TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA SỬ - ĐỊA
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA
TÍNH CHỦ ĐỘNG CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN
Người hướng dẫn: T.S Phạm Văn Lực
Người thực hiên : Vũ Ngọc Tùng
Sơn la, 04/2011
1
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo - Tiến Sĩ Phạm Văn Lực, giảng
viên khoa Sử - Địa đã tận tình giúp đỡ, cố vấn cho chúng tôi trong suốt quá trình
thực hiện nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn đơn vị thư viện trường ĐH Tây Bắc, thư viện tỉnh Sơn La đã giúp đỡ
chúng tôi trong việc tìm nguồn tư liệu phục vụ đắc lực cho quá trình nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn ban quản lí khu di tích lịch sử Lam Kinh, đài Phát thanh -
truyền hình, phòng văn hóa huyện Thọ Xuân –Thanh Hóa, ban văn hóa xã Xuân
Lam- huyện Thọ Xuân, phòng văn hóa huyện Lang Chánh – Thanh Hóa đã cung
cấp cho chúng tôi những nguồn tư liệu thiết thực, bổ ích.
Chúng tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến các cụ cao niên xã Xuân Lam( Thọ
Xuân, Thanh Hóa), xã Kiên Thọ ( Ngọc Lặc, Thanh Hóa), xã Giao Thiện( Lang
Chánh, Thanh Hóa) cho chúng tôi thêm một kênh thông tin quý báu.
Do còn thiếu kinh nghiệm trong việc nghiên cứu nên Đề tài của chúng tôi
khó tránh khỏi những thiếu xót. Vì vậy mong nhận được sự đóng góp từ phía các
thầy cô và các bạn để đề tài của chúng tôi có thể hoàn chỉnh hơn.
Sơn la, ngày 30/3/2011
Người thực hiện:
VŨ NGỌC TÙNG
2
I- PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình học tập và giảng dạy
bộ môn lịch sử nói chung và giai đoạn lịch sử nửa đầu thế kỉ XV nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
3
Tính chủ đông của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được đề cập đến trong một số
công trình như Đại cương lịch sử Việt Nam_tập 1 (Trương Hữu Quýnh, NXB
Giáo Dục,2009), Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến 1858 (Trương Hữu Quýnh,
NXB ĐH SƯ PHẠM, 2008), Danh tướng Lam sơn (Nguyễn Khắc Thuần, NXB
GIÁO DỤC, 2006) với những góc độ và khía cạnh khác nhau, cụ thể là:
Đưa ra môt số tài liệu và hoàn cảnh của khởi nghĩa Lam Sơn nhưng chỉ sơ
lược, chưa cụ thể, hệ thống, đề cập chung chung không hoàn chỉnh.
Vấn đề tuy được đề cập trong một số công trình nhưng chưa một công trình
nào đề cập một cách cụ thể. Nhưng tất cả những công trình đó đã định hướng
cho chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề khoa học mà công trình đó chưa đề cập
tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài.
3.1. Tên đề tài
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thế kỉ XV.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
• Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ tinh chủ động của
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ 1418 -1427.
• Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển của cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn từ khi manh nha tại vùng núi Thanh Hóa đến khi
giành được độc lập hoàn toàn tại hội thề Đông Quan
3.3. Đóng góp của đề tài.
Đề tài góp phần đóng góp, bổ sung những thiếu sót cho các công trình
nghiên cứu trước đó về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nói riêng và lịch sử Việt Nam
trung đại nói chung. Từ đó, đưa ra cái nhìn sâu rộng hơn về một khía cạnh của
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Bổ sung nguồn tư liệu có ích và thiết thực trong việc học tập và giảng
2.1 Về hành chính.
Quận Giao Chỉ được sát nhập vào nhà Minh, gồm 3 ty phụ thuộc trực tiếp
vào triều đình Yên Kinh :1_ Đô chỉ huy sứ ty phụ trách quận Chính. 2_Thừa
tuyên bố chính sứ ty phụ trách dân sự và tài chính. 3_ Đề hình án sát sứ ty phụ
trách tư pháp. Các chức chánh, phó ty đều là người Trung Quốc, một số người
Việt có công với nhà Minh được trọng dụng như Nguyễn Huân, Mạc Thúy,
Lương Như Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung.
Bộ máy cai trị được duy trì bởi các vệ quân(5000 quân) bản xứ bao gồm Tả,
Hữu, Trung đóng quân trong thành Đông Quan. Tiền quân đóng ở phía Bắc sông
Phú Lương, cùng với đó là các thiên hộ sở (1000 quân), đóng đồn ở những nơi
xung yếu như Thị Cầu( 2 thiên hộ sở), Aỉ Lưu(1 thiên hộ sở), Xương Giang(1
vệ)… Trong đạo quân viễn chinh có 2500 quân Quảng Tây, 4750 quân Quảng
Đông, 6750 quân Hồ Quảng, 2500 quân Triết Giang, 1500 quân Giang Tây,
1500 quân Phúc Kiến, hơn 4000 quân Vân Nam ở lại An Nam. Việc xây dựng
ngụy quân cũng được xúc tiến để hỗ trợ quân đóng đồn giữ.
