Chương I: Những vấn đề cơ bản về kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ potx - Pdf 15

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA
THEO VÙNG LÃNH THỔ
I. Cơ sở khoa học hình thành quá trình kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ :
Quá trình kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ dựa trên các cơ sở khoa học sau
* Quá trình phân công lao động xã hội đòi hỏi phải có quá trình tổ chức và kế
hoạch hóa theo vùng lãnh thổ. Bởi vì kết quả phân công lao động xã hội sẽ làm
xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới mà các ngành sản xuất mới xuất hiện đó đòi
hỏi phải được phân bố vào các vùng lãnh thổ cụ thể, phải được tổ chức, quản lý
theo lãnh thổ mới có điều kiện phát triển được.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, tạo điều kiện
để con người nghiên cứu sản xuất ra được nhiều sản phẩm mới góp phần thỏa mãn
được mọi nhu cầu của con người. Từ đó nó đã thúc đẩy các ngành sản xuất mới
hình thành và phát triển và thúc đẩy quá trình quản lý kế hoạch hóa theo vùng lãnh
thổ phát triển nhanh hơn
* Do yêu cầu của các quy luật kinh tế đòi hỏi phải có quá trình tổ chức kế hoạch
hóa theo vùng lãnh thổ. Các quy luật kinh tế có yêu cầu chung là : nâng cao hiệu
quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đạt được yêu cầu đó đòi hỏi phải
vừa kế hoạch hóa theo ngành, vừa phải tổ chức tốt lãnh thổ cho các ngành hoạt
động.
Yêu cầu của các quy luật phát triển cân đối có kế hoạch nền kinh tế quốc dân
đòi hỏi phải duy trì, bảo đảm cân đối theo ngành, đồng thời duy trì đảm bảo cân đối
theo lãnh thổ. Trên cơ sở đó mới đảm bảo được các cân đối trên phạm vi nền kinh
tế quốc dân.
Trong thực tế chỉ thực hiện được các yêu cầu trên của các quy luật kinh tế
mới tạo ra được khả năng giảm được sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội
giữa các vùng, nâng cao được hiệu quả kinh tế
1
Mặt khác trong 3 yếu tố của sản xuất ( tư liệu lao động, đối tượng lao động
và sức lao động ) thì sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, nó gắn liền với những điều
kiện bảo đảm đời sống, bảo đảm tiêu dùng trên vùng lãnh thổ.

động
- Tổ chức quá trình vận tải
- Tổ chức hợp tác sản xuất
- Phân bổ, sử dụng : vốn, vật tư, lao động
- Lựa chọn địa điểm
- Tổ chức các mối liên hệ kinh tế, dịch vụ
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng :
- Vừa liên quan đến ngành
- Vừa liên quan đến vùng lãnh thổ
Tổ chức có kế hoạch các hoạt động trên đây
theo vùng lãnh thổ
Việt Nam đã sớm nhận thức về vai trò của lãnh thổ, nhưng đến Đại hội Đảng
lần thứ IV mới có kết luận xác đáng về vai trò của tổ chức và kế hoạch hóa theo
vùng lãnh thổ ở nước ta.
II. Những nội dung chủ yếu của tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ
1. Nội dung của kế hoạch hóa theo ngành :
Do nền kinh tế quốc dân càng phát triển thì quy mô của ngành ngày càng
được mở rộng và cơ cấu ngành ngày càng phức tạp. Từ đó đòi hỏi phải có tổ chức,
quản lý và kế hoạch hóa theo ngành nhằm giải quyết những vấn đề : chuyên môn
hóa, hợp tác hóa, giải quyết trang bị kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, tổ chức
lại sản xuất trong mỗi ngành.
Nội dung của tổ chức và kế hoạch hóa theo ngành bao gồm :
* Quản lý toàn bộ quá trình tái sản xuất mở rộng của ngành : Trên cơ sở xác định
nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về sản phẩm của ngành từ đó nghiên cứu và phát
triển khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong ngành
* Tổ chức điều hòa phối hợp hoạt động của các thành phần kinh tế trong phạm vi
ngành
* Thực hiện hợp tác hóa sản xuất giữa các xí nghiệp trong ngành hoặc giữa các
ngành khác nhau qua nhóm sản phẩm

