TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM
HIỆN TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
”.
Sinh viên thực hiện :Dƣơng Thị Phƣơng Thanh
Lớp :
Khóa : 41 D
Giáo viên hướng dẫn: THS. Phạm Thị Song Hạnh
Hà Nội, 11/2006
2
thƣơng mại, và đặc biệt đi sâu phân tích các nghiệp vụ Kinh doanh ngoại hối để trên cơ
sở này sẽ phân tích thực trạng hoạt động này tại Ngân hàng Techcombank.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu,
phân loại, thống kê, so sánh và tổng hợp, kết hợp với các bảng, biểu để minh hoạ và
phân tích.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục thuật ngữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo và kết luận, khóa luận có kết cấu gồm ba chƣơng nhƣ sau :
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về Kinh doanh ngoại hối
Chương 2: Hiện trạng hoạt động Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động
Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương
Việt Nam.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo, Thạc sĩ Phạm Thị Song Hạnh đã
tận tình hƣớng dẫn và góp ý kiến cho em, cùng các cán bộ Trung tâm Treasury Hội sở
Ngân hàng Tehcombank, đặc biệt là các anh chị phòng Dealing Room FX, đã giúp đỡ
em rất nhiều trong thời gian thực tập tại đây, để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, nhƣng với kiến thức lí luận cũng nhƣ thực
tiễn còn nhiều hạn chế, đề tài nghiên cứu lại là vấn đề mới mẻ và phức tạp, nên em biết
khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc sự góp ý tận
tình của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài đƣợc hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Dƣơng Thị Phƣơng Thanh
vẫn đƣợc coi là ngoại hối đối với một quốc gia. Điều này là vì trong thực tế, đối với
các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ muốn đƣợc giao dịch phải đƣợc bán (chiết khấu)
để đổi lấy ngoại tệ sau đó mới tiến hành mua bán trên thị trƣờng, còn đối với vàng tiêu
chuẩn quốc tế thì ít đƣợc giao dịch do vai trò tiền tệ ngày càng giảm đi của nó trên thị
trƣờng tài chính thế giới.
2. Đặc trƣng của thị trƣờng ngoại hối
TTNH có những đặc điểm sau:
- TTNH không có giới hạn về không gian. Cứ ở đâu có xảy ra việc mua bán các
đồng tiền thì ở đó có TTNH. Các phƣơng tiện thông tin hiện đại nhƣ điện thoại, telex,
fax, SWIFT, hệ thống giao dịch điện tử (electronic dealing system), … đã giúp những 5
nhà giao dịch ngoại hối duy trì liên lạc một cách hiệu quả mà không cần đến địa điểm
cụ thể nào.
- TTNH hầu nhƣ không có giới hạn về thời gian. Sự chênh lệch về múi giờ khiến
cho thị trƣờng này luôn hoạt động 24/24 giờ ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Vì thế
mà nó còn có tên là ―Thị trƣờng không ngủ‖.
- Trung tâm của TTNH là Thị trƣờng liên ngân hàng (Interbank) với các thành
viên chủ yếu là NHTM, nhà môi giới và Ngân hàng Trung ƣơng.
- TTNH thế giới mang tính chuẩn cao, tuy các tỉ giá đƣợc yết trên nhiều thị
trƣờng khác nhau nhƣng có chênh lệch không đáng kể do quá trình niêm yết tỉ giá đã
đƣợc quốc tế hoá.
- TTNH rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội,… của các quốc
gia, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nƣớc kinh tế phát triển.
- Hiện nay trên thế giới có năm TTNH lớn là: London, New York, Tokyo,
Singapore và Frankfurt. Đồng tiền đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch ngoại
hối là USD.
Ngày nay, do tỉ giá thƣờng xuyên biến động nên việc phòng chống rủi ro cũng
nhƣ tìm kiếm cơ hội đầu cơ trên TTNH diễn ra khá sôi động làm tăng nhu cầu giao
bán lẻ.
Khi có nhu cầu ngoại hối bổ sung hoặc khi có dƣ thừa ngoại hối tạm thời, những
nhà tạo giá trên thị trƣờng thứ cấp tiến hành giao dịch với những nhà tạo thị trƣờng sơ
cấp. Nhƣ vậy, một NHTM có thể đồng thời là nhà tạo giá trên cả hai thị trƣờng sơ cấp
và thứ cấp.
