ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỒNG THỊ NHÂN
PHÁP LUẬT VỀ
NGÂN HÀNG LIÊN DOANH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn : TS Võ Đình Toàn
2.1. Mô hình ngân hàng liên doanh theo pháp luật Việt Nam 19
2.2. Một số nội dung cơ bản về Quy chế tổ chức và hoạt động
của Ngân hàng liên doanh ở Việt Nam
24
Chương 3.
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG LIÊN
DOANH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
58
3.1. Thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh ở Việt Nam58
3.2. Kinh nghiệm hoạt động của Ngân hàng liên doanh tại một
số nước
78
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các luật liên quan đến
hoạt động của ngân hàng liên doanh
81
KẾT LUẬN
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu và đang diễn ra ngày
càng sâu rộng về nội dung và qui mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được bắt đầu từ năm 1986, khi Đại hội Đảng
lần thứ VI đã mở đường cho công cuộc đổi mới một cách toàn diện theo hướng
chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định
tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Các ngân hàng thương mại trong nước sẽ
được tiếp cận, học hỏi công nghệ ngân hàng tiên tiến từ đó cải tiến, nâng cao kỹ
thuật nghiệp vụ ngân hàng đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn dịch vụ ngân hàng và
kinh doanh tiền tệ. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về quy chế pháp lý của ngân hàng liên doanh để có giải pháp hoàn thiện là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu:
Pháp luật về Ngân hàng liên doanh là một đề tài mới và phức tạp ở nước ta,
chưa được các nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu nhiều, mà chủ yếu được
đề cập nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành về kinh tế và được thể hiện trong một
số giáo trình đại học chuyên ngành luật, chuyên ngành kinh tế, các bài viết, sách
tham khảo, một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này, như: 1) "Ngân
hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài" của Đào Minh Phúc, Luận án Tiến
sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2009; 2) "Các giao dịch thương
mại chủ yếu của Ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam" của Nguyễn Văn Tuyến, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, năm 2004; 3) "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" của Ngô Quốc Kỳ, Nxb. Tư pháp, năm
2005; 4) "Địa vị pháp lý của Ngân hàng liên doanh ở Việt Nam" của Nguyễn Thanh
Tú, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2000; 5) "Quy chế
pháp lý của Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam" của Nguyễn Thị Hoa, Khóa luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010
Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có
hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quy chế pháp lý của Ngân hàng liên
doanh ở Việt Nam dưới góc độ là một luận văn thạc sỹ luật học.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, tôi xin phép nghiên cứu những
quy định cơ bản nhất về quy chế pháp lý của ngân hàng liên doanh với nước ngoài
tại Việt Nam. Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ vai trò của ngân hàng liên
doanh đối với sự phát triển kinh tế, quy định của pháp luật về hoạt động của ngân
hàng liên doanh…; trên cơ sở xem xét hệ thống pháp luật thực định về ngân hàng
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANHTrong chương này, tác giả nghiên cứu 4 mục lớn:
1.1. Quá trình ra đời, phát triển của Ngân hàng liên doanh và mô hình ngân
hàng liên doanh;
1.2. Sơ lược về ngân hàng liên doanh ở một số nước;
1.3. Sự hình thành của Ngân hàng liên doanh và vai trò của nó trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam;
1.4. Khái niệm quy chế pháp lý của Ngân hàng liên doanh.
Qua nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm quy chế pháp lý của ngân hàng liên
doanh, như sau:
- Ngân hàng liên doanh là TCTD có bản chất pháp lý thuộc loại hình Công ty
TNHH có từ hai thành viên trở lên.
- Quy chế pháp lý của ngân hàng liên doanh gồm các quy tắc xử sự được bảo
đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.Sự ra đời của các ngân hàng liên doanh
mang tính tất yếu khách quan, phù hợp với tình hình lịch sử và điều kiện kinh tế của
các nước đang phát triển. Ngân hàng liên doanh đã đóng góp những nhân tố tích cực
cho sự phát triển kinh tế tại các nước.