Tuy nhiên điều đáng chú ý là : trong quá trình tổ chức, kế hoạch hóa theo
vùng lãnh thổ cần hướng vào tạo điều kiện cho ngành phát triển thuận lợi nhất, tận
dụng được mọi thế mạnh của vùng lãnh thổ, trên cơ sở đó mà thúc đẩy vùng,
ngành, nền kinh tế quốc dân cùng phát triển nhanh trong một cơ cấu kinh tế quốc
dân thống nhất, tức là tổ chức lãnh thổ, tạo điều kiện về mặt lãnh thổ, điều hòa phối
hợp hoạt động trên lãnh thổ
Còn kế hoạch hóa theo ngành chủ yếu là hướng dẫn quá trình tái sản xuất mở rộng
của ngành
3. Nội dung chủ yếu của kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ :
4
Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ bao gồm những nội dung chủ yếu sau :
a) Bố trí các cơ sở sản xuất của ngành vào vùng lãnh thổ, góp phần hình thành
cơ cấu kinh tế lãnh thổ có lợi nhất
Mục đích :
- Tạo ra được sự ăn khớp giữa yêu cầu của ngành và điều kiện cho phép của vùng
lãnh thổ
- Đưa ngành vào vùng để góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
vùng lãnh thổ
- Thúc đẩy cơ cấu kinh tế trung ương và kinh tế địa phương cùng phát triển trong
một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất
Cách làm :
- Vùng lãnh thổ phải biết mình đang cần sản phẩm gì ?. Cần ngành nào? Và lãnh
thổ có khả năng về những mặt nào ?
- Dựa vào đó để lựa chọn và bố trí những ngành sản xuất chính : bảo đảm sản xuất
những sản phẩm chủ lực của vùng lãnh thổ, có tỷ trọng lớn, chi phối đời sống của
vùng
- Lựa chọn, bố trí các cơ sở sản xuất phụ, bổ trợ, các cơ sở dịch vụ phục vụ đời
sống dân cư
b) Điều hòa hoạt động của các ngành trên lãnh thổ.
Mục đích :

cần thực hiện tốt quá trình phân bố lực lượng sản xuất
Phân bố lực lượng sản xuất là quá trình tổ chức lãnh thổ của sản xuất, là sắp
xếp, bố trí các đơn vị sản xuất, phục vụ sản xuất trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ và yêu cầu của nền kinh tế
quốc dân, yâu cầu của các quy luật kinh tế, quy luật tự nhiên
Đối với Việt nam hiện nay, trong phân bố lực lượng sản xuất cần chú ý đến
hai vấn đề :
6
- Chống tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần. Vì điều đó sẽ gây ra tình trạng hoặc
bỏ sót nhu cầu của xã hội hoặc cung vượt cầu đưa đến lãng phí của cải vật chất
- Phải tăng cường quản lý Vĩ mô trong phân bố và phát triển lực lượng sản xuất
Nhiệm vụ của phân bố lực lượng sản xuất:
- Tạo ra sự nhất trí giữa yêu cầu của ngành và điều kiện cho phép của lãnh thổ
nhằm đảm bảo cho ngành phát triển
- Thông qua quá trình phân bố lực lượng sản xuất, phát hiện những khả năng mới,
tiềm lực mới của lãnh thổ, từ đó có biện pháp huy động để phục vụ cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống dân cư.
Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện tốt quá trình phân bố lực lượng sản xuất
cần giải quyết một số vấn đề như:
- Mỗi vùng phải đánh giá cho được trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình
độ tổ chức không gian của lãnh thổ. Chẳng hạn như vùng Đông Nam bộ và 3 tỉnh
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận sản xuất ra 62% giá trị sản lượng công
nghiệp, bảo đảm 52% ngân sách nhà nước, Bảo đảm 70% kim ngạch xuất khẩu và
thu hút 53% dự án đầu tư nước ngoài
- Cần nghiên cứu để hiểu rõ những nguyên nhân nào đưa đến sự hình thành tổ chức
không gian lãnh thổ đó
- Từ đó đưa ra hướng tổ chức không gian đó cần được thay đổi như thế nào trong
tương lai
- Đánh giá đúng khả năng về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện về kinh tế - xã hội
của vùng và cả nước, nắm được xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của trong và