Nhà Minh thống kê được số nhân khẩu lúc bấy giờ là 3120000 người, người
“Man” là 2087500 người thì sau mười năm chỉ còn quản lí được 162558 hộ với
5
450288 nhân khẩu. Theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng cho biết Giao
Chỉ được nhà Minh chia ra làm 17 phủ là:
1. Giao Châu.
2. Bắc Giang.
3. Lạng Giang.
4. Tam Giang.
5. Thái Nguyên.
6. Tuyên Hóa.
7. Kiến Bình.
8. Tân An.
9. Kiến Xương.
10. Phụng Hòa.
thập vàng, trầm hương, ngọc trai năm 1424.
2.4. Về ruộng đất .
Do việc thường xuyên phải đối phó với các cuộc đấu tranh của quân dân
ta nên phạm vi kiểm soát chủ yếu của nhà Minh chủ yếu ở xung quanh thành
Đông Quan.Càng về sau nhà Minh mất dần khả năng kiểm soát ruộng đất, số
ngạch khi tăng khi giảm. Giai đoạn 1407-1413, ruộng đất dùng để phân cấp cho
những quan người Việt thay cho bổng lộc. Việc lương thảo cho quân đội được
tích góp bằng cách trưng thu vơ vét hoặc tự lập đồn điền sản xuất. Năm 1414,
sau khi dẹp song cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần, nhà Minh thực hiện kê khai
ruộng đất và bắt đâu quy định ngạch thuế ruộng. Với việc thu thuế như thời nhà
Hồ là 5 thăng/1 mẫu, nhưng lại bắt người dân tự khai 1 mẫu thành 3 mẫu vì thế
mức thu đã gấp 3 thời nhà Hồ.
Các loại thuế thủ công nghiệp và thương mại cũng đem lại một nguồn thu
lớn cho nhà Minh. Hàng loạt ty thuế khóa, ty hà bạc, ty tuần kiểm được đặt ra để
tận thu.
Chính sách thuế khóa của nhà Minh làm dân ta kiệt quệ điêu đứng. việc làm
sai dịch và nộp lương liên miên khiến năm 1418 từ Diễn Châu vào nam không
cày cấy được. thuế khóa thu nặng nề nhưng lại phải đối phó với hàng loạt các
cuộc đấu tranh đã tiêu tốn không ít tiền bạc. lương thực tại chỗ không đủ phục vụ
nên đòi hỏi cả miền nam Trung Quốc phải cung cấp, phục dịch. Khi khởi nghĩa
Lam Sơn bùng nổ và lớn mạnh, nhà Minh dần bớt việc vơ vét, trung thu thuế.
Như bao triều đại phong kiến phương bắc sang đô hộ nước ta, nhà Minh luôn
tìm mọi cách để tiến hành đồng hóa nước ta. Dân ta bị bắt phải theo các phong
tục, tập quán của người Hán: phải để tóc dài, không được cất tóc, phải để răng
trắng không được nhuộm, phụ nữ phải mặc áo ngắn, quần dài giống Trung Quốc,
quan lại phải đội khăn đầu rìu, áo viền tuôn có vạt, áo dài có vạt bằng tơ lụa, hài
ống cao có dây thắt. Tục thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt cũng
bị đàn áp thô bạo. Nhiều đàn tràng kiểu Trung Quốc được lập nên. Đạo Phật
nước ta phát triển cực thịnh vào thời Lý, Trần, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhân
dân. Số lượng tác phẩm về đạo Phật ngày nay chỉ còn lại: Thuyền huyền tập anh,
của Trung Hoa để tuyên truyền văn hóa của chúng.
II) SỰ BÙNG NỔ CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN.
1.Các cuộc khởi nghĩa trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc
Minh xâm lược.
Trước khởi nghĩa Lam Sơn đã có nhiều phong trào đấu tranh chống lại quân
xâm lược nhà Minh, trong đó lớn nhất và đáng chú ý là sự nổi dậy của nhà hậu
Trần.
Giữa năm 1407, nhân dân hai huyện Đông Lan và Trà Thanh thuộc Diễn
Châu nổi dậy phá ngục giết huyện quan. Trương Phụ và Trần Húc đem quân vào
dẹp.
8
Tại Châu Thất Nguyên( Lạng Sơn), các dân tộc tại đây nổi dậy làm căn cứ
chống Minh. Trương Phụ sai Cao Sĩ Văn đi đánh, đến Châu Quảng Nguyên( Cao
Bằng) bị nghĩa quân giết chết. Trương Phụ phải phái Trình Dương tăng viện mới
thắng được.
