SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI
VĂN CHỨA NỘI DUNG
HÌNH HỌC CHO HỌC SINH
KHÁ GIỎI LỚP 5
MỤC LỤC
Nội dung Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài
1.Cơ sở lý luận 3
2.Cơ sở thực tiễn 6
II. Mục đích nghiên cứu 8
III. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
IV. Đối tượng nghiên cứu 9
V. Phạm vi nghiên cứu 9
VI. Phương pháp nghiên cứu 9
PHẦN NỘI DUNG
I.Vài nét về lịch sử vấn đề và các khái niệm
1.Lịch sử hình học 10
2.Khái niệm “năng lực”, “giỏi” và có “năng khiếu” 11
II. Tổng quan các dạng bài toán có lời văn chứa nội dung hình
5.3. Phương pháp thực hiện các số đo và thao tác phân
tích, tổng hợp trên hình.
41
5.4. Phương pháp “ Biểu đồ hình chữ nhật”. 47
V. Kết quả đạt được
1. Đối với giáo viên 49
2. Đối với học sinh. 49
3. Kết luận 51
PHẦN KẾT LUẬN
I.Kết luận 52
II. Bài học kinh nghiệm 53
III. Những hạn chế của đề tài 54
IV. Những ý kiến đề xuất 54
PHẦN MỞ ĐẦU I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lí luận.
Nhân loại đã bước vào thế kỷ 21, một thế kỷ đã, đang và sẽ tiếp tiếp
tục có nhiều biến đổi to lớn. Khoa học và công nghệ đã có những bước tiến
nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi
cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, sự tranh chấp quốc tế trên tất cả các
lĩnh vực ngày càng gay gắt. Trước bối cảnh đó, chúng ta cần phải phát triển
nhanh hơn, mạnh hơn, hiệu quả hơn cả giáo dục- đào tạo, khoa học- công
nghệ, tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại
chứa nội dung hình học cho học sinh tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn.
Toán có lời văn chứa nội dung hình học là mạch kiến thức tổng hợp của các
mạch kiến thức toán học được gắn với thực tế. Đây là mạch kiến thức khó
nhất đối với học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp 5. Giải toán có lời văn có
nội dung hình học nhằm làm cho học sinh có được những biểu tượng chính
xác về một số hình học đơn giản và một số đại lượng hình học thông dụng,
giúp các em biết định hướng trong không gian, gắn liền việc học tập với cuộc
sống xung quanh và chuẩn bị học môn Hình học ở bậc học Trung học cơ sở.
Bên cạnh đó, việc dạy giải toán có lời văn chứa nội dung hình học cho
học sinh tiểu học còn giúp cho một số kỹ năng thực hành của học sinh được
rèn luyện và phát triển một số năng lực trí tuệ. Khi học giải toán có lời văn
có yếu tố hình học, các em được tập sử dụng các dụng cụ như thước kẻ, êke,
compa để đo đạc và vẽ hình chính xác theo quy trình hợp lý, để phát hiện và
kiểm tra các đặc điểm của hình; tập sử dụng ngôn ngữ và các kí hiệu cần
thiết; tập đo độ dài, đo và tính chu vi, diện tích, thể tích các hình…Những kỹ
năng này được rèn luyện từng bước một, từ thấp đến cao ( ví dụ, ở lớp Một,
học sinh tập dùng thước kẻ; ở lớp Ba, học sinh tập dùng êke; ở lớp Bốn học
sinh tập dùng êke để vẽ chính xác hình chữ nhật, đường thẳng song song; ở
lớp Năm, học sinh tập dùng compa để vẽ đường tròn, để đo và đặt độ dài
đoạn thẳng…) Qua việc học tập các kiến thức và rèn luyện các kỹ năng trên,
một số năng lực trí tuệ của các em như phân tích, tổng hợp, quan sát, so
sánh, đối chiếu, dự đoán, trí tưởng tượng không gian được phát triển.