- Nhà chấp nhận giá
Những ngƣời này đơn thuần chỉ là những ngƣời chấp nhận giá của các nhà tạo
giá, và tiến hành giao dịch mua bán ngoại hối. Họ không yết giá cũng không tạo giá
trên thị trƣờng. Những nhà chấp nhận giá bao gồm: các công ty, Chính phủ, các ngân
hàng (với vai trò là khách hàng), các cá nhân và các tầng lớp xã hội khác. 7
- Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn
Là những tổ chức hoạt động nhằm mục đích tƣ vấn cho khách hàng về việc mua
đồng tiền nào, bán đồng tiền nào và vào thời điểm nào – những yếu tố quyết định sự
thành bại trong KDNH; hoặc tƣ vấn về chiến lƣợc kinh doanh hoặc phƣơng thức tiếp
cận v.v… Trên cơ sở cung cấp dịch vụ tƣ vấn, các tổ chức này sẽ thu một khoản phí.
Các hình thức cung cấp dịch vụ tƣ vấn rất đa dạng: cung cấp các thông tin cập
nhật, thƣờng xuyên trên mạng (nhƣ Reuters, Bloomberg, Telerate, Knight-Ridder…);
gửi các thông tin tổng hợp hàng ngày đến khách hàng bằng các bản fax hay telex; gửi
tới khách hàng các bản tin định kì bao gồm các thông tin tổng hợp của thị trƣờng và
những phân tích thị trƣờng cũng nhƣ các nhận xét và các lời khuyên; hoặc chỉ gửi các
thông tin đến khách hàng với những lời khuyên chắc chắn rằng nên mua hay nên bán
đồng tiền nào…
Hầu hết các ngân hàng lớn và các nhà kinh doanh chính cũng cung cấp các dịch
vụ tƣ vấn ngoại hối cho khách hàng của mình và chủ yếu là miễn phí.
- Nhà môi giới
Ngoài phƣơng thức liên lạc trực tiếp (điện thoại, telex, mạng Internet…), các
nhà tạo lập thị trƣờng còn giao dịch với nhau thông qua nhà môi giới ngoại hối. Giao
tiền khác nhau, hay các ngoại tệ, mà không tính đến vàng hay các loại giấy tờ có giá
khác. Nghĩa là: TTNH đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp là thị trƣờng ngoại tệ, KDNH đƣợc
hiểu theo nghĩa hẹp là KDNH. Trong khoá luận này, ngƣời viết cũng hiểu và sử dụng
hai thuật ngữ trên theo nghĩa hẹp nhƣ vậy.
2. Đặc trƣng cơ bản của hoạt động Kinh doanh ngoại hối
Thứ nhất, hoạt động KDNH là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.
Một trong những đặc trƣng của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và
hoạt động KDNH nói riêng là chứa đựng rất nhiều rủi ro. Các rủi ro đó có thể khái quát
thành các loại sau: 9
- Rủi ro thanh khoản: Đây là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không có đủ vốn để
thực hiện các cam kết thanh toán của mình trong trƣờng hợp khoản huy động vốn đến
hạn trả nợ hoặc khi khách hàng có yêu cầu thanh toán.
- Rủi ro hoạt động: Đây là rủi ro gây ra bởi các yếu tố phi tài chính, nó bao gồm
rủi ro hệ thống, rủi ro gây ra bởi yếu tố con ngƣời (ví dụ nhƣ vô tình hay cố ý viết sai
xác nhận, thanh toán nhầm, hạch toán thiếu ).
- Rủi ro tín dụng: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện các cam kết
thanh toán của mình trong ngày hiệu lực hoặc khách hàng huỷ hợp đồng đã ký.
- Rủi ro thị trƣờng: Đây là rủi ro chính, thƣờng trực, gắn liền và trở thành rủi ro
đặc trƣng của hoạt động KDNH của ngân hàng. Loại rủi ro này xảy ra khi ngân hàng
đang giữ một trạng thái ngoại tệ hay một trạng thái luồng tiền nào đó mà tỉ giá và lãi
suất lại có những biến động không thuận chiều. Cụ thể nhƣ sau:
Rủi ro về tỉ giá:
Nó sẽ xuất hiện khi ngân hàng có trạng thái của một ngoại tệ nào đó thừa hoặc
thiếu. Khi ngoại tệ này lên giá thì trạng thái ngoại tệ thừa sẽ có lợi, còn trạng thái ngoại
tệ thiếu sẽ bị lỗ và ngƣợc lại. Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ
này luôn biến động nên ngân hàng luôn có khả năng gặp rủi ro do sự biến động của tỉ
giá.