Tháng 11/1407, Phạm Trấn nổi dậy lập Trần Nguyệt Hồ một người tự xưng
là tông thất nhà Trần - làm Vua ở Bình Than. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn
Trần Nguyệt Hồ bị bắt, Phạm Trấn trốn thoát và tham gia cuộc khởi nghĩa của
nhà hậu Trần.
Để hợp thức hóa lí do sang xâm lược Đại Ngu nhà Minh đã dựng lên chiêu
bài: “ Phù Trần diệt Hồ”. Nhưng khi thành công nhà Minh lại sai lùng bắt con
cháu nhà Trần. Cuộc khởi nghĩa của nhà hậu Trần nổ ra cuối năm 1407 với sự
kiện lên ngôi của Giản Định hoàng đế. Lực lượng của phong trào làm chủ từ
Thuận hóa trở ra, tiến quân ra bắc, đánh bại quân nhà Minh ở một số trận lớn ở
Bô cô (1408). Nhưng những lục đục trong nội bộ đã làm cho sứ mạnh của phong
trào suy giảm nghiêm trọng. năm 1413, vua Trùng Quang Đế và các tướng lĩnh
bị bắt. Phong trào chấm dứt.
Trong những năm 1407-1408 còn có các phong trào nhỏ lẻ khác như Chu Sư
Nhan ở An Định(Thái Nguyên), Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí ở Thái
Nguyên, Trần Nguyên Thôi ở Tam Đái Phú Thọ, Trần Nguyệt Tôn ở Đồng
trong vòng mười năm lấy lại được giang sơn cũ, và xây đắp lại nền độc lập cho
nước Nam. Đấng anh hùng, người ở làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ
Thanh Hóa, họ là Lê, tên là Lợi.(…) Ông Lê Lợi khẳng khái, có chí lớn quân nhà
Minh nghe tiếng đã dỗ cho làm quan, nhưng ông không chịu khuất phục, thường
nói rằng: “làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to để tiếng thơm
muôn đời chứ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ cho người”.Bèn giấu tiếng ở Sơn
Lâm, đón mời những kẻ hào kiệt, chiêu những kẻ lưu vong”.[Tài liệu số 7,tr.107]
Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng: “ Trước kia tổ ba đời của vua húy là Hối,
từng một hôm đi chơi Lam Sơn, thấy đàn chim bay quanh dười chân núi,giống
như hình dạng nhiều người tụ họp, bèn nói: “ Chỗ này tất là đất tốt”, mới dời nhà
đến ở đấy, được ba năm thì thành sản nghiệp(…) Vua sinh ra thiên tử tuấn tú
khác thường, thần sắc đẹp mạnh,mắt sáng, mồm rộng, mũi cao, vai có nốt ruồi,
tiếng to như tiếng chuông, đi như rồng, bước như hổ, kẻ thức ra biết là người phi
thường(…)Phép dụ binh của Vua biết lấy nhu chế cương, lấy yếu chế mạnh cho
nên hay thắng. Các thành: Nghệ An, Thuận Hóa, Tây Đô, Đông Đô đều sai văn
thần Nguyễn Trãi làm thư dụ bảo điều phúc họa nên không đánh mà phải hàng”.
[Tài liệu số 1, tr.5]
2.2. Khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ.
2.2.1. Hội thề Lũng Nhai.
Hội thề Lũng Nhai do Lê Lợi cùng 18 người cùng chí hướng tổ chức tại
Lũng Nhai vào khoảng tháng 3 năm 1416 với mục đích là tế cáo trời đất, kết
nghĩa anh em, nguyện hợp sức phát động cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ
của nhà Minh. Đây chính là điều kiện cơ sở cho việc tổ chức cuộc khởi nghĩa sau
này(mùng 2 tháng giêng năm mậu tất-1418). Cũng sau khi hội thề Lũng Nhai
10
được diễn ra, nhiều bậc anh hùng hào kiệt và những người yêu nước khắp nơi
cùng về theo Lê Lợi tụ nghĩa.
2.2.2.Lê Lợi phát cờ nghĩa, dấy binh tại vùng núi Thanh Hóa
2.2.2.1.Quá trình chuẩn bị về dư luận.
Muốn lật đổ được ách thống trị của nhà Minh thì cần phải huy động lực
bức, những người dưới đáy xã hội, như trong Bình Ngô Đại Cáo đã nói:
11
“ Nêu hiệu gậy làm cờ,
Tập hợp bốn phương manh lệ”.