thổ Việt Nam thành 4 vùng kinh tế cơ bản. Nghị quyết Đại hội IV xác định " Tiến
hành phân vùng quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng: Đồng bằng, trung
du, miền núi và miền biển, sắp xếp hình thành những khu vực lớn, sản xuất tập
trung chuyên môn hóa"
Đại hội IV: Phân định Việt Nam thành 7 vùng kinh tế lớn :
8
- Đồng bằng Sông Hồng
- Đồng bằng Sông cửu Long
- Miền Đông Nam bộ
- Duyên hải Trung bộ
- Khu 4 cũ
- Miền núi, trung dự án phía Bắc
- Tây Nguyên
+ Tháng 3/1984 : Uy ban phân vùng kinh tế Trung ương ( thành lập năm 1977) đã
có dự án phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 4 vùng kinh tế lớn tổng hợp là : Bắc
bộ, Trung bộ, Tây nguyên, Nam bộ
+ Đến Đại hội Đảng VI : Dựa trên việc kế thừa cách phân vùng của Đại hội V đồng
thời yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu về phân vùng kinh tế ở
nước ta
+ Đến Đại hội VII: Tiếp tục nghiên cứu việc phân vùng kinh tế theo Đại hội V và
VI
+ Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII: Đưa ra 4 vùng kinh tế lớn theo tính chất địa lý:
- Vùng kinh tế đô thị
- Vùng Đồng bằng
- Vùng miền núi
- Vùng kinh tế biển
Song cách phân vùng này gặp khó khăn trong việc xây dựng và thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Từ đó chính phủ lại đưa ra dự án xây dựng vùng kinh tế theo 8 vùng kinh tế
Đồng bằng Sông Hồng gồm các tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc

năm 2005 sản xuất nông nghiệp đạt được 35 triệu tấn. Mục tiêu này phải được
thống nhất trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và đó cũng là mục tiêu
của 61 tỉnh thành phố trong cả nước.) đồng thời có kết hợp mới nâng cao được hiệu
10
quả của nền kinh tế quốc dân, các yêu cầu của các quy luật kinh tế mới được đảm
bảo
2. Yêu cầu đặt ra trong quá trình kết hợp :
- Nhằm tạo ra khả năng kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa
phương, tạo điều kiện cho 2 bộ phận kinh tế này trở thành một cơ cấu kinh tế quốc
dân thống nhất
- Quá trình kết hợp đó phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh của
các ngành và kinh tế vùng lãnh thổ, tức là pahỉ tạo ra 1 lực tác động cùng chiều vào
kinh tế ngành và kinh tế vùng, từ đó nhịp độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân được đảm bảo
- Phải phát huy được vai trò của ngành đối với vùng nhằm giúp các vùng khai thác
tận dụng những tiềm năng, lợi thế của vùng để phát triển kinh tế - xã hội
Từ đó chống được cục bộ địa phương, chia cắt trong quá trình phát triển
3. Nội dung chủ yếu cần được thực hiện trong quá trình kết hợp giữa ngành và
lãnh thổ
a. Kết hợp trong phân công tổ chức sản xuất: Đây là nội dung cơ bản nhất cần
được thực hiện trong quá trình kết hợp. Trong quá trình phân công tổ chức sản xuất
nếu gặp những trở ngại khó khăn thì ngành và vùng lãnh thổ cùng nhau bàn bạc để
giải quyết. Chẳng hạn như những khó khăn về nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn
nhân lực
b Kết hợp trong bố trí địa điểm: Trong quá trình bố trí địa điểm doanh nghiệp thì
ngành và vùng phải kết hợp với nhau để xác định : điều kiện cho phép, sự bố trí đó
có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến địa phương, hướng giải quyết.
c. Kết hợp trong quy hoạch và bố trí vốn đầu tư trên vùng lãnh thổ: Kết hợp
trong quy hoạch và bố trí vốn đầu tư trên vùng lãnh thổ : bố trí các ngành trên lãnh
thổ, bố trí vốn đầu tư phải được cả ngành và vùng thống nhất với nhau.