Thứ hai, nó làm tăng quy mô của ngân hàng thông qua việc thúc đẩy nhanh hoạt
động thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu, từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng đến với
ngân hàng. Theo nhƣ định nghĩa KDNH không chỉ nhằm mục đích kiếm lời mà còn
phải đảm bảo nhu cầu ngoại tệ của khách hàng. Rõ ràng, một ngân hàng luôn luôn khan
hiếm nguồn ngoại tệ thì chắc chắn sẽ không thể thu hút khách hàng là các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu đến mở thƣ tín dụng để nhập hàng, hay đƣợc các ngân hàng
nƣớc ngoài chọn làm ngân hàng thông báo, ngân hàng chiết khấu trong phƣơng thức 11
thanh toán tín dụng chứng từ. Trong khi, các hoạt động này có thể cung cấp cho ngân
hàng những nguồn thu nhập ổn định và đáng kể. Ngoài ra, việc đáp ứng nhu cầu mua
ngoại tệ để thực hiện chuyển tiền của phần lớn cá nhân học tập, công tác hay du lịch ở
nƣớc ngoài không chỉ làm tăng nguồn thu cho ngân hàng mà còn làm tăng số lƣợng
khách hàng, từ đó mà làm tăng quy mô, uy tín cũng nhƣ danh tiếng của ngân hàng
Thứ ba, nó giúp ngân hàng phòng chống rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh.
Thực hiện KDNH là một cách thức đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm
phân tán rủi ro. Hơn nữa, ngân hàng cũng có những cách thức xử lý linh động hơn
trƣớc những biến động của giá trị đồng nội tệ. Mặt khác, đa dạng hoá nghiệp vụ là một
cách ngân hàng có thể phục vụ khách hàng của mình một cách tốt nhất, từ đó nâng cao
khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
4. Mô hình tổ chức Kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thƣơng mại
Nhìn chung hoạt động KDNH của NHTM tập trung vào 4 chức năng chính nhƣ
sau:
Thứ nhất: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các
hợp đồng ngoại thƣơng.
Thứ hai: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính mình nhằm mục
đích thực hiên đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp.
Thứ ba: Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính mình nhằm mục
đích cân bằng trạng thái ngoại tệ, hoặc phòng ngừa rủi ro tỉ giá.
dõi và quản lý rủi ro trong KDNH.
III. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI
1. Tỉ giá hối đoái
1.1. Khái niệm
Giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh trên thị trƣờng.
Trên TTNH cũng vậy, các nhà KDNH luôn theo dõi sát sao diễn biễn giá cả của các
đồng tiền hay tỉ giá. Vậy tỉ giá là gì? 13
Tỉ giá là giá cả của một đồng tiền đƣợc biểu thị thông qua đồng tiền khác.
Ví dụ: 1USD = 127,62 JPY. Trong ví dụ này, giá cả của USD đƣợc biểu thị thông qua
JPY và 1USD có giá là 127,62JPY.
1.2. Các cách yết tỉ giá
Xét trên giác độ quốc gia, có hai cách để yết tỉ giá.
- Yết tỉ giá trực tiếp (Direct quotation/ Price Quotation):
Đây là phƣơng pháp yết giá ngoại tệ mà xét từ góc độ quốc gia thì ngoại tệ với
vai trò là hàng hoá (Commodity Currency) là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và
thƣờng là bằng 1. Nội tệ với vai trò là tiền tệ (Term Curency) là đồng tiền định giá, có
số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên TTNH.
- Yết tỉ giá gián tiếp (Indirect Quotation/ Volume Quotation):
Đây là phƣơng pháp yết giá ngoại tệ mà xét từ giác độ quốc gia thì nội tệ đóng
vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thƣờng là bằng 1. Ngoại tệ đóng vai
trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên
TTNH
Ví dụ: Yết tỉ giá USD: Trong ví dụ ta quy ƣớc đồng tiền đứng trƣớc là đồng tiền định
giá, còn đồng tiền đứng sau là đồng tiền yết giá.