Ban đầu,số người tìm đến với Lê Lợi chưa nhiều. càng về sau, Lam Sơn trở
thành nơi quy tụ của đông đảo nghĩa sĩ bốn phương. Hào kiệt tự tận vùng trung
du xa xôi như Lưu Nhân Chu (người làng vạn yên, nay là huyện Đại Từ,Thái
Nguyên), Trần Nguyễn Hãn (xã Sơn Đông, Lập Thạch, Vĩnh Phúc); từ đất Thăng
Long như Phạm Văn Xảo; từ miền Nghệ An như Nguyễn Sĩ, bậc nho sĩ lỗi lạc
như Nguyễn Trãi. Để tránh sự chú ý của kẻ thù, Lê Lợi chia họ thành những
nhóm nhỏ, vừa tăng gia sản xuất, vưà luyện tập võ nghệ. Lê Lợi cận trọng giao
việc cho mọi người để họ phát huy hết năng lực của mình và có thể phát hiện
thêm người hiền tài.
2.2.2.3.Chuẩn bị về tư tưởng,khẩu hiệu đấu tranh.
Đây chính à thể hiện sự khác biệt giữa khởi nghĩa Lam Sơn với các cuộc
khởi nghĩa khác. Nguyễn Trãi –cánh tay đắc lực của Lê Lợi với hàng loạt ý kiến
đề xuất, được Lê Lợi tán thưởng và nhanh chóng trở thành tư tưởng chủ đạo
chung cho bộ chỉ huy Lam Sơn. Đó chính là việc phải huy động sức dân, kết hợp
giữa cứu nước và cứu dân như Nguyễn Trãi nói: “ Quân điếu phạt trước lo khử
bạo”.Muốn đánh thắng được đội quân hùng hậu,với sức mạnh lớn hơn ta nhiều
lần thì phải tấn công đồng loạt trên nhiều mật trận: quân sự, chính trị, binh vận,
ngoại giao. Về quân sự, theo Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đáng thánh là hạ sách,
thượng sách là đánh vào lòng người. Kỷ luật quân đội phải nghiêm, trên dưới
đinh như thủ túc, Lam Sơn đầu tiên phải là một đội quân nhân nghĩa.
2.2.2.4. Phất cờ khởi nghĩa.
Mùng 2 Tết năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lam Sơn long trọng làm lễ tế cờ xuất
trận. Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương cùng với 35 võ tướng và một số quan
Văn, 200 quân thiết đôt, 200 nghĩa sĩ ,200 dũng sĩ, tổng cộng khoảng 2000 người
và 14 con voi chiến. Đây chính là thành quả có sự dày công chuẩn bị nhưng so
với quân cướp nước thì đây là một sự chênh lệch to lớn. Quân Lam Sơn chiến
cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”. Sau đó, Lê Lai mang theo hai thốt voi
và 500 quân kéo ra trại quân Minh khiêu chiến. Quân Minh đổ ra đánh, Lê Lai
thúc ngựa vào giữa trận hô to: “Ta là chúa Lam Sơn đây”. Quân Minh ngỡ là Lê
Lợi xúm lại đánh kịch liệt, Lê Lai kiệt sức bị bắt và đem về hành hình. Lê Lợi
nhân cơ hội đó cùng các tướng lĩnh và quân lính tháo chạy đường khác. Sau đó
một mặt sang Ai Lao cầu cứu, mặt khác thu nhặt tàn quân về đóng ở Lư
Sơn( phía Tây Châu Quan Hóa).
Sang năm Nhâm Dần(1422) Bình Định Vương từ đồn Ba Lậm tiến lên đánh
đồn Quan Gia, bị quân Minh và quân Ai Lao đánh từ hai phía, lui quân về giữ
đồn khôi sách. Quân Minh và Ai Lao thừa thế đánh vây bốn mặt. Lê Lợi thấy thế
nguy quyết định đánh tháo mở một con đường sống. Đưa quân lên núi Chí Linh
lần thứ ba. Ở đây hoàn cảnh ngày một khó khăn nghĩa si thiếu lương mỏi mệt
phải làm thịt cả voi, ngựa chiến. Mọi người xin Lê Lợi hãy tạm hòa với giặc, bất
đắc dĩ, Bình Định Vương sai Lê Trăn đi xin giảng hòa. Quân nhà Minh thấy
đánh không lợi cũng thuận cho hòa. Sau đó năm Qúy Mão(1423) Bình Định
Vương đem quân về Lam Sơn, bọn Trần Trí, Sơn Thọ thường cho Lê Lợi trâu,
ngựa, cá mắm và thóc lúa, Bình Định Vương sai Lê Trăn mang vàng bạc ra tạ
13
nhưng ngờ có bụng dạ không thật nên quân Minh sai bắt Lê Trăn lại vì thế Lê
Lợi tuyệt giao không quan hệ, đem quân về Lư Sơn. Sau hơn một năm đình
chiến, lực lượng nghĩa quân đã được phục hồi và lớn mạnh, quân đội và vũ khí
được chuẩn bị đâỳ đủ.
