trên TTGDCK Tp. HCM theo số 694/QĐ-UBCK. Tổng số lượng chứng chỉ
quỹ là 20 triệu đơn vị đã được giao dịch chính thức vào ngày 16/10/2006 và 20/11/2006. Qua
31/12/2007 137 407 3
31/12/2008 170 68 4
Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước
Về số lượng, các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư chứng khoán có sự tăng trưởng khá
cao trong giai đoạn này nhưng nếu xét tương quan giữa các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu
tư chứng khoán được duyệt thành lập thì trong 25 công ty quản lý quỹ hoạt động năm 2007
chỉ huy động và quản lý được 16 quỹ đầu tư chứng khoán. Điều 61 Luật chứng khoán 2007
quy định các công ty quản lý quỹ được: quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư, được huy
động và quản lý các quỹ đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, các
công ty quản lý quỹ mới chủ yếu tham gia quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư thay vì
quản lý quỹ.
Đi sâu vào hoạt động của các quỹ đầu tư giai đoạn này. Kỳ vọng của các nhà đầu tư rất lớn
nhưng thực tế của các quỹ đầu tư khá ảm đạm. Điển hình là quỹ đầu tư VF1, vốn là quỹ đầu
tư chứng khoán đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, thành lập năm 2004 dưới hình thức quỹ
đóng. Sau 3 năm hoạt động, quỹ VF1 không có tăng trưởng nổi trội. Hai ngày 03 và
04/05/2007 chứng kiến một sự kiện có thể nói là chưa từng có trong lịch sử giao dịch của
chứng chỉ quỹ VF1, chứng chỉ VF1 bị nhà đầu tư “bán đổ bán tháo” tại giá sàn với khối
lượng cực lớn. Ngày 02/05/2007, quỹ VF1 công bố điều chỉnh giá phát hành thêm chứng chỉ
quỹ trên trang web của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. HCM, phản ứng của thị trường
có ngay lập tức. Ngày 03/05/2007, hơn 1 triệu chứng chỉ quỹ còn dư bán tại giá sàn ở phiên
3. Đến ngày 04/05/2007, con số dư bán tại giá sàn của phiên 3 là hơn 4 triệu chứng chỉ quỹ,
gấp 4 lần phiên 3 ngày hôm trước. Rõ ràng là nhà đầu tư đã mất niềm tin nghiêm trọng khi
đầu tư vào chứng chỉ quỹ này của quỹ VF1, quỹ này đã phải tiến hành huy động tăng vốn.
Trên thế giới, việc một quỹ đóng tiến hành tăng vốn hoạt động như trường hợp của quỹ VF1
là rất hiếm. Theo luật chứng khoán có hiệu lực từ đầu năm 2007, quỹ đóng là quỹ đại chúng
mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu
tư. Có lẽ chính vì định nghĩa đơn giản như trên nên đã tạo điều kiện cho VF1 tiến hành tăng
vốn không theo đúng chuẩn mực của các Sở giao dịch có uy tín trên thế giới như NYSE
Euronext.
Trong năm 2008, UNCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 18 công ty quản lý