Chương 2
QUY CHẾ PHÁP LÝ
CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH Ở VIỆT NAM
Trong chương này tác giả nghiên cứu 2 mục lớn:
2.1. Mô hình ngân hàng liên doanh theo pháp luật Việt Nam
Tại mục 2.1.1 tác giả trình bày khái niệm về ngân hàng liên doanh. Ngân
hàng liên doanh tại Việt Nam hiện nay là liên doanh giữa ngân hàng thương mại
quốc doanh Việt Nam và ngân hàng nước ngoài trên cơ sở góp vốn để hình thành
nên một ngân hàng thương mại mới, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc
lập, hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, góp phần phát triển hệ thống
ngân hàng trong nước, thúc đẩy các quan hệ kinh tế - thương mại phát triển.
quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật doanh nghiệp năm
2005, Luật đầu tư năm 2005; đặc biệt được quy định chi tiết cụ thể trong Luật các
TCTD năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2010, Nghị định số 22/2006/NĐ-CP
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã điều chỉnh tương đối toàn diện về tổ chức
và hoạt động của ngân hàng liên doanh. Tuy nhiên, trong tình trạng chung của pháp
luật về ngân hàng, các quy định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng liên doanh
còn rất tản mạn, có nhiều ở hình thức văn bản và do nhiều cơ quan ban hành. Do đó
cần nghiên cứu để có giải pháp khắc phục hướng tới mục tiêu là thống nhất, công
khai và minh bạch. Tổ chức và hoạt động của ngân hàng liên doanh được điều chỉnh
bởi các quy phạm pháp luật có ở nhiều văn bản, do đó, việc nghiên cứu, đánh giá và
đề xuất giải pháp hoàn thiện phải mang tính đồng bộ.
Chương 3
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
3.1. Thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh ở Việt Nam
3.1.1. Thực tiễn hoạt động chung của ngân hàng liên doanh
Ngân hàng liên doanh có khá nhiều ưu thế so với chi nhánh ngân hàng nước
ngoài hoạt động tại Việt Nam và ngân hàng thương mại trong nước nên ngay từ khi
mới được thành lập và đi vào hoạt động ngân hàng liên doanh đã thu được những
kết quả rất quan trọng. Trong hoạt động huy động vốn, các ngân hàng liên doanh đã
huy động được một số lượng tiền gửi đáng kể, so với các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, hoạt động tín dụng của các ngân hàng liên doanh rõ ràng được triển khai
nhanh hơn và mức độ khá ổn định, trong khi tỷ lệ vốn vay trên tổng nguồn vốn của
các ngân hàng cổ phần Việt Nam hầu như không thay đổi với các ngân hàng liên
doanh.
Các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam góp phần quan trọng
trong việc thúc đẩy thị trường dịch vụ ngân hàng phát triển, đưa công nghệ ngân
hàng mới vào Việt Nam và bảo đảm sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng,
lệ hiện nay là 100 triệu USD.
Các bên liên doanh là Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICBV) và Ngân
hàng Cathay United (CUB) của Đài Loan. IVB với Hội Sở chính tại Thành phố Hồ
Chí Minh và Chi nhánh Tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương và
Đồng Nai đã và đang trở thành một trong những đầu mối tài chính đứng đầu của các
công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. IVB tham gia tích cực vào quá trình phát
triển kinh tế của Việt Nam bằng việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng đa dạng với
chất lượng tốt cho tất cả các thành phần kinh tế trong cả nước. Sau nhiều năm hoạt
động, IVB đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, thu nhập tăng nhanh so với chi
phí, lợi nhuận tăng tạo điều kiện tăng các quỹ dự trữ pháp định, tăng nguồn bổ sinh
cho vốn tự có của ngân hàng.
3.2. Kinh nghiệm hoạt động của Ngân hàng liên doanh tại một số nước
Trong mục này tác giả đã nêu kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên
doanh tại hai nước Trung Quốc và Inđônêxia. Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật
đối với các ngân hàng liên doanh ở một số nước như Inđônêxia, Trung Quốc có một
số vấn đề chủ yếu như: Cả hai nước Inđônêxia và Trung Quốc đều thấy rõ những
hạn chế của ngân hàng liên doanh nên đã có một số giải pháp cơ bản giống nhau.
