Lêi më ®Çu
Trong những năm gần đây cùng với sự đổi mới kinh tế và mở cửa của cả nước nói
chung , Hà Nội nói riêng thì quá trình phát triển kinh tế và đô thị hoá đã và đang
diễn ra với tốc độ cao. Bên cạnh những tác động tới kinh tế và xã hội, còn có những
tác động lo ngại tới môi trường. Việc thải nước thải bừa bãi không qua xử lý ra môi
trường nước làm ảnh hưởng tới đời sống và sức khoẻ của người dân Thủ đô đồng
thời làm mất mỹ quan của thành phố.
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ, gây ra một áp
lực lớn tới môi trường của chúng ta. Do đó, công tác quản lý bảo vệ môi
trường là rất quan trọng. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nước ta hoạt động
theo cơ chế thị trường đây là một cơ hội thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ môi
trường thực thi những công cụ quản lý mới kết hợp với các công cụ pháp chế kỹ
thuật khác nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường. Đó chính là các công cụ kinh
tế đã và đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, Phí bảo vệ môi trường được coi là
một trong những công cụ kinh tế có nhiều khả quan hơn khi áp dụng vào thực tiễn
Việt Nam. Qua thực trạng đó, em đã lựa chọn đề tài : “ Bước đầu xây dựng mô hình
tính phí ô nhiễm môi trường đối với nước thải ở Thành phố Hà Nội”
Đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương I : Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận phí ô nhiễm đối với
nước thải.
Chương II : Thực trạng về nước thải ở Hà Nội.
Chương III : Xây dựng mô hình tính phí nước thải ở Hà Nội và vận dụng để tính
toán.
Chương IV : Một số kiến nghị về việc thu phí nước thải ở Hà Nội.
1
CHƯƠNG I : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN PHÍ Ô
NHIỄM ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ
1. Khái niệm
Công cụ kinh tế là những phương diện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi
phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường ,
2.2 Các chương trình thương mại
Các chương trình thương mại có liên quan tới việc bảo vệ môi trường được phản
ánh bằng nhiều cách khác nhau thông qua những hạn ngạch(quotas) có thể trao đổi,
mua bán cho nhau. Thông thường, các chương trình trao đổi , mua bán này đặt công
việc thu gom đồ phế thải gây ô nhiễm môi trường và quy định mức gây ô nhiễm cho
các cá nhân lên vị trí hàng đầu.Trong giới hạn cho phép, những người gây ra ô
nhiễm có thể trao đổi buôn bán ở mức độ ô nhiễm đã được quy định để đạt được
tổng giá trị chi trả ít nhất.
Ngoài việc buôn bán các giấy phép thu gom phế thải gây ô nhiễm môi trường, có
thể còn có buôn bán nhiều loại giấy phép hoạt động khác như giấy phép hoạt động
tiêu thụ các chất độc hại hoặc giấy phép vật nuôi dọc theo các đường phân huỷ.
2.3 Hệ thống đặt cọc - hoàn trả
Hệ thống đặt cọc - hoàn trả là hệ thống áp đặt mọi sự đặt tiền trước ở vào lúc
hàng hoá được mua và số tiền đó sẽ được trả lại khi hàng hoá đã được quay vòng sử
dụng.
Trong hệ thống đặt cọc hoàn trả , người tiêu dùng phải trả một khoản tiền cho chủ
cửa hàng khi mua các sản phẩm mà sau đó có thể tái chế , tái sử dụng(như bia,nước
ngọt đựng trong chai thuỷ tinh, ắc quy ô tô, máy giặt cũ ); khoản tiền này sẽ được
hoàn trả lại nếu sau đó người tiêu dùng đem lại đồ thuỷ tinh , ắc quy ô tô cho cửa
hàng hoặc một điểm thu gom nào đó để tái chế, tái sử dụng. Ngoài ra, hệ thống đặt
cọc- hoàn trả có thể được áp dụng cho bất kỳ sản phẩm nào có sự đòi hỏi tập trung
cao để tái sử dụng , tái quay vòng , nhằm đảm bảo an toàn cho việc đặt cọc và hạn
chế bớt những hàng hoá ít giá trị.Ví dụ những chuyến tàu thuỷ vận chuyển xe ô tô,
những container thuốc trừ sâu, dầu hoả và những hàng hoá trang thiết bị khác dễ
xảy ra tai nạn bất thường.