Ngoài ra, việc tiếp thu các kiến thức hình học thông qua giải toán có
lời văn sẽ giúp học sinh tích luỹ được những hiểu biết cần thiết cho đời sống
sinh hoạt và học tập của các em. Bởi các kiến thức hình học ở tiểu học được
dạy thông qua các
hoạt động thực hành. Những kiến thức, kỹ năng hình học mà các em thu
lượm được qua con đường thực nghiệm lại rất cần thiết trong cuộc sống, rất
hữu ích cho việc học tập các tuyến kiến thức khác trong môn Toán tiểu học
Trong ba nội dung trên thì nội dung giải toán có lời văn chứa nội dung
hình học là một nội dung hết sức quan trọng bởi tính ứng dụng thực tế cao,
giúp các em từng bước phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp suy nghĩ và
kỹ năng suy luận logíc; khêu gợi và tập dượt khả năng phỏng đoán, tìm tòi .
Bên cạnh đó, việc dạy học sinh giải các bài toán có nội dung hình học giáo
viên còn có thể giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức toán học vào cuộc
sống; rèn luyện cho các em thói quen và đức tính tốt của một người lao động
mới như: ý chí tự lực vượt khó; tính cẩn thận, cho đáo, cụ thể, làm việc có kế
hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng; từng bước hình thành và rèn luyện thói
quen và khả năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khắc phục cách suy nghĩ máy
móc, rập khuôn; xây dựng lòng ham thích tìm tòi, sáng tạo,….
Đặc biệt, khi giải các bài toán này học sinh còn phải biết vận dụng
tổng hợp nhiều kiến thức và hiểu biết về:
+ Các công thức tinh chu vi, diện tích, thể tích một số hình ( và các
công thức tính ngược)
+ Cách giải các loại toán điển hình, đường lối chung để giải các bài
toán.
+ Các phép tính số học trên số tự nhiên, số thập phân, phân số và số đo
các đại lượng.
+ Cách tính giá trị những đại lượng thông dụng trong cuộc sống như:
Sản lượng Diện tích Năng suất
Số gạch lát nền nhà
Thời gian nước chảy đầy bể
Mật độ số dân …v.v…
+ Cách sử dụng Tiếng Việt để trình bày và diễn đạt.
…v.v…
Chính vì thế, khả năng giải toán có lời văn chứa nội dung hình học của
học sinh chính là một tiêu chuẩn cơ bản, là “ Hòn đá thử vàng” để đánh giá
trình độ hiểu biết và năng lực vận dụng các kiến thức toán học của các em.
Đây cũng là lý do khiến cho loại toán này đã không được nhiều học sinh ưa
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy giải toán có lời văn chứa nội
dung hình học cho học sinh lớp 5.
2. Nghiên cứu cách hình thành kiến thức mới và vận dụng vào từng bài
cụ thể.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh khá giỏi môn Toán khối lớp 5 – trường tiểu học Quảng
Châu- thành phố Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên.
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phương pháp dạy giải toán có lời văn chứa nội dung hình học cho học
sinh khá giỏi lớp 5.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp quan sát
2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin
3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Nghiên cứu sách, báo, giáo trình có
liên quan đến công tác bồi dưỡng HS giỏi.
4. Phương pháp khảo sát, trắc nghiệm.
5. Phân tích số liệu
6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm PHẦN NỘI DUNG I.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CÁC KHÁI NIỆM
1. Lịch sử hình học
Từ những buổi đầu sơ khai của quá trình tiến hoá, con người đã biết
hết sức sơ giản, phù hợp với lứa tuổi nhưng các bài toán có lời văn có nội
dung hình học là một nội dung khó trong chương trình Toán tiểu học. Để
giúp học sinh nắm chắc, học khá vươn lên học giỏi dạng toán có lời văn, ta
cần hiểu khái niệm học “giỏi” và “có năng khiếu” khác nhau như thế nào?
