Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
§1- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE
I. Mở đầu
* Đặt vấn đề :
Ngành xây dựng giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đây
cũng là một ngành mà điều kiện lao động có những đặc thù riêng :
- Địa điểm làm việc của công nhân luôn luôn thay đổi ;
- Phần lớn công việc phải thực hiện ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng của khí hậu
thời tiết xấu ;
- Nhiều công việc nặng nhọc, phải thi công ở những vị trí không thuận tiện ;
- Có nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại dễ gây ra tai nạn lao động và làm suy giảm
sức khỏe, thậm chí gây bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Lâu nay xây dựng vẫn là một trong các ngành chiếm tỷ lệ cao nhất về tai nạn
lao động, kể cả tai nạn chết người. Trong những năm gần đây, ngành xây dựng đã
có nhiều cố gắng thực hiện các biện pháp tổ chức và công nghệ nhằm cải thiện điều
kiện lao động, ngăn ngừa, hạn chế tai nạn lao động và bảo vệ sức khỏe cho người
lao động. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động xảy ra vẫn còn là mối quan tâm lo
ngại cho những người xây dựng.
Một trong những vấn đề rất quan trọng để phòng ngừa tai nạn lao động là
người lao động phải quán triệt được các chế độ chính sách về bảo hộ lao động, phải
hiểu biết về an toàn - vệ sinh lao động, các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an
toàn - vệ sinh lao động và những biện pháp an toàn cụ thể trong công việc của mình.
Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả những người lao động trong ngành xây
dựng, từ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ kỹ thuật, người sử dụng lao động đến
những người công nhân trực tiếp lao động.
1. Đối tượng
Bảo hộ lao động trong xây dựng: môn khoa học nghiên cứu các vấn đề lưý
thuyết và thực tiễn về an toàn và vệ sinh lao động, an toàn phòng chống cháy; tìm
1
1
Nghiên cứu, phân tích nguyên nhân tai nạn lao động để từ đó đề xuất, áp dụng
các biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn lao động.
TCVN 3153-79 định nghĩa: Kĩ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và
phương tiện, tổ chức và kĩ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy
hiểm gây chấn thương đối với người lao động.
- Kĩ thuật phòng chống cháy:
Nghiên cứu, phân tích nguyên nhân phát sinh cháy nổ → đề xuất và thực hiện
các biện pháp phòng và chống cháy.
(Nội dung được giới thiệu trong môn học chủ yếu ở 3 phần sau).
3. Vị trí môn học và phương pháp nghiên cứu
a) Vị trí môn học:
Nằm trong nhóm môn học thi công, giúp cho người học hiểu và nắm vững
những kiến thức khoa học về bảo hộ lao động trong lĩnh vực sản xuất của ngành
mình, từ đó thực hiện tốt các chế độ, chính sách về bảo hộ lao động, các quy trình
quy phạm, tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn lao động, an toàn phòng cháy, chữa cháy.
b) Phương pháp nghiên cứu:
- Tiến hành phân tích nguyên nhân phát sinh các yếu tố nguy hiểm, độc hại,
gây ra sự cố, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất và thực hiện các biện
pháp phòng ngừa và loại trừ nguyên nhân phát sinh của chúng, bảo đảm an toàn và
vệ sinh trong các quá trình xây lắp
- Liên quan đến các môn khoa học khác:
+ Các môn khoa học cơ bản như Toán, Lí, Hóa
+ Các môn khoa học kỹ thuật như Nhiệt kĩ thuật, Kiến trúc, Sức bền vật liệu, Cơ
học kết cấu, Tự động hóa Đặc biệt là đối với các môn Kĩ thuật và Tổ chức thi công -
đó là kiến thức tổng hợp của ngành xây dựng.
II. Mục đích, ưý nghĩa, tính chất công tác bảo hộ lao động
1. Mục đích
- Quá trình sản xuất: là quá trình người lao động sử dụng công cụ, máy móc,
thiết bị tác động và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm xã hội.
- Trong quá trình sản xuất: dù thô sơ hay hiện đại, quy trình công nghệ đơn
- Tính KHKT: vì mọi hoạt động của nó đều xuất phát từ những cơ sở khoa học
và các biện pháp khoa học kĩ thuật (điều tra khảo sát, phân tích đánh giá, đề xuất
4
4
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
giải pháp và thực hiện giải pháp), đều phải vận dụng kiến thức và thực tiễn lĩnh vực
KHKT tổng hợp của các chuyên ngành.