2.4 Những chính sách khuyến khích về tài chính
Những chính sách tài chính nhằm khuyến khích sự giảm bớt chi tiêu trong việc
bảo vệ môi trường do Chính phủ đề ra từ ngân sách nhà nước. Ví dụ việc trợ cấp ,
ban hành kỳ phiếu vay và cho vay, việc trợ cấp tỷ lệ lãi suất, việc bãi bỏ hoặc giảm
thuế cho một số mặt hàng nào đó.
0 Qs Qm Q
Gọi t là mức phí đánh vào một đơn vị đo chất thải ta có:
MSC = t + MC hay t = MSC – MC
Trong đó MC : chi phí biên cá nhân
MSC: chi phí biên xã hội
Hiệu số ( MSC – MC ) cũng chính là chi phí ngoại ứng trên một đơn vị chất thải
( MEC ), qua đó ta có: t = MSC – MC = MEC.
t được đánh theo s ản lượng , do đó thuế/ phí có liên quan đến lợi nhuận, sản
lượng của doanh nghiệp phải chịu một mức thuế/phí là t* = MSC – MC = MEC tại sản
lượng tối ưu của doanh nghiệp đã tính đến chi phí môi trường. Giả sử doanh nghiệp
4
sản xuất ra sản lượng nhỏ hơn sản lượng tối ưu thì doanh nghiệp sẽ không tối đa hoá
lợi nhuận. Khi doanh nghiệp có mức sản lượng sản xuất ra lớn hơn mức sản lượng
tối ưu có nghĩa là chi phí ngoại biên sẽ lớn hơn và khi MSC càng lớn thì thuế/phí gây
ô nhiễm càng lớn . Do đó, để đạt được lợi nhuận cao nhất của doanh nghiệp sản xuất
phải tự điều chỉnh để có được sản lượng tối ưu.
Khi một doanh nghiệp đầu tư thay đổi quy trình công nghệ để làm giảm thải chất
gây ô nhiễm, mà doanh nghiệp vẫn giữ được mức sản lượng tối ưu đồng thời giảm
được ngoại ứng nghĩa là doanh nghiệp đã bỏ ra một chi phí để làm giảm chất thải
gây ô nhiễm hay để xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường. Chi phí để làm giảm
thải thêm một đơn vị chính là chi phí cận biên giảm thải gây ô nhiễm. Khi doanh
nghiệp giảm bớt chất thải gây ô nhiễm đối với môi trường càng nhiều thì chi phí
giảm thải càng cao. Đây là căn cứ cho việc xác định suất phí trên một đơn vị chất thải
thích hợp sao cho xã hội lẫn doanh nghiệp đều có lợi, hoặc không bên nào chịu thiệt.
III - CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TÍNH PHÍ Ô NHIỄM ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
1. Tính phí dựa vào khối lượng tiêu thụ các nguyên liệu đầu vào.
Phí môi trường được tính theo mức độ , khả năng phát thải của một dây chuyền
sản xuất hoặc nguyên liệu. Phí đánh vào đầu vào hoặc nguyên nhiên vật liệu có
nhiều lợi thế hơn so với phí đánh vào đầu ra.
Tuy nhiên, phí đánh vào nguyên liệu đầu vào không khuyến khích được các nhà
PVC,CFC . Một số nước đã áp dụng thành công việc thu phí đối với sản phẩm như
Anh, Colombia, đánh phí 5 USD cho một cặp axit-chì và 3 USD cho một chiếc lốp cao
su.
6
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ Ô NHIỄM NƯỚC THẢI Ở HÀ NỘI
I - TỔNG QUAN
Trước đây, Hà Nội chỉ là một thành phố nhỏ bé : Nội thành chỉ rộng 1200 ha có
cơ sở đô thị tương đối hoàn chỉnh, nhưng môi trường không khí, môi trường nước,
phân rác và tiếng ồn nói chung chưa bị ô nhiễm như hiện nay, bởi vì công nghiệp và
giao thông vận tải chưa phát triển, diện tích mặt nước và cây xanh chiếm tỷ trọng
tương đối cao, mật độ dân số còn thấp.