14
CHƯƠNG II: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN
GIAI ĐOẠN 1424-1425
I). Kế hoạch của Nguyễn Chích: “Tiến quân vào Nghệ An”.
Nguyễn Chích người thôn Mạc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh
Hóa. Ông sinh năm Nhâm Tuất(1382), mất năm Mậu Thìn(1448), thọ 66 tuổi.
Khi quân Minh sang xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến do nhà Hồ phát
xuất sắc, được bộ chỉ huy Lam Sơn nhiệt liệt hưởng ứng. Sử cũ còn gọi là
“Chiến lược Nguyễn Chích”. Kế sách đó là: “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng
người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay
hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi
dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong
việc dẹp yên thiên hạ”.[Tài liệu số 3, tr.75]
Về lí luận, Nguyễn Chích cho rằng Nghệ An là nơi xa, lực lượng quân Minh
vừa ít lại yếu, khả năng chiến thắng của quân Lam Sơn ở đây là rất rõ ràng, Nghệ
An là nơi tiếp giáp với Thanh Hóa, thuận lợi cho việc tấn công của nghĩa quân
Lam Sơn.
Về thực tiễn, nguyễn Chích nói rõ ông từng qua lại vùng này, thông thuộc
đường đi lối lại, và do đó ông có thể dẫn đường, làm tướng tiên phong.
Trên cơ sở đó, Lê Lợi quyết định tiến công vào Nghệ An. Ngày 12/10/1424,
nghĩa quân bất ngờ tập kích đồn Đa Càng( Bất Càng- Thọ Xuân- Thanh Hóa).
Tháng 11/1924, quân Lam Sơn giành được nhiều thắng lợi liên tiếp. Đại Việt sử
ký toàn thư có chép: “ Vua chọn đinh trang, sữa khí giới, nghiêm chỉnh bộ ngũ,
chứa sẵn lương khô, tiến thẳng vào Nghệ An. Đường đi qua núi Bồ Lạp thuộc
Châu Qùy gặp chỉ huy đồng trị Minh là Sự Hựu và thổ quan tri phủ châu Tra Lân
là Cầm Bành, lại có tướng Minh là Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Thái Phúc
đón ở hai mặt. Ngày sắp tới, vua bên phục sẵn quân và voi ở trong rừng. Bọn
Phương Chính đến, vua tung quân ra đánh, quân Minh thua to. Chém được Đô
đốc là Trần Trung và quân lính hơn 2 nghìn thủ cấp, bắt được hơn trăm con
ngựa. Quân Minh lui chạy. Ngày hôm sau, đi đến trang Trịnh Sơn châu Trà Lân
lại gặp Sư Hựu, lại đánh tan, chém được thiên hộ Trương Bản và quân lính hơn
nghìn người. Hựu chỉ chạy thoát mình, vua đem quân đến Sách Mộc. Bọn Trần
Trí đuổi theo đến núi Trạm Hoàng, nhưng vì đã nhiều lần thua đau, không dám
tiến vào sâu, lui về giữ thành Nghệ An.
Mùa đông, tháng 11, vua sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành chống lại không
theo, một mình cùng với hơn nghìn quân lập rào sách ở đỉnh núi đợi quân cứu
viện. Vua đem quân đến vây.
chúng phải lui vào cố thủ trong thành. Thành Nghệ An bị bao vây, tồn tại chơ vơ
giữa một vùng giải phóng.
Các nhà sử học đánh giá rất cao về kế sách đánh vào Nghệ An của Nguyễn
Chích. Chỉ trong vòng một năm kể từ khi thực hiện kế hoạch của ông, quân Lam
Sơn làm chủ một vùng rộng lớn. Nếu so sánh với thời gian năm 1418- 1423 chỉ
quanh quẩn ở vùng núi Thanh Hóa thì hiệu quả của chiến thuật này là rất lớn.
II). Tiến đánh Tân Bình- Thuận Hóa. Bao vây Tây Đô- phát huy thế chủ
động trên chiến trường.
Sau khi giành được phủ Nghệ An theo kế hoạch của Nguyễn Chích, khởi
nghĩa Lam Sơn đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Ở Nghệ An, Lê Lợi chiêu
mộ quân lính, tu sửa binh khí, luyện tập cho binh sĩ. Tháng 4/1425, Tham tướng
Minh là An Bình Bá Lý An đưa quân từ Đông Quan để cứu nguy cho thành
Nghệ An. Lê Lợi thấy được “ Bọn Trần Trí cùng quẫn lâu ngày, thấy quân cứu
viện đến, tất sẽ mở cửa thành ra đánh”. Lê Lợi đưa quân về đóng ở huyện Đồ
17
Gia đợi giặc đến. Ngày 17/4/1425, Trần Trí đưa quân ra đánh trại của Lê Thiệt
nhưng bị trúng chỗ phục binh của ta, nên thua to. Từ đó, giặc Minh thêm phần sợ
hãi, lui về cố thủ.
