Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt khu dân cư phường Trường Thạnh, Quận 9 với công suất 600m3 ngày.đêm - Pdf 14

TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG – CN SINH HỌC

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÍNH TOÁN – THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC
TÍNH TOÁN – THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC
THẢI SINH HOẠT KHU DÂN CƯ P. TRƯỜNG THẠNH,
THẢI SINH HOẠT KHU DÂN CƯ P. TRƯỜNG THẠNH,
QUẬN 9. CÔNG SUẤT 600 (m
QUẬN 9. CÔNG SUẤT 600 (m
3
3
/ngày đêm)
/ngày đêm)
GVHD : Ths. Lâm Vĩnh Sơn
SVTH : Nguyễn Hữu Dậu
Lớp : 08HMT1
MSSV : 08B1080010
Chuyên ngành: Kỹ Thuật Môi Trường
Mã số ngành: 108

Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
CHƯƠNG: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Môi trường và những vấn đề liên quan đến môi trường là đề tài được bàn luận một
cách sâu sắc trong kế hoạch phát triển bền vững của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Trái đất – ngôi nhà chung của chúng ta đang bị đe dọa bởi sự suy thoái và cạn kiệt dần
tài nguyên. Nguồn gốc của mọi sự biến đổi về môi trường trên thế giới ngày nay do các
hoạt động kinh tế - xã hội. Các hoạt động này, một mặt cải thiện chất lượng cuộc sống
con người và môi trường, mặt khác lại mang lại hàng loạt các vấn đề như: Khan hiếm,

3. Nội dung của đồ án tốt nghiệp.
1. Thu thập số liệu, tài liệu, đánh giá tổng quan về dự án khu dân cư Phường Trường
Thạnh, khả năng gây ô nhiễm môi trường và xử lý nước thải trong khu dự án khu dân
cư Phường Trường Thạnh.
2. Khảo sát, phân tích, đo đạc, thu thập số liệu khu dự án khu dân cư Phường Trường
Thạnh.
3. Lựa chọn thiết kế công nghệ và thiết bị xử lý nước thải nhằm tiết kiệm kinh phí phù
hợp với điều kiện dự án khu dân cư Phường Trường Thạnh.
4. Lập kế hoạch thi công.
5. Xây dựng kế hoạch quản lý và vận hành hệ thống xử lý nước thải.
4. Phương pháp thực hiện.
+ Điều tra khảo sát, thu thập số liêu, tài liệu liên quan, quan sát trực tiếp, phân tích các
chỉ tiêu chất lượng nước thải.
+ Phương pháp lựa chọn:
 Dựa trên cơ sở động học của các quá trình xử lý cơ bản.
 Tổng hợp số liệu.
 Phân tích tính khả thi.
 Tính toán kinh tế.
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 4
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ KHU DÂN CƯ TRƯỜNG THẠNH
1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN.
1.1.1. Vị trí địa lý.
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông,
phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp
tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh
Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam. Với vị trí tâm điểm của khu vực
Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả

Thổ nhưỡng: Gồm hai loại chính:
- Khu vực đồi: Là vùng đất đỏ xen lẫn với cuội nhỏ. Sức chịu tải tốt (>1kg/cm
2
)
- Khu vực ruộng, dừa nước và sông rạch: Chủ yếu là đất phù sa nhiễm phèn và
mặn gồm cát, bùn, sét trộn lẫn bã thực vật. Sức chịu tải yếu (<0,7kg/cm
2
).
1.1.3. Địa chất.
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng
nước ngầm khá phong phú. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con
người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: Đất xám. Với hơn 45
nghìn hecta, tức khoảng 23,4 % diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh
có ba loại: Đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.
Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm
mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 6
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm
tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ
lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung
quan trọng.
Gồm 3 lớp đá chính:
• Larerit phong hoá ở phía trên
• Podzolic bao phủ các lớp đá gốc
• Lớp đá gốc
Đất đá có tính thấm nước yếu và có độ chịu lực tương đối tốt, trung bình 1,5 - 4
kg/m
2