Theo PGS-PTS Phạm Văn Hoàn- Viện khoa học giáo dục Việt Nam
thì một người được coi là có năng lực nếu người đó nắm vững tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo của một loại hoạt động nào đó và đạt được kết quả tốt hơn, cao
hơn so với trình độ trung bình của những người khác cũng tiến hành hoạt
động trong điều kiện và hoàn cảnh tương đương. Tất cả các mức độ năng lực
là : năng khiếu, tài năng, thiên tài. Năng lực khác với tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo. Năng lực là những đặc điểm tâm lý ở người, tạo thành điều kiện quy
định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Cũng theo PGS-PTS Phạm Văn Hoàn năng khiếu được quy định bởi một số
đặc điểm giải phẫu và sinh lý nào đó của cơ thể trong đó có ý nghĩa nhất là
những đặc điểm của hệ thần kinh, của não. Những đặc điểm giải phẫu sinh lý
đó gọi là tố chất hay bẩm phú, tạo nên sự khác nhau bẩm sinh giữa người này
và người khác.
Như vậy, năng khiếu là một mức độ biểu hiện của năng lực. “ Có năng
khiếu” chứa đựng tiềm năng của năng lực sáng tạo, còn “ giỏi” chứa đựng
tiềm năng của sự thông thạo.
Một người có năng khiếu, trong quá trình phát triển của mình có thể
chưa thông thạo một cái gì đó nhưng có thể đã phát hiện ra cái mới rồi sau
đó mới dần dần khắc phục sự thông thạo nói trên. Một người không “ có
năng khiếu”, nhưng được rèn luyện nghiêm túc, chặt chẽ ngay từ đầu, có thể
trở nên giỏi, thông thạo về những cái đã học, biết nhiều, biết rộng nhưng
không có sáng tạo đáng kể. Tất nhiên có năng khiếu lại thông thạo nữa thì rất
tốt; sự thông thạo đó chắc sẽ hỗ trợ nhiều cho sự sáng tạo. Thông thạo- là
những cái mà những người phát triển bình thường đều có thể đạt được nếu
có một sự dạy-học tốt ngay từ đầu, nhưng năng khiếu thì ít nhiều có tính chất
*…v…v…
III. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CHỨA NỘI DUNG HÌNH HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG
CHÂU- TP HƯNG YÊN.
1.Thực trạng việc dạy của giáo viên.
Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy giáo viên dạy bồi
dưỡng học sinh giỏi Toán của trường nắm khá chắc nội dung chương trình
và kiến thức Toán của cả bậc học và khối lớp mà giáo viên phụ trách; biết
vận dụng đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm; biết trân
trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh; biết xây dựng và sử dụng hệ thống
câu hỏi gợi mở rất hợp lý, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh để
hướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu bài tập. Công tác chỉ đạo của nhà
trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhân thức sâu sắc về các cuộc vận
động lớn của ngành như “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng
giáo dục”, phong tào thi đua : “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”, …Đặc biệt, công tác bồi dưỡng mũi nhọn giáo viên giỏi- học sinh
giỏi là việc làm thường xuyên và được coi trọng ưu tiên hàng đầu của trường
bởi công tác này thể hiện rõ nét nhất chất lượng dạy và học của một nhà
trường, thể hiện sự nhận thức, sự quan tâm, đầu tư chỉ đạo của Ban lãnh đạo
nhà trường, của các cấp, các ngành ở địa phương trong phong trào xã hội hoá
GD
Hàng năm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giám hiệu, trường tổ
chức dà soát lại số học sinh xếp loại học lực môn Toán đạt giỏi của năm học
trước qua các đợt thi như: Khảo sát chất lượng đầu năm để nắm chất lượng
làm căn cứ bàn giao cho giáo viên và nhằm chọn lựa những học sinh có tố
chất và lòng yêu thích, say mê môn Toán; Trên cơ sở đó tổ chức thi chọn học
sinh giỏi vòng sơ khảo, chọn và cử những giáo viên có tâm huyết và năng
cơ bản, ngôn ngữ trình bày chưa đạt yêu cầu.