Hiện nay, Hà Nội có ba nguồn chính gây ra ô nhiễm môi trường là : sản xuất
công nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt của dân cư, trong đó sản xuất công
nghiệp là nguồn gây ra ô nhiễm lớn nhất.
Trong những năm gần đây tốc độ tăng GDP trung bình ở Hà Nội hàng năm là
10,55%, trong đó công nghiệp tăng 14,4%. Đã hình thành một số khu và điểm công
nghiệp tập trung như: Khu công nghiệp Thượng Đình, Vĩnh Tuy – Tương Mai, Chèm
- Cầu Diễn, Đuôi Cá – Pháp Vân Phần lớn các khu công nghiệp này có trang thiết
bị và công nghệ sản xuất lạc hậu, nên chúng gây thải ra nhiều chất độc hại gây ô
nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất, chất thải rắn
Cùng với các khu công nghiệp kể trên là các bệnh viện, hàng chục lò mổ lợn,
trâu, bò đã thải nước trực tiếp, không qua hệ thống xử lý, mà đổ thẳng vào hệ thống
thoát nước hay sông hồ trong thành phố.
Xe chạy đã gây ra bụi chì, khói dầu, bụi đường, bụi lốp mòn, bụi đất đá và ô
nhiễm tiếng ồn. Theo số liệu điều tra được thì cường độ dòng xe chạy trên phố lớn ở
Hà Nội là 40 – 50 nghìn xe máy và 6 – 8 nghìn ô tô trong mỗi ngày đêm. Cường độ
dòng xe chạy này chưa phải là cao so với các nước, nhưng vì chất lượng xe kém, đặc
biệt là các xe chạy dầu, xe lam, xe công nông cũng như chất lượng đường xấu, lại
thường xuyên bị đào bới sửa chữa, nên giao thông vận tải ở Hà Nội là một nguồn gây
H
2
Smg/l 3.2 29.75
Nguồn: Sở khoa học công nghệ và môi trường
Đối chiếu với tiêu chuẩn môi trường thì hàm lượng BOD bẩn gấp 5-10 lần so với
cùng loại nguồn nước bẩn ở các nước . Đặc biệt hàm lượng H
2
S lên tới 29.75 mg/l.
Lượng nước thải này làm cho sông Tô Lịch trở nên quá bẩn. Có những thời điểm
toàn bộ nước thải có màu trắng đục và lẫn xà phòng kem trong nước. Nhân dân vớt
về còn sử dụng được
2.1 Hiện trạng ô nhiễm nước thải ở lưu vực sông Kim Ngưu.
Cũng như sông Tô Lịch, Kim Ngưu là một trong 4 con sông thoát nước chính của
Hà Nội, tiếp nhận khoảng 30000m3/ngày nước thải của các nhà máy, hộ dân.
Mẫu ô nhiễm nước thải ở khu vực sông Kim Ngưu được thể hiện qua kết quả
khảo sát sau:
8
Thành phần của một số chất trong nước thải trong sông Kim Ngưu
Chỉ tiêu chất lượng nước thải Giá trị
PH mg/l 6.95-7.8
Hàm lượng cặn lơ lửng mg/l 31-232
COD mg/l O
2
27-114.4
BOD mg/l O
2
27.4-1292
NH
4
Nhìn chung, sự ô nhiễm nước thải của thành phố Hà Nội tương đối lớn. Thành
phần và tính chất nước trong các hồ chứa nước bị nhiễm bẩn cao, các chỉ tiêu đánh
giá COD, BOD, cho thấy điều đó.