Mực nước ngầm cách mặt đất 0,5 đến 1 m. Rạch Suối Tiên, rạch Gò Công là kênh
thoát nước chính của khu vực dư án khu dân cư phường Trường Thạnh.
1.1.6. Khí hậu và mưa.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt
độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5
tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ
Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình 27 °C, cao nhất lên tới
40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình
25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm
1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở
thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các thàng từ 5 tới 11,
chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố,
lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc.
Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.
Bảng1.1: Khí hậu bình quân của Thành Phố Hồ Chí Minh.
Khí hậu bình quân của Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trung bình cao °C (°F)
32
(90)
33
(91)
34
(93)
34
(93)
33
(91)
32
(90)

23
(73)
22
(72)
22 (72)
Lượng mưa mm (inch)
14
(0.6)
4
(0.2)
12
(0.5)
42
(1.7)
220
(8.7)
331
(13)
313
(12.3)
267
(10.5)
334
(13.1)
268
(10.6)
115
(4.5)
56 (2.2)
Nguồn: Đại sứ quán Việt Nam tại London 26 tháng 2 năm 2008

1.1.8. Động thực vật.
a. Thực vật có 3 kiểu rừng:
Rừng mưa nhiệt đới xanh quanh năm: Gồm nhiều tầng rậm rạp, dây leo chằng chịt,
thường phát triển trên các vùng đất cao. Hiện nay mật độ che phủ rừng thấp, nay chỉ
còn đồi trọc, cỏ tranh, cây bụi che phủ.
Rừng Sác: Phát triển trên những vùng đất thấp ngập mặn ở cửa sông, rất rậm rạp với
50 loài cây đặc trưng: Đước, bần, mấm, dừa nước… Hiện đang được trồng nhiều trên
20.000 ha ở Cần Giờ, vốn là rừng nguyên sinh, trong thời Pháp thuộc còn là rừng cấm,
nhưng trong thời gian chống Mĩ rừng này đã bị bom đạn Mĩ và chất độc màu da cam
tàn phá năng nề.
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 9
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
Rừng ngập mặn Cần Giờ khoảng 25000 ha, đã được UNESCO công nhận là khu dự
trữ sinh quyển ở Việt Nam.
Bưng: Phát triển trên đất phèn gồm các loại cây bụi và cây cỏ như: Bàng, lác, bưng,
lau, lá hẹ, tràm, bình bác…
b. Động vật.
Trước đây đa dạng, phong phú nhưng nay bị huỷ diệt do con người phá rừng. Trên
cạn: Cọp, Nai, Gấu, Heo Rừng, Khỉ, Vượn, các loại bò sát như trăn, rắn, rùa, kỳ
đà. Dưới nước: Rái cá, cá sấu, cá tôm, cua, sò…Các loại chim lele, vịt trời, cò,
vạc…Các loại dơi Các loại động thực vật sống thành quần thể theo môi trường
sinh sống tạo nên những hệ sinh thái cân bằng hoàn chỉnh của rừng Sác, đồng
bưng, đồng lúa, miệt vườn…
Hiện nay bị con người tàn phá làm biến đổi cả hệ sinh thái nhiều động vật không còn
thấy xuất hiện như cọp, gấu…
*Giải pháp: Trồng rừng, chăn nuôi gia đình, bảo vệ động vật hoang dã.
1.2. SƠ LƯỢC VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI.
1.2.1. Dân số.
Khu dân cư phường Trường Thạnh có dân số vào khoảng 3644 người. Mật độ dân số

thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những thập niên gần đây, nhiều
trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza
Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của
Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến
ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết,
trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó
khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại.
Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành
hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo
máy Có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố
lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây
khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh
vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 11
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
1.2.3. Giáo dục.
Ở Khu dân cư phường Trường Thạnh, lớp trí thức chiếm đa số. Về mặt hành chính,
Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cở sở giáo dục từ bậc mầm non
tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Việt Nam. Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non,
467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra,
theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139
trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo
dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư
thục.
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán,
công ty giáo dục đầu tư.