- Tính quần chúng: Thể hiện trên hai mặt
+ Liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất.
+ Phải thực hiện trên cơ sở tự giác.
III. Nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao
động
Được quy định rõ trong điều 15 và điều 16, chương IV, Nghị định số 06/CP
ngày 20/1/1995 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động
về an toàn lao động và vệ sinh lao động.
1. Nghĩa vụ của người lao động (điều 15)
Chấp hành các quy định, nội quy về ATLĐ, VSLĐ có liên quan đến công việc,
nhiệm vụ được giao.
Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện cá nhân đã được trang cấp, các
thiết bị an toàn vệ sinh nơi làm việc, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi
thường.
Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu
và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao
động.
2. Quyền lợi của người lao động (điều 16)
Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh,
cải thiện điều kiện lao động, trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân,
huấn luyện, thực hiện biện pháp ATLĐ, VSLĐ.
Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy có nguy cơ xảy ra tai
Không tự động điều khiển máy, thiết bị mà không được giao trách nhiệm.
Phải sử dụng đúng các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp phù
hợp với công việc và điều kiện làm việc.
Không đùa nghịch, tung ném dụng cụ, vật liệu hay bất kỳ vật gì trong khu vực
6
6
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
làm việc và từ trên cao xuống.
Không hút thuốc, dùng lửa ở những nơi cấm lửa.
Chỉ sử dụng dụng cụ đồ nghề, máy, thiết bị đúng chủng loại có chất lượng tốt,
không bị hư hỏng.
Khi sử dụng xong phải làm vệ sinh, cất giữ bảo quản cẩn thận vào nơi quy
định.
Khi phát hiện thấy sự cố có nguy cơ gây tai nạn, cháy nổ, phải báo ngay cho
người trực tiếp phụ trách biết.
Khi bản thân hoặc biết có người bị chấn thương cần khai báo ngay để có biện
pháp xử lí, không được giấu.
* Giới thiệu và hướng dẫn cho sinh viên tham khảo phần Công tác bảo hộ lao động
ở Việt Nam trong giáo trình KỸ THUẬT AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG XÂY
DỰNG (Kỹ thuật xây dựng 3).
7
7
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
§2- TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP
I. Các khái niệm
1. Điều kiện lao động:
+ Khái niệm: Trong quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải, con người
phải làm việc trong điều kiện nhất định gọi là điều kiện lao động.
+ Nội dung:
Gồm 2 mặt: - Quá trình lao động
quá trình sản xuất lên cơ thể con người trong quá trình lao động.
- Biểu hiện: Bệnh lý.
- Nguyên nhân: do tác động từ từ (tích lũy) của các yếu tố độc hại tạo ra trong
quá trình sản xuất.
- Môi trường: quá trình lao động.
* Phân biệt tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:
- Giống: gây hủy hoại sức khỏe hoặc gây chết người.
- Khác:
+ TNLĐ: gây hủy hoại đột ngột (chấn thương)
+ Bệnh nghề nghiệp: gây suy giảm sức khỏe từ từ trong một thời gian nhất
định.
II. Phân tích điều kiện lao động trong xây dựng
5 vấn đề đặc thù sau:
1) Luôn luôn thay đổi chỗ làm việc: các công trường, trên phạm vi công trường
(khác với nhiều ngành công nghiệp khác: vị trí công nhân, các thao tác tương đối cố
định trên các thiết bị cố định).
2) Có nhiều nghề, nhiều công việc nặng nhọc (công tác đất, bê tông, vận
chuyển vật liệu ) mức thủ công nhiều, tốn nhiều công sức, năng suất thấp.
3) Tư thế làm việc: gò bó (quỳ gối, khom lưng, ngồi xổm, nằm ngửa - công tác
hàn); trên cao, chênh vênh (lắp ghép); dưới sâu, dưới nước (thăm dò địa chất, thi
công giếng chìm ) v.v có nhiều nguy cơ tai nạn.
4) Phần lớn các công tác làm việc ngoài trời nên chịu tác động xấu trực tiếp
của khí hậu (nắng gắt, giông bão, mưa dầm gió bấc ).
5) Nhiều công việc làm trong môi trường ô nhiễm: bụi (công tác đất đá, vận
chuyển vật liệu rời ), tiếng ồn và rung động lớn (đầm bê tông, gia công gỗ, cơ khí ),
hơi khí độc (sơn, trang trí ).