- Quy mô dân cư, Dân tộc, Điều kiện để phát triển giao thông vận tải, Vấn đề
phòng thủ. Dựa trên những điều kiện đó, ở nước ta đã phân chia đơn vị lãnh thổ
hành chính như sau :
4. Lãnh thổ kinh tế được hình thành dựa trên các điều kiện :
Việt Nam
Tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương
Quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh, thành phố
Xã, phường, thị trấn
13
- Tận dụng những điều kiện hình thành ra đơn vị lãnh thổ hành chính
- Đặc biệt là các điều kiện :
- Điều kiện tài nguyên khí hậu, vị trí địa lý
- Quy mô dân cư, cơ cấu dân cư
- Quy mô lao động, cơ cấu và chất lượng lao động
5. Vùng kinh tế : Đơn vị lãnh thổ kinh tế có tên chung là vùng kinh tế. Vùng kinh
tế có nhiều loại, song các nhà kinh tế quan tâm đến 2 loại vùng chủ yếu là :
- Vùng kinh tế chuyên môn hóa ( vùng kinh tế mỏ, vùng công nghiệp )
- Vùng kinh tế tổng hợp. Vùng kinh tế tổng hợp lại được chia ra thành các cấp vùng
khác nhau tùy thuộc vào quy mô của nó :
+ Vùng kinh tế cơ bản ( vùng kinh tế lớn )
+ Vùng kinh tế loại vừa. Ở Việt Nam vùng kinh tế loại vừa là vùng
lãnh thổ hành chính kinh tế cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
+ Vùng kinh tế loại nhỏ : đó là các tiểu vùng, kinh tế thường trùng hợp
với cấp huyện
Từ những phân tích trên đây, ở nước ta, tỉnh và huyện, quận và thành phố
không chỉ có ý nghĩa, chức năng về hành chính mà còn có ý nghĩa về kinh tế của
một cấp vùng lãnh thổ kinh tế
II. Ý nghĩa và nhiệm vụ về mặt quản lý kinh tế, kế hoạch hóa của cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam.

Thực hiện tốt các cân đối lãnh thổ
Bảo đảm đời sống của dân cư nhằm bảo đảm tái sản xuất sức lao động trên
lãnh thổ
- Ap dụng một số biện pháp nhằm thực hiện hợp lý hóa lãnh thổ để tăng năng suất
lao động, giảm chi phí lao động xã hội trong sản xuất.
15
4. Về phương diện nghiệp vụ, cơ quan kế hoạch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có những nhiệm vụ :
- Chuyển hóa chiến lược kinh tế - xã hội, các phương án phân vùng, phân bố lực
lượng sản xuất của cả nước thành các chiến lược, các phương án của địa phương
phù hợp với điều kiện của địa phương, đồng thời tham gia nghiên cứu các chuyên
đề về kinh tế - xã hội chung của cả nước ( xây dựng chiến lược, quy hoạch )
- Tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn tỉnh, thành phố, xây dựng các cân đối hiện vật và giá trị trên địa bàn địa
phương, làm tham mưu giúp ủy ban nhân dân tỉnh điều hành quản lý nhà nước về
kinh tế trên địa bàn
- Nghiên cứu nhằm cụ thể hóa các chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước cho phù
hợp với điều kiện địa phương
- Cơ quan kế hoạch đầu tư cấp tỉnh, thành phố còn chủ trì trong việc tổ chức xét
duyệt dự án đầu tư các công trình kinh tế của địa phương, tham gia xét duyệt các
công trình của trung ương và của các địa phương khác trên lãnh thổ, xây dựng hệ
thống định mức kinh tế kỹ thuật để chính quyền địa phương ban hành trên lãnh thổ
Như vậy : Cơ quan kế hoạch đầu tư cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương phải giải quyết những công việc nhằm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
của một cấp vùng lãnh thổ hành chính kinh tế loại vừa
5. Ý nghĩa chiến lược của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
* Nếu xét về phương diện lý luận và thực tiễn thì Việt Nam chưa trải qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa nên :
Cùng một lúc phải giải quyết hai loại vấn đề : Một loại vấn đề của cách mạng xã