- Theo phƣơng pháp yết tỉ giá trực tiếp ta có: E (VND/USD) = 15000, ta hiểu là 1USD
= 15000VND
- Theo phƣơng pháp yết tỉ giá gián tiếp ta có: E (USD/VND) = 1/15000, ta hiểu là
vô điều kiện khi có đối tác muốn giao dịch
- Ngân hàng hỏi giá là ngân hàng liên hệ với ngân hàng yết giá để hỏi giá.
Với giá đƣợc yết, nếu chấp nhận ngân hàng hỏi giá sẽ tiến hàng giao dịch, ngƣợc lại thì
giao dịch không xảy ra.
Nhƣ vậy, tỉ giá mua là tỉ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua đồng tiền
yết giá còn tỉ giá bán là tỉ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết
giá. Với cách yết giá hai chiều, thì tỉ giá đứng trƣớc gọi là tỉ giá mua và tỉ giá đứng sau 15
gọi là tỉ giá bán.
Chênh lệch giữa tỉ giá mua vào và bán ra gọi là spread, đó là thu nhập của nhà
KDNH. Nhƣ vậy, để có đƣợc thu nhập từ hoạt động mua bán ngoại hối, ngân hàng yết
tỉ giá sao cho tỉ giá mua vào là thấp hơn tỉ giá bán ra. Spread có thể đƣợc tính theo
điểm tỉ giá hoặc theo tỉ lệ phần trăm nhƣ sau:
- Tính theo điểm tỉ giá:
Spread = Tỉ giá bán ra – Tỉ giá mua vào
- Tính theo tỉ lệ phần trăm:
Tỉ giá bán ra – Tỉ giá mua vào
Spread = ————————————— x 100%
Tỉ giá mua
Rõ ràng, nếu ngân hàng vừa mua, vừa bán số lƣợng nhƣ nhau thì ngân hàng sẽ
thu đƣợc lợi nhuận mà không phải bỏ một đồng vốn nào. Nếu ngân hàng mở rộng
spread thì lợi nhuận sẽ càng lớn hơn. Nhƣng do cạnh tranh, các ngân hàng thƣờng có
xu hƣớng thu hẹp spread để hấp dẫn khách hàng và từ đó tăng nhanh doanh số giao
dịch. Hành vi này của ngân hàng đƣợc gọi là chiến lƣợc tạo thị trƣờng. Lợi ích bổ sung
của chiến lƣợc tạo thị trƣờng là ngân hàng đạt đƣợc tiếng tăm tốt hơn trong kinh doanh
và điều này cũng rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.4. Kinh doanh chênh lệch hoặc đầu cơ tỉ giá
Trên TTNH, các nhà kinh doanh có thể tiến hành kinh doanh chênh lệch tỉ giá
ngày giá trị kì hạn là ngày làm việc thứ hai sau ngày hợp đồng kì hạn đến hạn. Nếu hợp
đồng kì hạn có thời hạn là n ngày (n ≥1) thì ngày giá trị kì hạn là:
FVD = (J+n) +2
- Ngày giá trị ngày mai (Tomorrow Value Date – TOM): Những giao dịch ngoại
hối có ngày giá trị sớm hơn một ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có
ngày giá trị ngày mai (J+1) 17
- Ngày giá trị hôm nay (Today Value Date – TOD): Những giao dịch ngoại hối
có ngày giá trị sớm hơn hai ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có ngày
giá trị hôm nay. Nhƣ vậy, giao dịch có ngày giá trị hôm nay là giao dịch có ngày giá trị
ngay trong ngày kí kết hợp đồng, nên ngƣời ta còn gọi là ―same day value date = J‖.
Nhƣ vậy, bằng trục thời gian ta có thể biểu diễn:
CD - TOD TOM SVD FVD
J J+1 J+2 (J+n) +2
3. Trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền
Trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và rủi ro tỉ giá nói riêng. Thực tế cho thấy
trong KDNH, nếu lỏng lẻo trong công tác quản lý trạng thái ngoại hối và trạng thái
luồng tiền thì sớm muộn tai hoạ cũng sẽ xảy ram và hậu quả của nó là khó lƣờng.
3.1. Trạng thái ngoại hối
Đối với NHTM, trạng thái ngoại hối (Foreign exchange position) của mỗi ngoại
tệ hay vàng tiêu chuẩn quốc tế là chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ
(bao gồm cả nội bảng và ngoại bảng) của tổng ngoại hối tại một thời điểm nhất định.
Trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ phản ánh số dƣ của ngoại tệ đó tại một thời điểm
nhất định. Ngày nay, vai trò tiền tệ và vai trò ngoại hối của vàng cũng nhƣ ý nghĩa của
(t
o
-t)
Trong đó:
- NEP
F
(t) – trạng thái ngoại tệ ròng đối với ngoại tệ F tại thời điểm t
- LFC
F
(t
o
-t) – doanh số phát sinh trạng thái trƣờng của ngoại tệ F trong kì
- SFC
F
(t
o
-t) – doanh số phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ F trong kì
Trong thực tế, trạng thái ngoại tệ đƣợc tính tại thời điểm cuối của mỗi ngày giao
dịch, tức không tính riêng cho từng thời kì. Công thức tính trạng thái ngoại tệ cuối
ngày giao dịch nhƣ sau:
NEP
F
(t) = NEP
F
(t-1) + LFC
F
(t) – SFC
F
(t)
Trong đó:
trong một ngày, một tuần, một tháng…
- Luồng tiền âm (Negative Cash Flow – NCF): Gồm các khoản chi trả tiền cho
ngƣời khác. Luồng tiền âm cũng đƣợc tính trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ
doanh số chi trả trong một ngày, một tuần, một tháng…
Trạng thái luồng tiền ròng (Net Cash Flow Position – NETCF): Là chênh lệch
giữa luồng tiền dƣơng và luồng tiền âm tại một thời điểm, do đó nó phản ánh số dƣ tại
một thời điểm. Vậy, nếu kì tính toán các luồng tiền là (t
o
-t
1
), trong đó: t
o
là điểm xuất
phát của kì tính toán, t
1
là điểm kết thúc của kì tính toán, ta có công thức tính trạng thái
luồng tiền ròng tại thời điểm t
1
là
NETCF(t
1
) = PCF(t
o
-t
1
) – NCF(t
o
-t
1
)
tƣợng kinh doanh khác trên thị trƣờng. Các giao dịch ngoại hối hiện nay bao gồm năm
loại sau: giao dịch giao ngay, kì hạn, hoán đổi, tƣơng lai, quyền chọn.
1. Nghiệp vụ KDNH giao ngay (Spot)
1.1. Spot
Giao dịch ngoại hối giao ngay là nghiệp vụ giao dịch ngoại hối trong đó việc
thực hiện thanh toán đƣợc thực hiện trong vòng hai ngày làm việc kể từ ngày ký kết
hợp đồng. Thị trƣờng giao ngay đƣợc biết đến nhƣ là thị trƣờng rất sôi động, giao dịch
với khối lƣợng tiền cực lớn và với tốc độ giao dịch nhanh nhƣ tia chớp nhằm tận dụng
cơ hội chênh lệch tỉ giá dù là cực nhỏ.
Thị trƣờng giao ngay, theo nghĩa rộng, bao gồm thị trƣờng bán buôn và thị
trƣờng bán lẻ, nhƣng do doanh số giao dịch trên thị trƣờng bán buôn là chủ yếu, do đó
theo nghĩa hẹp ngƣời ta coi thị trƣờng giao ngay là thị trƣờng liên ngân hàng.
Tỉ giá đƣợc hình thành trên thị trƣờng bán buôn hay thị trƣờng liên ngân hàng
gọi là tỉ giá bán buôn. Đây là tỉ giá giao dịch giữa các ngân hàng. Tỉ giá của ngân hàng
áp dụng cho khách hàng của mình gọi là tỉ giá bán lẻ cũng đƣợc hình thành trên cơ sở
của tỉ giá thị trƣờng liên ngân hàng. So với tỉ giá bán buôn thì Spread của tỉ giá bán lẻ
là rộng hơn, điều này có nghĩa là ngân hàng mua của khách hàng là rẻ hơn và bán cho
khách hàng đắt hơn so với giao dịch trên thị trƣờng liên ngân hàng. Spread của tỉ giá
bán lẻ phụ thuộc chủ yếu vào số lƣợng giao dịch. Các ngân hàng không nhất thiết phải
tham gia thị trƣờng liên ngân hàng, đặc biệt là với các giao dịch nhỏ. Tuy nhiên, tỉ giá
bán lẻ của ngân hàng vẫn đƣợc hình thành trên cơ sở tỉ giá liên hàng do các ngân hàng
có thể cập nhật tỉ giá với nhau thông qua hệ thống nối mạng vi tính.