9
9
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
Kết luận: Điều kiện lao động trong xây dựng có nhiều khó khăn, phức tạp,
- Cần có thời gian để thu thập số liệu.
- Chỉ có thể đề ra biện pháp chung do không đi sâu phân tích nguyên nhân tai
nạn.
2. Phương pháp địa hình:
+ Cách làm: Trên mặt bằng công trường, công trình, phân xưởng đánh dấu
những dấu hiệu có tính chất quy ước ở những nơi xảy ra tai nạn (kể cả nơi tai nạn
tái diễn).
+ Tác dụng: Phơi bày rõ ràng, trực quan nguồn gốc những trường hợp tai nạn
xảy ra có tính chất địa hình, các dấu hiệu đó cho biết ngay nơi nào thường xảy ra
nhiều tai nạn.
+ Yêu cầu: Phải đánh dấu ngay và đầy đủ tất cả những trường hợp tai nạn xảy
ra.
+ Nhược điểm: Cần có thời gian (như phương pháp thống kê).
3. Phương pháp chuyên khảo:
+ Nội dung phương pháp: Đi sâu phân tích cụ thể điều kiện lao động và nguyên
nhân phát sinh ra tai nạn lao động, gồm:
- Tình trạng chỗ làm việc, máy móc thiết bị, dụng cụ và nguyên vật liệu sử
dụng.
- Các yếu tố vi khí hậu và môi trường.
- Những thiếu sót trong quá trình kỹ thuật.
- Nguyên nhân các trường hợp tai nạn xảy ra.
+ Ưu điểm: Cho phép xác định đầy đủ các nguyên nhân phát sinh tai nạn, từ đó
đề ra biện pháp loại trừ các nguyên nhân đó.
+ Cách tiến hành:
- Nghiên cứu các nguyên nhân về tổ chức và kỹ thuật theo số liệu thống kê.
- Phân tích sự phụ thuộc của các nguyên nhân đó vào các phương pháp hoàn
thành các quá trình thi công xây dựng và xác định đầy đủ các biện pháp an toàn đã
11
11
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
- Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy an toàn và những điều nghiêm cấm.
* Tóm lại: Một vụ tai nạn xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân dẫn tới, do đó
cần đi sâu phân tích để xác định nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp gây ra. Trên cơ sở
đó mới đề ra được các biện pháp chính xác, cụ thể nhằm ngăn chặn, loại trừ nguyên
nhân để hạn chế tai nạn.
IV. phương pháp đánh giá tình hình tai nạn lao động
Khi nghiên cứu phân tích cũng như đánh giá tình hình tai nạn lao động trong
một khoảng thời gian xác định (quý, nửa năm, một năm) không thể căn cứ vào số
lượng người bị tai nạn, vì nó còn liên quan, phụ thuộc vào số lượng người làm việc
trong đó:
Ví dụ:
Các thông số Đơn vị A Đơn vị B
Số người bị TNLĐ trong năm 5 10
Số người làm việc 100 300
Tỷ lệ TN/ số người làm việc 5/100 = 0,05 10/300 = 0,033
Từ đó rút ra nhận xét:
- Để đánh giá tình hình tai nạn lao động phải tính bằng số tương đối (tỷ lệ TN/
số người làm việc) → đưa ra khái niệm hệ số tần suất tai nạn: số người bị tai nạn
tính theo tỷ lệ phần nghìn.
.1000
ts
S
K
N
=
S: Số người bị tai nạn.
N: Số người làm việc bình quân ngày.
Ý nghĩa: Cho biết tình hình tai nạn xảy ra nhiều hay ít.
- Để đánh giá tình hình tai nạn nặng hay nhẹ, đưa thêm hệ số nặng nhẹ: số
ngày phải nghỉ việc trung bình tính cho mỗi người bị tai nạn.
cho uống nước mát có pha thêm muối, hoặc các loại vitamin, chườm bằng nước
mát để thân nhiệt giảm từ từ. Báo cho y tế cơ sở hoặc gọi cấp cứu điện thoại (115).
14
14
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
2. Sơ cứu người bị say nắng
Biểu hiện say nắng: chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, thân nhiệt có thể không
tăng hoặc tăng cao 40 - 42
0
, mồ hôi ra kém, sắc mặt đỏ ửng, mạch nhanh, thở
nhanh có thể bị ngất, thậm chí tử vong.