này đang bị ô nhiễm, người dân khu vực này chủ yếu là sử dụng nguồn nước ngầm để
sinh hoạt và khói bụi từ các hoạt động công nghiệp.
Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân viên y tế, trong đó có 3.399
bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so với con số 7.31 của năm 2002.
Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh.
Thế nhưng mạng lưới bệnh viện chưa được phân bổ hợp lý, tập trung chủ yếu trong nội
ô. Hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y
tế. Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ
sở dược tư nhân, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện lớn. Cũng tương tự hệ thống
y tế nhà nước, các cơ sở này tập trung chủ yếu trong nội ô và việc đảm bảo các nguyên
tắc chuyên môn chưa được chặt chẽ.
1.2.5. Quy mô dự án.
+ Tổng diện tích: 8,285 ha.
+ Đất ở: 4,23 ha chiếm tỷ lệ 51,05% trong đó: Đất bố trí nhà vườn chiếm: 55% diện tích
đất ở, đất bố trí nhà liên kết 45% diện tích nhà ở. Đất công trình công cộng: 4300 m
2
chiếm tỷ lệ 5,19%. Đất công viên – TDTT: 12600 m
2
chiếm tỷ lệ 15,20%. Đất giao
thông : 23.650 m
2
chiếm tỷ lệ 28,56%.
+ Mật độ xây dựng bình quân : 35%. Tầng cao trung bình : 3-4 tầng.
+ Dân cư dự kiến : hơn 3644 người. Tổng số căn nhà : 217 căn.
+ Nhà liên kế có sân vườn :6 x 20 m - Diện tích : 131,5 m
2
- 174 m
2
.
+ Nhà biệt thự liên lập :7 x 24 m.

a. Chất lượng nguồn nước.
Nguồn nước đặc trưng tại khu dân cư phường Trường Thạnh là nước mặt thuộc
nhánh sông Đồng Nai đoạn chảy qua địa bàn Quận 9, ngoài ra còn có một hệ thống
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 14
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
kênh rạch đan xen bên trong lẫn bên ngoài khu dân cư phường Trường Thạnh. Trên địa
bàn quận Thủ đức, quận 9 tập trung đa phần là các hoạt động chăn nuôi, sản xuất thực
phẩm, giấy, dệt nhuộm với nước thải không được xử lý mà xả ra suối cái. Chính vì thế,
chất lượng suối cái bi ô nhiễm nặng, nhất là vào mùa khô. Nước rạch có màu đen bốc
mùi hôi thối, gây ô nhiễm môi trường cho toàn khu vực của rạch. Trong đó, khu dân cư
phường Trường Thạnh cũng bi ô nhiễm.
Chất lượng nước sông Đồng Nai ở khu vực khu dân cư phường Trường Thạnh tốt hơn
so với khu vực sông Đồng Nai, khu vực tiếp nhận nguồn nước thải do sự tự làm sạch
của dòng sông. Tuy nhiên do nằng gần ranh giới giữa biển và sông nên chất lượng nước
sông bị tác động bởi nhiều yếu tố như sự nhập của triều cường, biển, kênh rạch nên
vào mùa khô nước có đặc trưng bị nhiễm mặn và có tính phèn cao.
Hiện nay, nước ngầm là nguồn nước cung cấp chính phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
của người dân trong khu vực. khảo sát tại một số giếng ngầm của các hộ dân cho thấy
chất lượng nước ngầm ở khu vực này khá tốt. mực nước ngầm cách mặt đất 1,5 – 2 m.
Nöôùc thaûi: Hiện tượng nước thải ở khu dân cư phường Trường Thạnh không được xử
lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi rất phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất không xử lý
nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn cũng chưa có hệ thống xử lý nước
thải.
• Nước mưa thu gom trên toàn diện tích dự án.
• Nước thải sinh hoạt của toàn bộ số người sinh sống trong khu dân cư.
• Nước thải từ các công trình hạ tầng dịch vụ.
b. Chất lượng không khí.
Chất lượng không khí tại khu dân cư phường Trường Thạnh tương đối tốt, chất lượng
không khí tại những điểm xa khu dân cư, các xí nghiệp, đường quốc lộ nồng độ chất ô

Sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau:
- Hoàn thiện công nghệ, sử dụng công nghệ không hoặc it chất thải
- Quản lý và vận hành đúng.
- Sử dụng cây xanh để hạn chế ô nhiễm không khí.
- Sử dụng thiết bị xử lý ô nhiễm không khí.
1.3.2.3. Chất thải rắn và chất thải nguy hại.
Vấn đề xử quản lý chất thải rắn được giải quyết như sau: Thu tất cả rác thải khu dân
cư phường Trường Thạnh ra khỏi khu dân cư mang đến khu xử lý rác thải tập trung
trong mỗi ngày. Sử dụng phương tiện chuyên dùng để tránh gây ra ô nhiễm môi trường.
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 16
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
2.1. Phương pháp xử lý cơ học.
Xử lý cơ học (hay còn gọi là xử lý bậc I) nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất
khơng tan (rác, cát, nhựa, dầu mỡ, cặn lơ lửng, các tạp chất nổi ) ra khỏi nước thải,
điều hòa lưu lượng và nồng độ các chất ơ nhiễm trong nước thải.
Các cơng trình xử lý nước thải băng phương pháp cơ học thơng dụng.
2.1.1 Song chăn rác và lưới chắn rác.
a. Song chắn rác.
Song chắn rác thường đặt trước hệ thống xử lý nước thải hoặc có thể đặt tại các
miệng xả trong phân xưởng sản xuất nhằm giữ lại các tạp chất có kích thước lơn như:
Nhánh cây, gỗ, lá cây, giấy, nilơng, vải vụn và các loại rác khác. Đồng thời bảo vệ các
cơng trình và thiết bị phía sau như bơm, tránh ách tắc đường ống, mương dẫn.
Hình 2.1: Phân loại song chắn rác
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 17
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Loại chắn rác
Loại chắn rác

Dựa vào khoảng cách các thanh, song chắn rác được chia thành 2 loại:
* Song chắn rác thô có khảng cách giữa các thanh từ: 60 ÷ 100 mm.
* Song chắn rác mịn có khảng cách giữa các thanh từ: 10 ÷ 25 mm.
Song chắn rác dùng để giữ lại các chất thải rắn có kích thước lớn trong nước thải để
đảm bảo cho các thiết bị và công trình xử lý tiếp theo. Kích thước tối thiểu của rác được
giữ lại tùy thuộc vào khoảng cách giữa các thanh kim loại của song chắn rác. Để tránh ứ
đọng rác và gây tổn thất áp lực của dòng chảy người ta phải thường xuyên làm sạch
song chắn rác bằng cách cào rác thủ công hoặc cơ giới. Tốc độ nước chảy (v) qua các
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 18
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
khe hở nằm trong khoảng (0,65m/s ≤ v ≤ 1m/s). Tùy theo yêu cầu và kích thước của rác
chiều rộng khe hở của các song thay đổi.
Song chắn rác với cào rác thủ công chỉ dùng ở những trạm xử lý nhỏ có lượng rác <
0,1m
3
/ng.đ. Khi rác tích lũy ở song chắn, mỗi ngày vài lần người ta dùng cào kim loại
để lấy rác ra và cho vào máng có lổ thoát nước ở đáy rồi đổ vào các thùng kín để đưa đi
xử lý tiếp tục. Song chắn rác với cào rác cơ giới hoạt động liên tục, răng cào lọt vào khe
hở giữa các thanh kim loại, cào được gắn vào xích bản lề ở hai bên song chắn rác có
liên hệ với động cơ điện qua bộ phận truyền động.
Khi lượng rác được giữ lại lớn hơn 0,1 m
3
/ng.đêm và khi dùng song chắn rác cơ giới
thì phải đặt máy nghiền rác. Rác nghiền đưọc cho vào hầm ủ Biogas hoặc cho về kênh
trước song chắn. Khi lượng rác trên 1 Tấn/ngày.đêm cần phải thêm máy nghiền rác dự
phòng. Việc vận chuyển rác từ song đến máy nghiền phải được cơ giới hóa.
Hiện nay ở một số nước trên thế giới người ta còn dùng máy nghiền rác
(communitor) để nghiền rác có kích thước lớn thành rác có kích thước nhỏ và đồng nhất
để dễ dàng cho việc xử lý ở các giai đoạn kế tiếp, máy nghiền rác đã được thiết kế hoàn