Tuy thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng cho học sinh giỏi
không nhiều so với lượng kiến thức các em cần nắm thì quá rộng. Các dạng
bài toán có lời văn có nội dung hình học lại hết sức khó đối với các em. Một
số em chưa nắm chắc đường lối chung để giải một bài toán có lời văn, chưa
nắm vững kiến thức kỹ năng toán học của cấp học và của lớp 5 mà các em
đang học; khả năng tổng hợp, vận dụng kiến thức; khả năng phân tích, tổng
hợp hình học gặp nhiều khó khăn ,…Sự chú ý của các em chưa bền vững, tư
duy trừu tượng chậm, trí tưởng tượng còn hạn chế, khả năng tập trung chưa
cao nên học sinh thường nóng vội, đọc đề qua loa, chưa hiểu thấu đáo đã bắt
tay vào làm.Trình độ ngôn ngữ của các em còn thấp mà yêu cầu đặt ra đối
với học sinh giỏi môn Toán tương đối cao và đa dạng do vậy nhiều năm liền
số học sinh giỏi Toán của trường còn ít và chưa nổi trội hẳn trong các cuộc
thi khảo sát chất lượng định kỳ của trường cũng như kết quả khảo sát, chọn
học sinh giỏi, … Bảng 2: Thống kê kết quả khảo sát chất lượng học sinh giỏi
môn Toán-khối 5- tháng 9/2012
Năm học Số HS
Kết quả
Ghi chú
Giỏi Khá TB Yếu
2012-2013
14 3 5 4 2
Bảng 3: Thống kê mức độ thái độ học tập đối với môn Toán-khối 5
Tháng 9/2012
Năm học Số HS
* Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm bằng
cách tóm tắt bài toán dưới dạng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn.
* Bước 3: Phân tích bài toán để thiết lập trình tự giải.
* Bước 4: Thực hiện các phép tính theo trình tự giải đã có để tìm đáp
số (có thử lại) và viết bài giải.
Ví dụ: Vườn rau nhà em hình chữ nhật có chiều dài bằng chiều rộng
và hơn chiều rộng 16 m. Ba em muốn đóng cọc để rào giậu xung quanh. Cọc
nọ cách cọc kia 2m. Hỏi ba em phải dùng bao nhiêu cọc?
1. Yêu cầu
Để giải bài toán này học sinh phải biết tổng hợp các kiến thức sau:
a) Cách giải bài toán điển hình: Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số của
chúng
( 16 và )
b) Công thức tính chu vi hình chữ nhật.
c) Cách tính số “cây” trồng trên đường khép kín ( cây ở đây là cọc)
2. Cách giảng dạy
Giáo viên gợi ý cho học sinh tự giải theo 4 bước đã nêu ở trên.
a) Bước 1+ 2: Các loại toán 1a và 1b, học sinh đã được học trong
chương trình. Song loại toán 1c thì chưa. Do đó, giáo viên yêu cầu học sinh
đọc kỹ đề bài (theo các hình thức nhẩm, cá nhân) và xác định cái đã cho, cái
phải tìm bằng cách trả lời câu hỏi cho trước của giáo viên: “ Bài toán cho
biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?” để học sinh trả lời; rồi dựa vào đó các em thiết
lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm bằng cách tự tóm tắt bài toán
dưới dạng sơ đồ ( hoặc bằng hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn.) như sau:
Chiều dài:
Chiều rộng: Chu vi
16 m
Đóng cọc xung quanh cách nhau 2m
Số cọc: …………….?
- Tính chiều dài và chiều rộng vườn rau hình chữ nhật
- Tính chu vi vườn rau hình chữ nhật
- Tính số cọc.
Bài giải
Số phần bằng nhau trong 16m là: 5 – 3 = 2 (phần)
Mỗi phần bằng nhau là: 16 : 2 = 8 (m)
Chiều dài vườn rau hình chữ nhật là: 8 5 = 40 (m)
Chiều rộng vườn rau hình chữ nhật là: 8 3 = 24 (m)
Chu vi vườn rau hình chữ nhật là: ( 40 + 24) 2 = 128 (m)
Số cọc mà Ba em phải dùng để rào giậu xung quanh vườn rau là:
128 : 2 = 64 (cọc)
Đáp số: 64 cọc
Hiệu=16m
Tỉ số =
2. Hướng dẫn học sinh nắm vững đường lối chung của một biện pháp
tính.