Cách sử lý: đưa nạn nhân vào nơi râm mát, quạt cho thoáng mát, nới lỏng
quần áo, cho uống nước mát có pha thêm muối, các loại vitamin, chườn bằng nước
mát để giảm thân nhiệt từ từ. Nếu nạn nhân bị ngất phải tiến hà hơi thổi ngạt, xoa
bóp tim ngoài lồng ngực. Báo cho y tế cơ sở hoặc họi cấp cứu điện thoại.
3. Sơ cứu người bị cảm lạnh
Biểu hiện cảm lạnh: rét run, da tím tái, huyết áp hạ, rối loạn nhịp tim, hôn mê,
có thể dẫn đến tử vong.
Cách sơ cứu: đưa nạn nhân ra khỏi nguồn lạnh, thay quần áo ẩm ướt, ủ ấm,
sưởi ấm cho nạn nhân, cho uống nước ấm. Nếu nạn nhân bị ngất phải tiến hành hà
hơi thổi ngạt, xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Báo cho y tế cơ sở hoặc gọi cấp cứu điện
thoại.
4. Sơ cứu người bị bỏng
Nhanh chóng loại bỏ tác nhân gây bỏng, sau đó tùy theo tác nhân gây bỏng mà
xử lý sơ cứu như sau:
Bỏng nhiệt: ngâm ngay phần da bị bỏng vào nước mát sạch hoặc dội nước
lạnh sạch vào vùng da bị bỏng.
Bỏng axít: dội hoặc rửa vết bỏng bằng dung dịch kiềm như nước vôi trong
hoặc bằng xà phòng.
Bỏng kiềm: dội hoặc rửa vết bỏng bằng dung dịch axít yếu, dấm hoặc chanh
- Sau khi sơ cứu phải khẩn trương đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế hoặc gọi
cấp cứu điện thoại 115.
- Trong thời gian buộc garroo cứ cách 30 - 40 phút phải nới lỏng ga tô một lần
từ 1 - 2 phút để đề phòng hoại tử.
- Lập giấy báo gửi kèm theo nạn nhân, ghi rõ họ tên nạn nhân, vị trí và thời
gian buộc garô.
16
16
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
7. Cấp cứu người bị điện giật
Cần thiết tiến hành theo hai bước:
- Nhanh chóng tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện bằng cách ngắt cầu dao, cầu
chì, rút phích cắm. Nếu không cắt điện được bằng các cách trên có thể dùng dụng cụ
như dao, rìu có cán không dẫn điện chặt đứt dây điện. Nếu nạn nhân bị vướng vào
dây điện có thể dùng sào gậy gỗ, tre khô hoặc tay lót vải, nilon khô để lôi nạn nhân
ra. Ở nơi ẩm ướt người cứu phải đứng lên bục, ghế cách điện. Nếu bị nạn ở trên cao,
trước khi cắt điện phải có biện pháp giữ cho nạn nhân không bị rơi từ trên cao
xuống.
- Sau khi đã tách nạn nhân khỏi nguồn điện, nạn nhân bị ngất nhưng còn thở,
tim còn đập thì chỉ cần đặt nạn nhân vào chỗ thoáng, nới lỏng quần áo bó chặt
người, chú ý để phòng cảm lạnh. Nếu là thở thoi thóp, tim đã ngừng đập thì phải
tiến hành cấp cứu ngay tại chỗ bằng phương pháp hà hơi thổi ngạt hay xoa bóp tim
ngoài lồng ngực, hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Đồng thời báo ngay cho cơ sở y
tế hoặc gọi điện thoại cấp cứu 115.
8. Phương pháp hà hơi thổi ngạt
Đưa nạn nhân ra nơi thoáng khí, đặt nằm ngửa, đầu hơi ngửa ra phía sau.
Trước khi thổi ngạt cần mở miệng nạn nhân, kéo lưỡi ra (nếu lưỡi bị thụt vào), lau
sạch đờm rãi có khi cả máu ở mũi mồm để khỏi tắc đường thở. Người cứu quỳ
ngang vai nạn nhân, một tay bịt mũi, ấn trấn nạn nhân xuống, một tay giữ cằm để
mở miệng nạn nhân ra, hít một hơi dài áp miệng mình khít vào miệng nạn nhân và
vào mảnh vải buộc vòng qua cổ, bàn tay úp xuống dưới.