Ở Mỹ cũng nhƣ ở hầu hết các nƣớc khác, TTNH giao ngay có hai cấp, đó là: Thị
trƣờng liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân hàng, đây là thị trƣờng tập trung, liên 21
tục, đấu giá mở và giao dịch hai chiều, và cấp thứ hai là thị trƣờng liên ngân hàng gián
tiếp thông qua môi giới, đây là thị trƣờng bán tập trung, liên tục, đặt lệnh có giới hạn
và thông qua phƣơng thức đấu giá một chiều.
22
FV
T
là giá trị kì hạn của đồng tiền định giá
FV
C
là giá trị kì hạn của đồng tiền yết giá
R
T
= mức lãi suất/năm của đồng tiền định giá
R
C
= mức lãi suất/năm của đồng tiền yết giá
t = thời hạn, tính theo ngày
dpy = cơ sở tính lãi suất (số ngày trong một năm)
dpy
T
= cơ sở tính lãi suất đồng tiền định giá
dpy
C
= cơ sở tính lãi suất đồng tiền yết giá
Giả sử tỉ lệ trao đổi giao ngay giữa đồng tiền định giá và đồng tiền yết giá là:
PV
C
= PV
T
, ta định nghĩa tỉ giá giao ngay là tỉ số giữa giá trị hiện tại của đồng tiền
định giá chia cho giá trị hiện tại của đồng tiền yết giá. Do đó ta có:
S = PV
T
C
(1 + R
C
.t/dpy
C
)
Nhƣ vậy ta có :
FV
T
PV
T
(1 + R
T
. t/dpy
T
)
F = ——— = ——————————
FV
C
PV
C
(1 + R
C
. T/dpy
C
)
(1 + R
T
. t/dpy
)
(1 + R
TO
. t/dpy
T
)
F
O
= S
O
—————————
(1+ R
CB
. t/dpy
C
)
Trong đó: S
B
là tỉ giá mua giao ngay
S
O
là tỉ giá bán giao ngay
R
TB
là lãi suất đi vay đồng tiền định giá
R
CB
là lãi suất cho vay đồng tiền yết giá
Nhìn vào các công thức xác định tỉ giá kì hạn ở trên ta thấy đƣợc mối quan hệ
T
> R
C
thì P > 0, ta có điểm kì hạn gia tăng. Đồng thời, F > S nên đồng
tiền yết giá lên giá kì hạn còn đồng tiền định giá giảm giá kì hạn.
- Nếu R
T
< R
C
thì P < 0, ta có điểm kì hạn khấu trừ. Đồng thời, F < S nên đồng
tiền yết giá giảm giá kì hạn còn đồng tiền định giá tăng giá kì hạn.
- Nếu R
T
= R
C
thì P = 0, tỉ giá kì hạn và tỉ giá giao ngay là bằng nhau không
đồng tiền nào là lên giá hay giảm giá kì hạn.
Nhƣ vậy, căn cứ vào mức lãi suất của các đồng tiền ta sẽ biết đƣợc đồng tiền
nào là lên giá và đồng tiền nào là giảm giá kì hạn.
Các giao dịch ngoại hối kì hạn đƣợc áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng.
NHTM có thể thực hiện giao dịch kì hạn nhằm làm dịch vụ cho khách hàng là các công
ty xuất, nhập khẩu để họ bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu hoặc khoản chi nhập
khẩu của họ. Trên thị trƣờng kì hạn các NHTM còn là những nhà kinh doanh chênh
lệch giá với mục đích tạo lợi nhuận nhƣng không chịu rủi ro trên cơ sở sự chênh lệch
về lãi suất và điểm kì hạn
Ngoài ra, các NHTM cũng kiếm lợi nhuận thông qua hành vi đầu cơ, chấp nhận
rủi ro tỉ giá. Trên cơ sở dự báo rằng tỉ giá giao ngay tại thời điểm (t) trong tƣơng lai sẽ
có một độ lệch nhất định so với tỉ giá kì hạn, ngân hàng có thể mua (hoặc bán) kì hạn
để sau đó sẽ bán (hoặc mua) giao ngay.
Kết quả kinh doanh kì hạn cũng đƣợc xác định vào cuối ngày giao dịch. Kết thúc