Có ba loại bể lắng cát chính: Bể lắng cát theo chiều chuyển động ngang của dòng chảy
(dạng chữ nhật hoặc vuông), bể lắng cát có sục khí hoặc bể lắng cát có dòng chảy xoáy
(bể lắng cát ly tâm).
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 20
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
∗ Bể lắng cát ngang.
Hình 2.4: Bể lăng cát ngang

GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 21
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
∗ Bể lắng cát thổi khí.
Hình 2.5: Bể lắng cát thổi khí
∗ Beå laéng caùt ly taâm
Hình 2.6. Sơ đồ bể lắng cát ngang với hệ thống cơ giới để lấy cặn
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 22
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
Sân phơi cát
Cặn xả ra từ bể lắng cát còn chứa nhiều nước nên phải phơi khô ở sân phơi cát hoặc
hố chứa cát đặt ở gần bể lắng cát. Chung quanh sân phơi cát phải có bờ đắp cao 1 ÷ 2
m. Kích thước sân phơi cát được xác định với điều kiện tổng chiều cao lớp cát h chọn
bằng 3 ÷ 5 m/năm. Cát khô thường xuyên được chuyển đi nơi khác.
Khi đất thấm tốt (cát, á cát) thì xây dựng sân phơi cát với nền tự nhiên. Nếu là đất
thấm nước kém hoặc không thấm nước (á sét, sét) thì phải xây dựng nền nhân tạo. Khi
đó phải đặt hệ thống ống ngầm có lỗ để thu nước thấm xuống. Nước này có thể dẫn về
trước bể lắng cát.
2.1.3. Bể tách dầu mỡ.
Các công trình này thường được ứng dụng khi xử lý nước thải công nghiệp. nhằm

SVTH: Nguyễn Hữu Dậu
Đồ án tốt nghiệp TT – TK hệ thống XLNT sinh hoạt khu dân cư P. Trường Thạnh – Q.9
* Bể lắng li tâm: Mặt bằng hình tròn. Nước thải được dẫn vào bể theo chiều từ tâm ra
thành bể rồi thu vào máng tập trung và được dẫn ra ngoài.
Hình 2.10 Bể lắng li tâm
2.1.6. Bể lọc.
Nhằm tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách cho nước thải đi
qua lớp vật liệu lọc, công trình này sử dụng chủ yếu cho một số loại nước thải công
nghiệp.
Phương pháp xử lý nước thải bằng cơ học có thể loại bỏ khỏi nước thải được 60%
các tạp chất không hoà tan và 20% BOD, hiệu quả xử lý có thể đạt tới 75% theo hàm
lượng chất lơ lửng và 30-35 % theo BOD bằng các biện pháp làm thoáng sơ bộ hoặc
đông tụ cơ học.
Nếu điều kiện vệ sinh cho phép thì sau khi xử lý cơ học nước thải được khử và xả lại
vào nguồn, nhưng thường thì xử lý cơ học chỉ là giai đoạn xử lý sơ bộ trước khi qua
giai đoạn xử lý sinh học.
Bể lọc thường làm việc với hai chế độ lọc và rửa lọc. Quá trình lọc chỉ áp dụng cho
các công nghệ xử lý nước thải tái sử dụng và cần thu hồi một số thành phần quí hiếm có
trong nước thải. Các loại bể lọc thường được phân loại như sau:
+ Lọc qua vách lọc.
GVHD: Th.s Lâm Vĩnh Sơn Trang 25
SVTH: Nguyễn Hữu Dậu

Trích đoạn CƠ SỞ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT Chất rắn trong nước thải. xuất các phương án xử lý nước thải sinh hoạt Phương án 1: Bể lọc sinh học nhỏ giọt.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status