Để nắm và vận dụng thành thạo một biện pháp tính, cần qua hai khâu
cơ bản: Làm cho HS hiểu biện pháp tính và biết làm tính; Luyện tập để tính
được đúng và thành thạo.
Giáo viên có thể hướng dẫn HS theo các bước sau:
+ Bước 1: Ôn lại các kiến thức, kỹ năng có liên quan.
Bất kỳ biện pháp tính mới nào cũng phải dựa trên một số kiến thức, kỹ
năng đã biết ( theo Thuật ngữ toán học là sử dụng Liệu pháp sư phạm- Dựa
trên những cái đã biết để tìm cái chưa biết ). Người giáo viên cần nắm chắc
rằng: để hiểu được biện pháp mới, HS cần biết gì, đã biết gì (cần ôn lại), điều
gì là mới (trọng điểm của bài) cần dạy kỹ; Các kiến thức, kỹ năng cũ sẽ hỗ
trợ cho kiến thức, kỹ năng mới, hay ngược lại dễ gây nhầm lẫn cần giúp
phân biệt. Trên cơ sở đó, phần đầu GV nên ôn lại các kiến thức có liên quan
bằng các phương pháp như: hỏi đáp miệng, làm bài tập, sửa bài tập về nhà
- Đếm số điểm tô đậm : 14 điểm (đây là số cọc).
- Để tính độ dài đường (gấp khúc khép kín) bao quanh vườn (trên đó
có đóng cọc), cần tính chu vi hình chữ nhật:
( 8 + 6 ) 2 = 28 (m)
- Để biết chu vi chứa bao nhiêu “ khoảng cách” giữa hai cọc cần lấy
chu vi chia cho khoảng cách 2m giữa hai cọc:
28 2 = 14 ( cọc)
rồi từ đó rút ra kết luận để áp dụng vào bài toán: “ Muốn tính số cọc đóng
xung quanh hình chữ nhật ta lấy chu vi chia cho khoảng cách giữa hai cọc”
+ Bước 2: Giảng biện pháp tính mới
Mỗi biện pháp tính, trong hệ thống các biện pháp, đều được dựa trên
một số kiến thức, kỹ năng cũ, nếu được hướng dẫn tốt học sinh hoàn toàn có
thể “ tự tìm thấy” biện pháp.
Ở đây cần kết hợp khéo léo giữa các phương pháp giảng giải, hỏi đáp,
trực quan để lưu ý HS vào được điểm mới, điểm khó, điểm trọng tâm. Điều
quan trọng là trình bày trên một mẫu điển hình, trình bày làm sao nêu bật
được nội dung cơ bản của biện pháp tính, hình thức trình bày đẹp.
+ Bước 3: Luyện tập rèn kỹ xảo
Sau khi hiểu cách làm, học sinh cần lặp đi lặp lại độngtác tương tự.
Phương pháp chủ yếu lúc này là học sinh làm bài tập. Điều quan trọng là bài
tập cần có hệ thống, bài đầu y hệt mẫu, các bài sau nâng dần độ phức tạp.
Nếu biện pháp tính bao gồm nhiều kỹ năng, có thể huấn luyện từng kỹ năng
bộ phận.
Ví dụ: Khi học cách tính diện tích của hình vuông, giáo viên có thể
giao cho học sinh thực hiện các bài tập như sau:
Bài tập số 1: An đi chung quanh một khu vườn hình vuông mất 15
phút, mỗi phút An đi được 56m. Tính diện tích khu vườn đó.
Bài tập số 2: Để lát nền một căn phòng, người ta dùng 500 viên gạch
hình vuông có chu vi 80 cm. Tính diện tích của nền phòng bằng mét vuông.
C
40m + Tính hiệu giữa cạnh mảnh đất với cạnh ao ( 160 : 4 40 (m) )
+ Lý luận: Giả sử rời cái ao vào một góc vườn như hình vẽ trên.
+ Tính diện tích S1 ( 40 40 1 600 (m
2
) )
+ Tính diện tích S2 + S3 = 2 800 1 606 1 200 (m
2
) )
+ Lý luận: cắt hình S3 và ghép vào hình S2 như hình vẽ trên.