9
CHƯƠNG III : XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÍNH PHÍ NƯỚC THẢI Ở HÀ NỘI VÀ VẬN
DỤNG ĐỂ TÍNH TOÁN
I - XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÍNH PHÍ NƯỚC THẢI
1. Nguyên tắc xây dựng phí bảo vệ môi trường.
Phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các nhà sản xuất, kinh doanh
đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi ô nhiễm theo hướng tích cực cho môi
trường. Ngoài ra, phí BVMT còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho Ngân
sách Nhà nước để đầu tư khắc phục và cải thiện môi trường. Với mục đích này , phí
BVMT là công cụ kinh tế được xây dựng trên hai nguyên tắc:
1.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ( PPP )
Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter pays principle) thì
người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để chính quyền thực hiện các biện
pháp làm giảm ô nhiễm , nhằm đảm bảo cho môi trường ở trong trạng thái có thể
chấp nhận được.
Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc này ta xem xét ví dụ sau: Giả sử có một công ty sản
xuất giấy từ các vật liệu thô. Trong quá trình sản xuất, họ tự tiện thải ra các chất gây
ô nhiễm vào sông dưới dạng các sản phẩm loại, mà không phải chi trả một đồng nào
cả. Như vậy, công ty đã gây thiệt hại cho môi trường, nhưng lại không bị thu một
đồng nào để bồi thường cho thiệt hại này. Nguyên tắc PPP cho rằng, công ty đó phải
lắp đặt một thiết bị giảm thải hoặc phải bồi thường cho những người sống ở cuối
dòng sông, tức là những người bị thiệt hại do việc gây ô nhiễm dòng sông gây ra.
Nguyên tắc PPP xuất phát từ luận điểm của Pigow về nền kinh tế phúc lợi. Trong
đó, nội dung quan trọng nhất đối với nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hàng hoá
và dịch vụ có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả chi phí môi trường. Giá cả
định các chính sách môi trường. Đó là: nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc hiệu quả
kinh tế, nguyên tắc cấp dưới, và nguyên tắc hiệu quả về luật pháp. Những nguyên tắc
này đã bổ xung cho các thiếu sót của nguyên tắc PPP.
1.2 Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền BPP
Nguyên tắc “ Người hưởng thụ phải trả tiền” ( Bene¢l pay principle) chủ trương
tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các các mục tiêu về môi trường. Ngược lại với việc
người trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền , người được hưởng một môi trường đã
được cải thiện cũng phải trả một khoản phí tức là tất cả những ai hưởng lợi do có
được môi trường trong lành không bị ô nhiễm , thì đều phải nộp phí. Có thể hiểu
phương pháp BPP một cách tổng thể hơn là: tất cả những ai hưởng lợi do có được
môi trường trong lành không bị ô nhiễm , thì đều phải nộp phí . Ví dụ như trường
hợp công ty sản xuất giấy đã gây ra ô nhiễm trên dòng sông thì nguyên tắc BPP đề
nghị rằng , những người sử dụng và tiêu thụ sản phẩm giấy của công ty đó cũng
phải trả một khoản phí về giấy và khoản tiền này sẽ được dùng để tài trợ cho các
biện pháp bảo vệ môi trường hay nói một cách khác , BPP kiến nghị rằng những
người sống ở hạ lưu sông có thể cùng nhau tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi
trường để bảo vệ con sông khỏi bị ô nhiễm.
11
Nguyên tắc BPP đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận
riêng . Thay vì PPP, nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải
thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những
người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường.
Thực hiện nguyên tắc BPP cũng sẽ tạo ra một khoản thu đáng kể. Mức phí tính
theo đầu người càng cao và càng có nhiều người nộp phí thì số tiền thu được càng
nhiều . Số tiền thu được theo nguyên tắc BPP có thể do những người muốn bảo vệ
môi trường , hoặc do những người không phải trả tiền cho việc thải ra các chất gây ô
nhiễm trong giá thành nộp. Tuy nhiên , vì tiền không phải do các công ty gây ô
nhiễm trực tiếp trả nên nguyên tắc này không tạo ra bất kỳ một sự khuyến khích nào
đối với việc bảo vệ môi trường trực tiếp.
Về thực chất , nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như một định hướng hỗ trợ
tiêu chuẩn về môi trường.