Sang tháng 5/1425, Lê Lợi sai Tư Không Lê Lễ đi tuần ở Diễn Châu lại gặp
Đô ty Minh là Trương Hùng đem hơn 300 chiếc thuyền chở lương thảo từ thành
Đông Quan đến. Lê Lễ phục binh từ trước, chém được thiên hộ họ Tưởng và hơn
300 quân lính. Trương Hùng tháo chạy, Lê Lễ cướp thuyền lương đuổi đánh đến
tận thành Tây Đô. Bây giờ, quân giặc đến cứu thành Nghệ An, Lê Lợi nhận thấy
là các thành Tây Đô quân ít, sức yếu, nên điều Lê Lễ, Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê
Triện, Lê Bí với hai nghìn quân tinh nhuệ, 2 con voi đi theo đường tắt, tiến đánh
lép thành Tây Đô, chém được hơn 500 thủ cấp và bắt sống rất nhiều quân Minh ở
trong thành chống giữ. Quân Lam Sơn kết hợp với việc vận động dân chúng
quanh thành. Vì thế nên được dân chúng ủng hộ theo về rất nhiều, xin liều chết
đánh giặc nên tiến hành vây thành Tây Đô.
Càng ngày, tương quan lực lượng giữa quân Lam Sơn và quân Minh ngày
Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép : “Mùa thu, tháng 8 năm Bính Ngọ - 1426
vua cho là toàn bộ quân tinh nhuệ của giặc đều ở thành Nghệ An cả, các xứ
Đông Đô tất cả đều quân ít sức yếu, bèn thêm quân và voi, sai bọn khu mật đại
sứ Phạm Văn Xảo, thái úy Lê Triện, thái giám Lê Khả, á hầu Lê Như Huân, Lê
Bí đem theo 3000 quân và 1 con voi đi tuần các xứ Thiên Quan, Quảng Oai, Gia
hưng, Quy hóa, Đà Giang, Tam Đái, tuyên Quang để ngăn đường viên binh ở
Vân Nam sang: sai bọn thiếu úy Lê Bí, thái giám Lê Khuyển đem 2000 quân và
1 con voi đi tuần xứ Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng Giang để chặn bon viện binh
ở Lưỡng Quảng sang. Bọn Tư Không, Lê Lẽ và lê Bí thì đem tinh binh tiến sau
để phô trương thanh thế”[Tài liệu số 1, tr.36]. Điều đó đã cho thấy con mắt nhìn
xa trông rộng của Lê Lợi. Đoàn quân Lam Sơn – đoàn quân chính nghĩa, với kỉ
luật nghiêm chính, đi đến đâu cũng không xâm phạm bất kì cái gì của dân. Chính
vì thế càng làm cho uy tín của nghĩa quân lên cao. Nghĩa quân nhận được rất
nhiều sự ủng hộ của nhân dân dành cho. Đó chính là những tiền đề cho những
thắng lợi tiếp đó.
Ngày 12, mùa thu năm Bính Ngọ, Thái úy Lê Triện đem 3000 quân tiến đến
thành Đông Quan. Giặc Minh tưởng rằng quân của Lê Triện đơn độc nên đưa
quân sang đánh. Ngờ đâu đến Ninh Kiều, Ứng Thiên cùng hội quân với Lê Khả
và Lê Bí , giặc Minh bị thua, quân ta chém được hơn 2000 thủ cấp, lấy được
Quốc Oai, Tam Đái, tiến đóng ở khu vực bờ tây song Ninh Giang. Lúc này cứu
viện nhà Minh với hơn một vạn quân từ Vân Nam kéo sang, Lê Triện thấy rằng
nếu để hai cánh quân giặc hợp lại thì sẽ khó đánh nên chia quân làm hai hướng :
hướng thứ nhất do Phạm Văn Xảo đưa quân đánh chặn quân tiếp viện, hướng thứ
hai gồm Lê Triện và Lê Bí tiến đánh trần Trí. Trần Trí thua to, tướng giặc là Vi
Lạng bị bắt, chém được hơn 1000 thủ cấp, sau đó quân của Lê Khả và Lê Bí
quay về Ninh Giang hội quân với Phạm Văn Xảo để đánh quân cứu viện. Trần
Trí lui về cố thủ ở thành Đông Quan viết thư gọi Phương Chính từ thành Nghệ
An ra cứu. Phương Chính sai Hoàng Phúc lại giữ thành còn mình đưa quân theo
đường biển tiến ra Bắc.