Để giảm đi sự phức tạp trong các ngân hàng liên doanh và nhằm tạo ra những kênh
an toàn trong việc thu hút vốn từ nước ngoài, hầu hết các ngân hàng liên doanh tại
Inđônêxia và Trung Quốc đều là ngân hàng liên doanh giữa hai bên: một bên là các
ngân hàng thương mại trong nước có tiềm lực kinh tế với một bên là các ngân hàng
thương mại có tầm cỡ trên thế giới. Inđônêxia và Trung Quốc hướng hoạt động của
các ngân hàng liên doanh vào các lĩnh vực mà nền kinh tế quốc dân đang cần, trong
khi các ngân hàng thương mại trong nước chưa đủ sức thực hiện đặc biệt là các hoạt
động mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nền kinh tế như hoạt động bằng ngoại tệ…
Tuy nhiên, chủ trương cho phép thành lập các ngân hàng liên doanh, biện
pháp quản lý và sự điều chỉnh các quy định trong quá trình quản lý ở hai nước khác
nhau: Inđônêxia với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, chiến lược phát triển kinh tế
mở cửa hướng ngoại ngay sau khi giành độc lập nên đã khuyến khích tối đa sự có
mặt của các ngân hàng liên doanh. Vào giai đoạn sau, khi các ngân hàng thương
liên doanh ở Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X đã xác định: “Đẩy mạnh việc
xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu
cầu thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế nhất là
các Luật Thương mại, Luật phá sản doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự, Luật các Tổ
chức tín dụng, Luật ngân sách Nhà nước, Luật Đất đai…”. Nền kinh tế Việt Nam
đang từng ngày, từng giờ đổi mới với nhịp độ tăng trưởng ổn định. Vì vậy, để đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, các quy định của pháp luật về tài chính -
ngân hàng, cụ thể là Luật Ngân hàng Nhà nước mới và Luật các TCTD mới cần
được điều chỉnh theo hướng hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ
hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - dịch vụ ngân
hàng; tạo lập môi trường pháp lý minh bạch và công bằng trong lĩnh vực tiền tệ
ngân hàng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống, điều chỉnh mọi
hoạt động tiền tệ, ngân hàng không phân biệt đối tượng tiến hành hoạt động ngân
hàng .
3.3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các luật liên quan đến hoạt động
của ngân hàng liên doanh.
3.3.3.1. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005
Một trong những vấn đề của Bộ luật Dân sự năm 2005 liên quan đến hoạt
động ngân hàng là quy định về lãi suất. Bộ luật Dân sự quy định mức tối đa đối với
lãi suất vay: “Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá
150 % của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay
tương ứng” (khoản 1 Điều 476). Nói cách khác, thoả thuận về lãi suất cho vay cao
hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định là trái pháp luật. Quy
định này còn chưa phù hợp với nhiều quy định pháp luật khác và hạn chế sự chủ
động của hoạt động ngân hàng. Thực tế, mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín
dụng được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi, chi phí huy động vốn, thời hạn vay,
uy tín của khách hàng… và chịu tác động của hoạt động cạnh tranh trên thị trường
ngoài đối với cổ phiếu ngân hàng.
- Thứ hai, sửa đổi quy định về cơ chế nhập cư và hành nghề lao động của
người nước ngoài ở Việt Nam. Cần đơn giản hoá các thủ tục về xin cấp giấy phép
lao động, hợp pháp hoá lãnh sự, công chứng và xác minh lý lịch tư pháp của người
lao động nước ngoài, thời hạn lao động tối đa của người lao động nước ngoài ở Việt
Nam.
3.3.3.4. Cụ thể hoá các quy chế hoạt động của ngân hàng liên doanh theo
hướng phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
- Một là, sửa đổi, bổ sung, xây dựng các văn bản pháp luật mới cho phù hợp
với các cam kết quốc tế.
- Hai là, tham gia một số các điều ước quốc tế về thương mại theo nghĩa
rộng, đặc biệt là thương mại dịch vụ - phần về lĩnh vực ngân hàng tài chính. Việc
tham gia một số điều ước quốc tế về thương mại, dịch vụ sẽ tạo tiền đề, điều kiện
thuận lợi để Việt Nam thực hiện “ luật chơi chung” của các tổ chức tín dụng trong
thương mại quốc tế
- Ba là, nghiên cứu khả năng áp dụng án lệ; tập quán quốc tế thông qua việc
thừa nhận, công nhận về mặt pháp lý các quy tắc, tập quán quốc tế trong hoạt động
ngân hàng như UCP500 về giao dịch tín dụng chứng từ, Quy tắc UNCITRAL…
- Bốn là, xây dựng và hoàn thiện chế định công khai văn bản pháp luật ngân
hàng phù hợp với các yêu cầu về tính minh bạch, công khai. Theo cam kết của Việt
Nam, chỉ các văn bản pháp luật được công khai, minh bạch, rộng rãi và dễ tiếp cận
đối với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động
thương mại mới có giá trị bắt buộc thi hành.
KẾT LUẬN
Ngân hàng liên doanh nói riêng và ngân hàng nước ngoài nói chung đang có
một môi trường hoạt động tương đối thuận lợi, đầy triển vọng, sẽ đầu tư và tham gia
nhiều hơn vào thị trường tài chính Việt Nam thông qua các sản phẩm mới, cung cấp
dịch vụ ngân hàng hiện đại với những thông lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần xây