Điều 30 Luật BVMT quy định:” Tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và các hoạt động khác mà làm suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, gây
sự cố môi trường thì phải thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định của
UBND địa phương và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo luật định của pháp luật”.
Như vậy, ở điều này đã quy định rõ ràng hơn về đối tượng phải chịu trách nhiệm
khắc phục những hậu quả do mình gây ra đối với môi trường.
2.2 Nghị định 175 – CP về hướng dẫn thi hành Luật BVMT
Mục đích của Nghị định là nhằm cung cấp các chi tiết cụ thể về các lĩnh vực môi
trường đã được xác định trong Luật BVMT.
- Điều 8 nghị định 175/CP quy định : Tất cả các tổ chức và các cơ sở kinh doanh
đều phải tuân thủ hoàn toàn quy định đóng góp tài chính trong Luật BVMT và phải
bồi thường các thiệt hại gây ra đối với môi trường.
- Điều 32 nghị định 175/CP: Bộ Tài Chính chịu trách nhiệm quy định chi tiết các
nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường do các tổ chức, cá nhân đóng góp khi sử
dụng các thành phần môi trường vào mục đích sản xuất kinh doanh. Các nguồn tài
chính cho hoạt đọng bảo vệ môi trương gồm 3 nguồn:
+ Ngân sách Nhà nước
+ Lệ phí đánh giá tác động môi trường dựa trên cơ sở các lệ phí và các quy định
do Bộ Tài chính lập ra.
+ Các nguồn thu khác ( tiền phạt do vi phạm bảo vệ môi trường hay tiền viện trợ).
- Điều 34 nêu rõ các đối tượng phải trả cho công tác bảo vệ môi trường, bao gồm:
+ Khai thác dầu, khí đốt và các nguồn tự nhiên khác.
+ Sân bay, bến cảng, bến xe ô tô và tàu hoả.
+ Xe ngắn máy và các loại phương tiện giao thông khác.
+ Các lĩnh vực kinh doanh hoặc sản xuất có thể dẫn tới gây ô nhiễm.
- Điều 35 nêu rõ , các khoản tài trợ cho công tác bảo vệ môi trường sẽ được phân
bổ hàng năm cho các hoạt động sau:
+ Nghiên cứu khảo sát các nhân tố môi trường.
kém phần phức tạp. Khi xem xét vấn đề này, cần cân nhắc những điểm sau:
+ Suất phí cố định hay biến đổi ?
+ Hệ thống tiêu chuẩn môi trường hiện hành có liên quan gì tới hệ thống phí đề
xuất ?
+ Suất phí tính riêng biệt hay đồng nhất áp dụng cho các chất gây ô nhiễm khác
nhau ?
14
+ Suất phí áp dụng như nhau hay có phân biệt đối với các ngành, khu vực khác
nhau ?
Mức phí Mức phí
Lượng chất ô nhiễm Lượng chất ô nhiễm
Mức phí thu theo suất phí cố định Mức phí thu theo suất phí biến đổi
Sơ đồ biểu thị mức phí thu đối với các doanh nghiệp công nghiệp gây ô nhiễm
Từ sơ đồ trên em có quan điểm cho rằng : cho dù nhà máy hay bất cứ doanh nghiệp
nào giả sử không thải một đơn vị chất gây ô nhiễm bị đánh phí nào ra môi trường
nước thì họ vẫn tác động tới môi trường bằng việc thải các chất gây ô nhiễm khác
không nằm trong danh mục đánh thuế. Vì vậy, để có sự công bằng tương đối, các
doanh nghiệp không bị đánh phí đối với các chất gây ô nhiễm thì sẽ vẫn phải nộp
một khoản phí nhất định (như hình vẽ ).
Công thức tính tổng quát mức thu phí ô nhiễm nước thải sẽ là:
T = ( T
BOD
+ T
COD
+ T
TSS
+ T
KL
) * P
COD
* A
COD
* 10
-6
T
TSS
= M * X
TSS
* A
TSS
* 10
-6
T
KL
= M * X
KL
* A
KL
* 10
-6
Trong đó : M là tổng lượng chất thải có chứa các chất gây ô nhiễm thải ra môi
trường trong thời gian 1 tháng( m3 ).