+ Tính diện tích hình chữ nhật ABCD là 1 200 m
2
+ Tính cạnh AB ( 40 40 80 (m) )
+ Tính cạnh cái ao ( 1 200 : 80 15 (m) )
+ Tính diện tích cái ao ( 15 15 225 (m
2
) )
Rõ ràng, mức độ của các bài tập được nâng dần từ thấp đến cao, từ ít
bước tính lên nhiều bước tính; và để thực hiện các bước tính học sinh phải
vận dụng nhiều kỹ năng như:
Trên một mảnh đất hình vuông có độ dài cạnh là 40m, người ta xây
một toà cao ốc hình tròn, đường kính bằng cạnh của hình vuông. Tính diện
tích mặt đáy toà cao ốc hình tròn đó.
40m
Toà
cao
ốc
r 40 m
Để giải đúng và nhanh bài toán trên, HS chỉ cần vận dụng quy tắc tính
diện tích hình tròn vừa học. HS phải lý luận bán kính của toà cao ốc hình
tròn chính là nửa cạnh hình vuông ( 40 : 2 = 20 (m) ) rồi từ đó tính diện tích
mặt đáy toà cao ốc hình tròn ( r r 3,14 = 20 20 3,14 = 1256 (m
2
) )
Cách củng cố như vậy sẽ giúp HS độc lập chọn phép tính và làm tính,
HS có điều kiện để vận dụng biện pháp tính thậm chí HS còn được củng cố
2
Hai đơn vị liên tiếp gấp, kém nhau 100
lần. Hai đơn vị liên tiếp gấp, kém nhau 1000
lần.
cm
= 10 mm
= 0,1 dm
cm
2
= 100 mm
2
= 0,01 dm
2
cm
3
= 1000 dm
3
dm
= 10 cm
= 0,1m
dm
2
dam
= 10 m
= 0,1 hm
dam
2
(a)
= 100 m
2
=0,01 hm
2
hm
= 10 dam
= 0,1 km
hm
2
(ha)
= 100 hm
2
= 0,01 km
2
km
= 10 hm
km
2
=100hm
2
ỗi lần chuyển sang
3 chữ số
87715 dm
3
= 87,715
3
Nhẩm liên tiếp các
hàng t
ừ đ
ơn v
ị nhỏ
3 chữ số
7 dm
3
18 cm
3
= 7018
3
Bước 1: Đổi như
trư
ờng hợp (C);
7m
3
29dm
3
= 7029
dm
3
2
15m
2
3cm
2
=
150003cm
2=
2 chữ số
921dm
2
= 9m
2
21dm
2
ĐỘ DÀI
1 chữ số
1,3256km=1325,6
1 chữ số
932,4
1 chữ số
12m3cm =
4km34m = 4034 m
= 40,34
hm
2
đơn
vị
Từ số
có1
đơn
vị
2
đơn
vị
1
đơn
vị
BẢNG 3:
CÁC QUY
CÁC QUY
TÍNH
Tổng 2
Dài + rộng a + b =
Diện tích
= cạnh
cạnh S = a
a
Diện tích
=
S =
Chu vi
Chu vi
= (dài +
rộng) : 2
P=(a+b):
2Chu vi
= cạnh
4
P = a
Chu vi
bằng
HÌNH
Hình chữ nhật
A a
B
b
C
Hình vuông
Tam giác
A
B a
C
BẢNG 3:
CÁC QUY
CÁC QUY
T
ẮC
TÍNH
Tổng 2
Tổng 2 đáy
= a + b =
TÍNH XUÔI
Diện tích
Diện tích =
(tổng 2 đáy
chiều
cao): 2
S =
Diện tích
= bán kính
bán
kính
3,14
S = r r
3,14
Chu vi
Chu vi = tổng
độ dài các
cạnh
P=AB+BC+C
D+DA Chu vi
= đườngkính
3,14 .
=bánkính 2
C a
D
Hình tròn
BẢNG 4:
CÁC QUY
CÁC
TÍNH
NGƯ
ỢC
Chiều
*Chiều
cao = Thể
tích : DT
đáy.
c =
*Chiều
cao =
DT
:
Giống
như trên