19
1426, quân Lam Sơn nổ pháo hiệu. Cánh quân của Vương Thông tưởng đó là
pháo lệnh nên vội vã đưa quân ra đánh bị trúng mai phục, thua to. Trong khi đó
cánh quân đánh tập hậu thấy pháo hiệu tỏ ra nghi ngờ. Đến khi nhận được tin
rằng cánh quân của Vương Thông bị đánh nên cũng vội rút chạy về hướng Chúc
Động. Cánh quân của Vương Thông bị quân Lam Sơn từ 3 mặt : mặt trước từ bờ
sông Yên Duyệt, phía tây từ bờ Đầm Rót, các làng xung quanh Tốt Động kéo ra
đánh cho tan tác. Cánh quân của Vương Thông phải chạy về hướng Chúc Động.
20
Tại đây hai cánh quân lại vướng phải mai phục nữa của quân ta. Ninh Kiều – cầu
bắc qua sông Ninh Giang bị chặt đứt.
Sau trận đánh này, 5 vạn quân Minh đã bị tiêu diệt, 1 vạn quân bị bắt sống.
Các chỉ huy giặc như Trần Hiêp, Lý Lượng, Lý Đằng đều tử trận. Đúng như
Nguyễn Trãi đã viết.
“Ninh kiều:máu chảy thành sông
Tanh trôi muôn dặm
Tốt Động : Thây phơi đầy nội
Thối để ngàn thu”
Với thắng lợi này đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông,
đồng thời tạo ra lợi thế mới cho nghĩa quân Lam Sơn, buộc quân Minh phải lui
về cố thủ. Nghĩa quân lam Sơn đã chuyển từ thế phòng ngự sang chủ động tiến
công.
II). Vây thành Đông Đô, Vương Thông xin hòa.
1. Vây thành Đông Đô, Lê lợi đóng ở dinh Bồ Đề.
Sau khi nhận được tin thắng trận của tướng Lê Lễ, Lê Lợi lúc này đang đóng
quân ở Thanh Hóa đã đưa đại quân và 20 thớt voi, chia đường thủy bộ, ngày đêm
hành quân. Đến mùng 10 đến sông Lũng Giang.
Tướng quân Vương Thông cung quân lính trong thành đông quan sau trận
thua ở Tốt Động, quân số bị thiệt hại, binh khí thiếu thốn trầm trọng. Nên chúng
đã phá chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh để làm sung đạn và ống phun lửa.
Trần Hiệp tử trận, Hữu Bố Chính là Đặc khiêm giữ chức Bố chính ty, Án sát sứ
tin với nhà Minh nên đặt thiên hiệu là Thiên Khánh, sai Tả bộc xạ là Lê Quốc
Hưng dạy bảo, thực ra là để coi giữ, còn bản than tự xưng là Vệ Quốc Công để
mau cho chóng song việc.
3. Vây thành Đông Quan.
Vương Thông cùng các tướng lĩnh và quân lính trong thành Đông Quan phải
chịu sự vây hãm, tình thế càng cùng quẩn nên sai người đưa thư xin hòa để đưa
quân về nước. Điều này cũng hợp với ý Lê Lợi nên đòng ý giảng hòa, sai cận
thần cùng quân Minh đến thành Nghệ An giải vây cho quân giặc ra hàng.Nhưng
những ngụy quan như Tham Chính Lương Nhữ Hốt, Đô ty Trần Phong, Đô Chỉ
Huy Trần An Vinh trót quỳ gối bán nước cho giặc để làm quan to nên sợ rằng
khó tránh khỏi cái chết sau những gì đã gây ra nên bày kế phản gián rằng:
“Trước kia Ô Mã Nhi thua ở sông Bạch Đằng đêm quân đầu hàng, Hưng Đạo
Đại Vương bằng long cho hòa, lập mẹo lấy thuyền to chở về nước, rồi chọn
người tài lội lặn sang làm phu thuyền, ra đén ngoài biển thì lừa ban đêm ngủ say,
lặn xuống biển rồi dùi thủng đáy thuyền, đều chết đuối không còn người nào
sống về được”[Tài liệu số 1, tr.44]. Vương Thông tin lời đem long ngờ vực
không tin tưởng thiện chí của Lê Lợi nên tăng cường phòng thủ. Ngoài vẫn tỏ ra
hòa hiếu nhưng trong thì sai người đem thư theo đường tắt để cầu viện. Vua bắt
được người đem thư nên ngầm phục quân bắt được hơn 3000 người do thám,
500 con ngựa. Từ đó hai bên tuyệt giao luôn. Cùng với đó là việc chuẩn bị mọi
mặt của nghĩa quân Lam Sơn trong việc đánh các thành lân cận để tiến tới tấn
công thành Đông Quan. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép : “Vua sai các
tướng chia quân đi đánh các thành : Quốc Hưng đánh 2 thành Điệu Hào, Thị
22
Cầu: Lê Khả, Lê Khuyên đánh thành Tam Giang: Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê
Lãnh, Lê Triện đi đánh thành Xương Giang: Lê Lựu, Lê Bôi đánh thành Khâu
Ôn (…) Hạ lệnh cho các bộ, Trấn chứa lương ở các thành Xương Giang và Tam
giang để cấp cho quân. Hạ lệnh cho các tướng hiệu và quan ở lộ tìm kiếm người
có tài lược trí dũng, làm nổi các chức quan như Tư Mã, Thượng tướng, đều tiến
cử một người. Hạ lệnh cho nhân dân dâng cấp thóc cho quân, thưởng tước theo
3. Lúc ra trận nghe trống đánh, thấy cờ phớt mà chùng chình không tiến.
23
4. Thấy kéo cờ dừng quân mà không dừng.
5. Nghe tiếng chiêng lùi quân mà không lùi.
6. Phông giữ không cẩn thận, để mất thứ ngũ.
7. Lo riêng việc vợ con mà bỏ việc quân.
8. Tha binh đinh về để lây tiền và làm sổ sách mập mờ.
9. Theo bụng yêu ghét của mình mà làm hòa mất công quả của người ta
10. Gian dâm, trộm cắp.
Hễ tướng sĩ ai mà phạm vào điều ấy thì phải tội chém”[Tài liệu số 7, tr.211]
Vì thế đoàn quân Lam Sơn được xem là đoàn quân chính nghĩa, đi đến đâu
cũng được nhân dân yêu quý. Tướng nhà Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An
xin hàng. Lê Lợi sai thượng thư Bộ lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các
thành khác ra hàng.
III).Trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng- Xương Giang.
Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông. Sai
Liễu Thăng mang 10 vạn quân từ Quảng Tây sang; 5 vạn quân do Mộc Thạch
chỉ huy từ Vân Nam kéo sang. Nghe tin nhà Minh liều lĩnh gửi viện binh sang
cứu nguy cho Vương Thông. Lê Lợi đã tổ chức hội nghị quân sự cao cấp lần thứ
hai. Hội nghị đã bàn đến những vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng như:
Đánh viện binh trước hay đánh quân đang vây hãm trong thành trước, đánh viện
binh thì đánh như thế nào, đánh ở đâu trước. Hội nghị cũng đã bàn đến các việc
như: Làm gì với Vương Thông đang bị vây trong thành Đông Quan; làm gì với
các thành trì trên đường tiến công của giặc; việc đối phó của nhân dân ở những
nơi mà giặc đi qua; và khi quyết định đánh 10 vạn quân của Liễu Thăng thì phải
làm gì với 5 vạn tên do Mộc Thạnh cầm đầu. Những vấn đề lớn và những quyết
định mang tính chiến lược, một lần nữa đã tỏ rõ tài năng quân sự xuất sắc, con
mắt nhìn xa trông rộng của Lê Lợi.
Tháng 6/1427, Lê Sát và Trần Nguyễn Hãn được lệnh đánh gấp thành Xương
Giang trước khi Liễu Thăng và Mộc Thạnh kéo sang. Ngày 28/9/1427, quân
quân tiếp tục tiến lên. Quân Lam Sơn phục binh ở Cần Trạm giết được một vạn
quân Minh, tướng giặc là Lý Khánh phải tự vẫn. Lực lượng còn lại của quân
Minh nằm dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ- Hoàng Phúc.
Quân Minh tuy thua to nhưng vẫn còn mạnh. Thôi Tụ dự tính vào thành
Xương Giang để phối hợp với Vương Thông, nhưng khi tiến đến mới biết thành
này đã bị quân Lam Sơn hạ. Thôi Tụ phải đóng quân ngoài cánh đồng Xương
Giang, xung quanh đắp lũy đất để phòng thủ. Quân Minh đóng quân trong một vị
trí mà phía Nam là thành Xương Giang kiên cố; phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam là
sông Thương; phía Đông Nam là sông Lục Nam. Phía Bắc, các đơn vị của Lê
Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lý, Lê Văn An, sau trận phố cát tiếp tục truy kích đối
phương, các đơn vị thủy quân được bố trí trên sông Thương và sông Lục Nam.
Vì quân Minh còn mạnh, quân Lam Sơn chủ trương không tiến công mà chỉ
bao vây và gửi thư gọi hàng. Nhưng Thôi Tụ vẫn không chịu khuất phục. Quân
Lam Sơn điều thêm Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Trương Lôi đem 3000
quân thiết đột lên thành Xương Giang. Ngày 3/11, quân Lam Sơn mới tổng tấn
công. Sau ngày chiến đấu, quân Lam Sơn đã giành được những thắng lợi giòn
25