X
BOD
, X
COD
, X
TSS
, X
+ T
TSS2
T
KL
= T
KL1
+ T
KL2
T
BOD1
= M * X
BOD1
* A
BOD1
* 10
-6
T
COD1
= M * X
COD1
* A
COD1
* 10
-6
T
TSS1
= M * X
TSS1
* A
TSS1
T
TSS2
= M * (X
TSS
– X
TSS1
) * A
TSS2
* 10
-6
T
KL2
= M * (X
KL
- X
KL1
) * A
KL2
* 10
-6
Trong đó: T
BOD1
, T
COD1
, T
TSS1
, T
KL1
: Phần phí ô nhiễm đối với khối lượng các chất gây
ô nhiễm nằm trong tiêu chuẩn cho phép (đồng).
tỉnh các TP
trực thuộc TW
Thị xã, thị
trấn ngoại
thành các
thành phố trực
thuộc tỉnh
Nông thôn,
miền núi
2.0 1 5 1.0 0.5
16
X
BOD2
, X
COD2
, X
TSS2
, X
KL2
: Nồng độ các chất gây ô nhiễm BOD, COD, TSS,
kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn môi trường theo TCVN 5945 – 1995.
A
BOD1
, A
COD1
, A
TSS1
, A
KL1
: Suất phí cho 1 kg BOD, COD, TSS, kim loại nặng
T = ( T
BOD
+T
COD
+T
TSS
) * P
T
BOD
= M * X
BOD
* A
BOD
* 10
-6
= 15000*10.8*5000*10
-6
= 810 VNĐ.
T
COD
= M * X
COD
* A
COD
*10
-6
= 15000*14.4*5000*10
-6
= 1080 VNĐ.
T
COD 5000 100000
TSS 5000 100000
Công thức áp dụng:
T = ( T
BOD
+T
COD
+T
TSS
) * P
Nhận thấy các chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép nên:
T
BOD
= T
BOD1
+T
BOD2
T
COD
= T
COD1
+ T
COD2
T
TSS
= T
TSS1
+T
TSS2
T
– 50)*A
BOD2
*10
-6
= 63600*(142.7-50)*100000*10
-6
= 589572 VNĐ.
T
COD2
= M*(X
COD
– 100)*A
COD2
*10
-6
= 63600*(188.4-100)*100000*10
-6
= 562224
VNĐ.
T
TSS2
= M*(X
TSS
-100)* A
TSS2
*10
-6
= 63600*(172-100)*100000*10
-6
= 457920
người phát sinh các chất thải gây ô nhiễm cho nguồn nước phải trả để bù đắp lại
những tổn hại mà họ đã gây ô nhiễm cho môi trường và những người xung quanh.
Xuất phát từ đặc thù của Hà Nội, em thấy hiện có thể thực hiện chế độ phí ô nhiễm
đối với nước thải với các đối tượng như sau đây:
Nước thải công nghiệp;
Nước thải sinh hoạt;
Nước thải từ các bệnh viện;
Nước thải từ các hoạt động nông nghiệp.
Đối với các đối tượng này, có thể áp dụng các loại phí ô nhiễm khác nhau, tuỳ
thuộc vào tính chất đặc thù của từng đối tượng. Cụ thể có thể áp dụng hai loại hình
phí ô nhiễm sau:
Phí đánh vào nguồn phát sinh ô nhiễm nước;
Phí đánh vào người sử dụng các dịch vụ xử lý nước thải.
Chương trình thu phí nước thải ở Hà Nội có thể được thiết kế thành nhiều giai
đoạn. Sự khác nhau giữa các giai đoạn được thể hiện ở độ phức tạp ngày càng cao
của các loại phí được áp dụng, ở cách tính này mức phí và phạm vi ngày càng được
mở rộng cho các đối tượng chịu thuế, cách phân chia thu phí nước thải thành các giai
đoạn khác nhau có những ưu điểm:
Cho phép áp dụng thử, rút kinh nghiệm trong phạm vi một số các doanh
nghiệp, rồi mới nhân ra diện rộng.