Gãy xương kín ở cẳng tay: cố định xương bị gãy bằng hai nẹp: một nẹp từ
mỏm khuỷu tới mu bàn tay; một nẹp từ khuỷu tới lòng bàn tay. Buộc cố định hai nẹp
vào nhau ở dưới khuỷu, trên và dưới chỗ xương bị gãy và cổ tay. Giữ cố định tay
nạn nhân ở tư thế cẳng tay vuông góc với cánh tay bằng cách treo cẳng tay vào
mảnh vải buộc vòng qua cổ, lòng bàn tay ngửa lên trên.
Gãy xương hở: trong các trường hợp nêu trên nếu xương gãy thòi ra ngoài da
thì trước khi buộc cố định xương cần tiến hành làm sạch vết thương bằng các loại
thuốc sát trùng, sau đó đặt gạc lên và băng lại.
để không động trạm mạnh đến chỗ xương gáy, cần cắt bỏ hoặc xẻ rạch ống
18
18
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
quần, ống tay áo để cho vết thương lộ ra rồi mới tiến hành rửa sạch vết thương.
II. Các phương tiện bảo vệ cá nhân
1. Khái niệm
Phương tiện bảo vệ cá nhân là các dụng cụ, phương tiện mà người lao động
phải sử dụng để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, có hại phát
sinh trong quá trình lao động sản xuất do điều kiện thiết bị, công nghệ và cách tổ
chức chưa hoàn chỉnh gây ra.
2. Yêu cầu đối với PTBVCN
Bất kỳ PTBVCN nào cũng phải đáp ứng 3 yêu cầu sau:
- Về tính chất bảo vệ: ngăn cản hoặc làm giảm đến mức cho phéo tác động của
các yếu tố nguy hiểm, có hại.
- Về tính chất sử dụng: nhẹ nhàng, thuận tiện, mỹ thuật.
- Về tính chất vệ sinh: không độc, không gây khó chịu khi sử dụng.
3. Yêu cầu khi sử dụng PTBVCN
Khi sử dụng PTBVCN cần tuân theo những yêu cầu sau:
- Sử dụng đủ các PTBVCN đạt tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với nghề và công
việc theo quy định.
thể qua đường hô háp.
- Phương tiện lọc khí (khẩu trang, bán mặt nạ, mặt nạ): khẩu trang chỉ có thể
lọc bụi. Bán mặt nạu có thể lọc được cả bụi và hơi khí độc tùy thuộc vào vật liệu
chứa trong hộp lọc. Mặt nạ lọc được cả bụi và hơi khí độc, hiệu quả cao hơn bán
mặt nạ.
- Phương tiện tự cấp khí hoặc dẫn khí (bình thở): được sử dụng ở nơi người
không trực tiếp hít thở không khí được. Ví dụ: lặn ở dưới sâu; làm việc ở môi
trường có nồng độ hơi khí độc nguy hiểm.
d) Phương tiện bảo vệ tay:
Tay là bộ phận rất dễ bị chấn thương trên cơ thể: rách trầy da, gãy tay, sai
khớp, đứt tay, bỏng tay Những công việc nguy hiểm phổ biến thường hay gây chấn
20
20
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
thương như: những công việc có tiếp xúc với những bề mặt thô, sắc hoặc lởm chởm;
tiếp xúc với các chất độc, ăn mòn, nóng bỏng như nhựa đường bitum; khi làm việc
với máy rung như máy khoan, đầm bê tông, sử dụng các dụng cụ điện. Để đề phòng
chấn thương tay, phải sử dụng các dụng cụ thủ công cầm tay đảm bảo chất lượng
tốt, dùng trang bị bảo vệ tay phù hợp như găng tay hay bao tay. Găng tay và bao
tay thường làm bằng vải dày như vải bò, vải bạt. Riêng găng tay cách điện phải là
găng tay cao su.
e) Phương tiện bảo vệ chân:
Phương tiện bảo vệ chân gồm có các loại giày và ủng, kiểu giày và ủng được
sử dụng tùy thuộc vào công dụng bảo vệ.
Để chống tác dụng cơ học (dẫm đinh và những vật sắc nhọn, vật liệu rơi vào
chân ) có thể dùng giày da có đế giày, có tấm lót kim loại càng tốt.
Làm việc ở những nơi ẩm ướt, lầy lội, phải tiếp xúc với những chất ăn mòn
như vôi, vữa, bêtông nên sử dụng giày hay ủng bằng caosu, chất dẻo.