phương. Thực trạng về dân cư và lao động trên địa bàn. Cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện có của địa phương. Khả năng về vốn của các thành phần kinh tế
17
Nắm được yêu cầu và nội dung về kinh tế - xã hội mà trung ương phân cấp cho
tỉnh, thành phố.
Nắm yêu cầu liên doanh liên kết, nhận đầu tư từ bên ngoài
2. Xây dựng phương hướng phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm cho địa
phương
Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội rất đa dạng do lợi thế so sánh, thực
trạng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khả năng về các nguồn lực như vốn, nhân
lực, tài nguyên, khoa học công nghệ, thị trường khác nhau. Từ đó phương hướng
phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương cũng khác nhau.
3. Tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình kết hợp công nghiệp với nông nghiệp
trên vùng lãnh thổ.
Vì sao phải kết hợp công nghiệp với nông nghiệp ? Vì thông qua quá trình
kết hợp đó sẽ tạo ra những tác động to lớn như :
- Công nghiệp sẽ tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp đi vào thâm canh
tăng vụ, tăng nhanh năng suất cây trồng vật nuôi.
Ví dụ Công nghiệp cung cấp máy móc thiết bị nông cụ bảo đảm các điều
kiện cải tạo đất
- Thúc đẩy quá trình phân công lao động ngay trong nông nghiệp : vì khi ngành
nghề được phát triển sẽ thu hút thêm lao động nông thôn, lao động sẽ di chuyển từ
trồng cây lương thực sang trồng cây công nghiệp, lao động dịch vụ tăng lên rõ rệt.
Qua kết hợp không chỉ làm cho nông thôn không chỉ đơn thuần là nông nghiệp mà
kinh tế nông thôn phát triển đa dạng, tổng hợp, gắn nông thôn với thành thị, tạo
điều kiện để xây dựng nông thôn mới
- Những hình thức để kết hợp nông nghiệp với công nghiệp :
+ Sử dụng hợp đồng kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp để kết hợp
+ Kết hợp giữa sản xuất công nghiệp chế biến nông sản với sản xuất nông nghiệp
+ Hình thành các tổ hợp công nghiệp, nông nghiệp hay liên hiệp công nông nghiệp

- Điều kiện về nhà ở, học tập, vui chơi giải trí, bảo vệ sức khỏe
Để cải thiện điều kiện lao động, điều kiện sống cần áp dụng một số
biện pháp như :
- Giảm lao động nặng nhọc bằng cách trang bị đầy đủ công cụ lao động, thực hiện
cơ giới hóa quá trình sản xuất
- Mở rộng sản xuất với sự tham gia của các thành phần kinh tế nhằm tăng thu nhập
và tăng mức cung cấp sản phẩm
- Thực hiện tốt những quy định về bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường sống, môi
trường sản xuất
- Phát triển kết cấu hạ tầng
- Xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, chống các tệ nạn xã hội trong dân cư
5. Tổ chức ra những tổng hợp thể kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương :
Tổng hợp thể kinh tế đó là mối liên hệ kinh tế nhiều ngành trong vùng, các
ngành, các đơn vị phát triển nhờ sự tác động tổng hợp, hổ trợ lẫn nhau, tạo ra khả
năng phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả cao
Vì sao phải tổ chức tổng hợp thể kinh tế :
- Để cho quá trình sản xuất diễn ra trên lãnh thổ thì phải có quá trình kết hợp giữa
các yếu tố sản xuất : tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động.
Sự kết hợp đó càng tốt, càng chặt chẽ thì hiệu quả sản xuất càng cao. Điều đó đòi
hỏi phải tổ chức ra các tổng hợp thể kinh tế
- Sự phát triển chuyên môn hóa sản xuất luôn luôn gắn liền với sự phát triển tổng
hợp của vùng. Đây là một vấn đề có tính chất quy luật. Trong thực tế để cho tính
quy luật đó trở thành hiện thực cần có tác động của lãnh thổ tức là phải tổ chức cho
được tổng hợp thể kinh tế trên lãnh thổ
Để tổ chức tổng hợp thể kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương cần giải quyết một số vấn đề sau :
20
- Vạch cho được chương trình phát triển của vùng. Chương trình này phải dựa trên
cơ sở kết quả phân vùng quy hoạch của cả nước. Khi vùng đã có chương trình phát