Cho phép các doanh nghiệp có thời gian làm quen với các công cụ kinh tế
và các mục tiêu môi trường.
19
Giảm bớt những “cái giá “phải trả cho những sai lầm có thể có khi thực
hiện một chính sách môi trường mới.
Giúp các cơ quan quản lý môi trường và các doanh nghiệp có thời gian để
hoàn thiện các hoạt động về quan trắc, đo đạc mức độ ô nhiễm, xác định ảnh hưởng
của từng loại ô nhiễm đối với đời sống kinh tế, xã hội nhằm tìm ra các cách tiếp cận
công bằng hơn cho việc áp dụng chế độ phí trong phạm vi các doanh nghiệp với
nhau, hay giữa doanh nghiệp với toàn xã hội.
4. p dng cụng c kinh t gúp phn kim soỏt ụ nhim mụi trng nc H
Ni_ V Xuõn Nguyt Hng.
1.1 Thực trạng ô nhiễm bụi
Hà Nội đợc ví nh một đại công trờng, hàng ngày tạo ra một lợng lớn bụi bẩn.
Nồng độ bụi bẩn ở các quận nội thành Hà Nội ngày một nhiều hơn.Trung bình ở các
nơi công cộng trong thành phố nồng độ bụi vợt quá chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần
(theo tiêu chuẩn của các nớc phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ,nồng độ bụi ở các thành
phố chỉ đợc phép vợt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1-2 lần). Hứng chịu nhiều nhất là các
khu đang xây dựng,cải tạo, sửa chữa : Mai Động, Thợng Đình, Ngã T vọng, Ngã T
Sở, vợt quá chuẩn cho phép 5 lần. Nồng độ các chất ô nhiễm khác đều vợt chuẩn
nhiều lần, cực độc có Pb, SO2.Nồng độ khí So2, CO,NO2 ở một số khu chung c, gần
khu công nghiệp thì vợt quá mức độ cho phép nhiều lần, ở một số nút giao thông lớn
trong thành phố nồng độ khí NO2 vợt quá tiêu chuẩn cho phép. Ô nhiễm bụi cao nhất
là vào những hôm trời hanh, gió mạnh. Trong khu vực nội thành cũng nh các khu công
nghiệp, TSP (Total Suspendend Patirculate) là chất ô nhiễm không khí quan trọng nhất,
với nồng độ cao hơn tiêuc huẩn việt nam gấp 2-3 lần. Các quận nội thành với dân số
khoảng hơn 1,5 triệu ngời, mỗi năm có 626,8 ngời chết, và 1547,9 ngời bị bệnh hô hấp
do nồng độ cơ bản của TSP trong không khí ngoài trời vợt quá TCVN 159,4mg/m3. Dĩ
nhiên dù cha có kết quả nghiên cứu định lợng vềTSP mới nhất hiện nay, ngời dân và
các cơ quan liên quan n ở Hà Nội vẫn dễ đồng cảm với nhau :Nạn ô nhiễm bụi tại các
quân nội thành Hà Nội chỉ có tăng mà không hề giảm.
1.2 Nguyên nhân gây ra ô nhiễm bụi
Có khá nhiều nguồn phát sinh bụi , nguyên nhân chủ yếu là do :
-Phế thải rắn trong xây dựng (đất , đá, sỏi ) vật liệu thi công thải ra.
-Bên cạnh đó là các phơng tiện vận tải gây ra, đặc biệt là các phơng tiện
vận chuyển vật liệu xây dựng. Toàn bộ những xe này phần lớn không che chắn đúng kĩ
thuật, để rơi vãi vật liệu xây dựng trên đờng phố. Các xe đi vào các quận nội thành từ
22h đêm, theo các con đờng chủ yếu nh - Đuôi Cá( đầu quốc lộ 1), đê Sông Hồng(Yên
Sở- Dốc Minh Khai), đờng Láng- Hoà Lạc, cầu Thăng Long cho thấy 95% số xe không
đảm bảo vệ sinh, không che chắn, để rơi vãi , đồng thời chở quá tải trọng(5694/5951