Làm việc ở những nơi có hóa chất độc hại như xăng, dầu, axit phải sử dụng
các loại giày ủng đặc chủng để chống lại tác hại của chúng. Ở môi trường nguy
của hàn hồ quang, áp lực khí trời bất thường, tiếng động, chấn động của máy,
Nhân tố hoá học: như khí độc, vật thể có chất độ, bụi trong sản xuất
Nhân tố sinh vật: ảnh hưởng của sinh vật, vi trùng mà sinh ra bệnh truyền
22
22
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
nhiễm.
- Các nhân tố trên có thể gây ra bệnh nghề nghiệp làm con người có bệnh nặng
thêm hoặc bệnh phát triển rộng, trạng thái sức khoẻ của người lao động xấu đi rất
nhiều.
→ Vì thế, vệ sinh lao động phải nghiên cứu các biện pháp để phòng ngừa.
b. Các biện pháp phòng ngừa chung
- Các bệnh nghề nghiệp và nhiễm độc trong xây dựng cơ bản có thể đề phòng
bằng cách thực hiện tổng hợp các biện pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm:
Cải thiện chung tình trạng chỗ làm việc và vùng làm việc.
Cải thiện môi trường không khí.
Thực hiện chế độ vệ sinh sản xuất và biện pháp vệ sinh an toàn cá nhân.
- Tổng hợp các biện pháp trên bao gồm các vấn đề sau:
Lựa chọn đúng đắn và đảm bảo các yếu tố vi khí hậu, tiện nghi khi thiết kế
các nhà xưởng sản xuất.
Loại trừ tác dụng có hại của chất độc và nhiệt độ cao lên người làm việc.
Làm giảm và triệt tiêu tiếng ồn, rung động.
Có chế độ lao động riêng đối với một số công việc nặng nhọc tiến hành trong
các điều kiện vật lý không bình thường, trong môi trường độc hại,
Tổ chức chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo ở chỗ làm việc hợp lý theo tiêu
chuẩn yêu cầu.
Đề phòng bệnh phóng xạ có liên quan đến việc sử dụng các chất phóng xạ và
đồng vị.
Sử dụng các dụng cụ phòng hộ cá nhân để bảo vệ cơ quan thị giác, hô hấp, bề
mặt da,
xuất và công tác. Nếu không có biện pháp khắc phục dẫn đến hiện tượng say
nóng, say nắng, kinh giật, mất trí.
Khi cơ thể mất nước, máu sẽ bị quánh lại, tim làm việc nhiều nên dễ bị
suy tim. Khi điều hoà thân nhiệt bị rối loạn nghiêm trọng thì hoạt động của tim
cũng bị rối loạn rõ rệt.
Đối với cơ quan thận, bình thường bàI tiết từ 50-70% tổng số nước
của cơ thể. Nhưng trong lao động nóng, do cơ thể thoát mồ hôi nên thận chỉ
bài tiết 10-15% tổng số nước → nước tiểu cô đặc gây viêm thận.
Khi làm việc ở nhiệt độ cao, công nhân uống nhiều nước nên dịch vị
loãng làm ăn kém ngon và tiêu hoá cũng kém sút. Do mất thăng bằng về
muối và nước nên ảnh hưởng đến bài tiết các chất dịch vị đến rối loạn về
viêm ruột, dạ dày.
24
24
Bài giảng môn học an toàn lao động Bùi Đức Năng - Khoa CTQS
Khi làm việc ở nhiệt độ cao, hệ thần kinh trung ương có những phản
ứng nghiêm trọng. Do sự rối loạn về chức năng điều khiển của vỏ não sẽ dẫn
đến giảm sự chú ý và tốc độ phản xạ sự phối hợp động tác lao động kém
chính xác , làm cho năng suất kém, phế phẩm tăng và dễ bị tai nạn lao động.
* Nhiệt độ thấp
- Tác hại của nhiệt độ thấp đối với cơ thể ít hơn so với nhiệt độ cao. Tuy nhiên
sự chênh lệch quá nhiều cũng gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể:
Nhiệt độ thấp, đặc biệt khi có gió mạnh sẽ làm cho cơ thể quá lạnh gây ra
cảm lạnh.
Bị lạnh cục bộ thường xuyên có thể dẫn đến bị cảm mãn tính, rét run, tê liệt
từng bộ phận riêng của cơ thể.
Nhiệt độ quá thấp cơ thể sinh loét các huyết quản, đau các khớp xương, đau
các bắp thịt.
Nhiệt độ nơi làm việc lạnh có thể làm cho công nhân bị cóng, cử động không
chính xác, năng suất giảm thấp.