- Xí nghiệp cơ khí đó sản xuất loại sản phẩm cơ khí nào là phù hợp
- Trình độ của xí nghiệp cơ khí ( sửa chữa, chế tạo )
* Mối liên hệ tỷ lệ về số lượng đó là sự cân đối giữa các nhóm ngành
Chẳng hạn như trong một vùng lãnh thổ phải đảm bảo cân đối giữa các
ngành sản xuất vật chất, giữa các ngành sản xuất phục vụ, giữa sản xuất và đời
sống
Như vậy thực chất của mối liên hệ tỷ lệ về số lượng là muốn đề cập đến vấn
đề cân đối giữa yêu cầu của ngành với điều kiện cho phép của lãnh thổ
2. Cơ cấu lãnh thổ bao gồm những bộ phận nào :
1. Cơ cấu sản xuất của lãnh thổ :
Cơ cấu sản xuất của lãnh thổ đó là cơ cấu sản xuất đã được lựa chọn và việc
bố trí cơ cấu đó trong vùng lãnh thổ với mục đích hình thành cho được các tổng
hợp thể kinh tế
Trong điều kiện hiện nay bố trí cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp trên lãnh
thổ cần bảo đảm những yêu cầu sau :
- Chuyển mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo kiểu tự túc tự cấp sang cơ cấu sản
xuất với tỷ suất hàng hóa cao, tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp hòa nhập với
nền kinh tế thị trường
- Khi bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng phải theo nguyên
tắc kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp với công nghiệp chế
biến, với phát triển tiểu thủ công nghiệp
- Phải gắn vấn đề xã hội vào trong cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp tức
là không tách rời việc giải quyết vấn đề sản xuất với vấn đề xã hội trong nông thôn.
- Gắn yêu cầu xuất khẩu vào trong quá trình xây dựng cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp trên lãnh thổ. Vì yêu cầu xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
22
ngày càng tăng và có vị trí quan trọng. Hơn nữa có tham gia xuất khẩu thì nông
nghiệp mới có điều kiện tăng cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng yêu cầu nâng cao chất
lượng sản phẩm nông nghiệp, từ đó nông nghiệp có điều kiện đi nhanh vào sản xuất
hàng hóa, có điều kiện tiếp nhận quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông

Ý nghĩa : nếu tạo ra được một cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động hợp lý mang tính
chất sản xuất sẽ là một điều kiện để cân đối được sản xuất với tiêu dùng. Tận dụng
được
tiềm năng của địa phương do kết hợp tốt giữa lao động và tài nguyên
Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải kế hoạch hóa phát triển điểm dan cư và lao
động trên vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện của vùng.
Vấn đề dân số ở Việt Nam nói chung và trên các vùng lãnh thổ nói riêng :
- Tăng nhanh ( năm 1945 : 25 triệu người, năm 1976 : 49 triệu người, 1989 : 64
triệu người, năm 1999 : 76,5 triệu người )
- Năng suất lao động trong công nghiệp, nông nghiệp đều thấp
- Chưa thực sự tạo được khả năng thích ứng giữa gia tăng dân số và tăng trưởng
kinh tế
* Yêu cầu đặt ra trong xây dựng cơ cấu dân cư trên lãnh thổ là :
- Bảo đảm tỷ lệ hợp lý về độ tuổi, về trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật phù hợp
với cơ cấu sản xuất. Chẳng hạn như về độ tuổi phải đảm bảo 40-45% ở độ tuổi từ
15-55 (nữ) , 15-60 (nam). Về trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn
nghiệp vụ phải xuất phát từ cơ cấu sản xuất từ yêu cầu sản xuất mà đào tạo và tiếp
nhận cán bộ. Chẳng hạn như cơ cấu cán bộ khoa học kỹ thuật của thành phố khác
với nông thôn
- Bảo đảm tỷ lệ hợp lý về các loại nhân khẩu trên lãnh thổ :
Tỷ lệ nhân khẩu cơ bản : là bộ phận lao động chính, thuộc các ngành nghề chủ yếu
chiếm từ 25-35% và xu hướng là loại nhân khẩu này tăng
24
Tỷ lệ nhân khẩu phục vụ : quản lý, giáo dục, y tế , văn hóa . Loại nhân khẩu này
chiếm 15-20% và có xu hướng tăng
Tỷ lệ nhân khẩu phụ thuộc : từ 0 đến 14 tuổi và trên 60 ( nam ), 55 ( nữ ). Loại này
thường chiếm 45-60% và có xu hướng giảm
Chẳng hạn như tỷ lệ nhân khẩu từ 0 đến 14 tuổi ở một số nước như sau : Nga :
29,55. Việt Nam : 42,5%. Mỹ : 30,1%. Ba Lan : 27,5%. Anh : 23,7%. Nhật :
24,8%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status