Báo cáo khoa học:
Hiệu quả kinh tế trong hợp tác chăn nuôi lợn hướng
nạc ở xã Cửu Cao, Văn Giang, H-ng Yên
Hiệu quả kinh tế trong hợp tác chăn nuôi lợn hớng nạc
ở xã Cửu Cao, Văn Giang, Hng Yên
The economic efficiency of cooperative lean pig production in Cuu Cao commune,
Van Giang district, Hung Yen province
Hồ Ngọc Ninh
1
, Trần Đình Thao
2
SUMMARY
Livestock, particularly, pig production is an important means of livelihood in Cuu Cao
commune. Unlike other localities, pigs there are mainly raised in cooperative manner from
production to marketing. Comparing to household self-production, the mixed income of
cooperative production is 1.27 times higher for sow, and 1.82 times higher for pork. However,
the pig cooperative production in Cuu Cao is still insufficient due to the limitation in capital,
skills, and breeding. In order to improve the economic efficiency of pig production, the study
provides some suggestions as follow: i) the government should support credit to producers,
particularly poor households to help them expand production scale; (ii) research institutions
should help farmers in providing good pig breeds with high lean percentage, short fattening
time, and high disease resistance, and (iii) local extension system should enhance its capacity to
transfer sufficient technical knowledge and economic managerial skills to farmers.
Cửu Cao đợc coi là một trong những xã có phong trào chăn nuôi lợn mạnh nhất của
huyện Văn Giang. Nơi đây có nhiều hộ chăn nuôi lợn hớng nạc với quy mô lớn theo mô hình
trang trại và nông hộ. Theo số liệu thống kê của xã, tính đến cuối năm 2004, tổng đàn lợn trong
xã có 4.470 con, trong đó lợn nái có 369 con. Đáng chú ý là số lợng nái ngoại trong cơ cấu đàn
nái lớn hơn nái nội, tạo điều kiện thuận lợi để Cửu Cao phát triển chăn nuôi lợn theo hớng nạc
hoá (tổng số nái ngoại trong đàn nái là 218 con, chiếm 59,08%, trong khi đó tổng số nái nội là
151 con, chiếm 40,92%). Đây chính là điểm mấu chốt giải thích tại sao xã Cửu Cao lại là một
trong những đơn vị đứng đầu trong toàn huyện nuôi nái ngoại, lợn siêu nạc.
Hiện nay, chăn nuôi lợn ở Cửu Cao đang phát triển theo mô hình liên kết trong chăn nuôi
thành các tổ, nhóm hợp tác và hoạt động hiệu quả. Các hộ chăn nuôi lợn trong tổ hợp tác chủ yếu
là các hộ chăn nuôi có quy mô chăn nuôi khá lớn từ 25-50 con và một số trang trại trên địa bàn,
chăn nuôi theo hớng bán công nghiệp và công nghiệp. Những hộ chăn nuôi này liên kết với nhau
từ khâu đầu vào cho đến lúc lợn xuất chuồng. Tổ hợp tác đã thực hiện tơng đối tốt một số khâu
nh: (1) Khâu con giống, tổ hợp tác trực tiếp liên hệ với các cơ sở giống bảo đảm chất lợng để
mua cho các hộ chăn nuôi và một phần thì các hộ tự túc đợc con giống bằng việc chăn nuôi lợn
nái ngoại; (2) Khâu thức ăn, đối với thức ăn thì một ngời trong tổ hợp tác có vốn lớn đứng ra liên
hệ trực tiếp với công ty thức ăn hay các đại lý cám cấp 1 để mua thức ăn cho các hộ chăn nuôi ứng
trớc. Đây cũng là một hình thức giúp cho các hộ chăn nuôi giải quyết đợc phần nào về vốn, họ
không phải thế chấp; (3) Tiêm phòng là khâu rất quan trọng, đặc biệt trong chăn nuôi lợn ngoại,
các hộ trong tổ hợp tác cũng thực hiện tơng đối tốt bởi kiến thức thú y của các hộ khá cao, hơn
nữa con giống của các hộ có chất lợng tốt nên vấn đề rủi ro về bệnh tật ít xảy ra hơn; (4) Thông
qua hình thức liên kết này, các hộ có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong lĩnh vực
chăn nuôi lợn ngoại, đặc biệt là quy trình chăm sóc lợn nái ngoại. Tuy nhiên, hình thức hợp tác ở
đây vẫn còn đơn giản, cha có sự ràng buộc nhiều về mặt pháp lý và lợi ích, nên trong quá trình
hoạt động vẫn còn gặp phải một số khó khăn nh khâu vốn cho phát triển chăn nuôi, khâu tiêu thụ
sản phẩm. Đối với vốn, tổ hợp tác không có t cách pháp nhân nên không thể đứng ra vay vốn giúp
các hộ chăn nuôi có nhu cầu tiếp cận đợc với nguồn vốn để phát triển chăn nuôi. Mặt khác, sản
phẩm chăn nuôi của các hộ mới chỉ tiêu thụ ở thị trờng nội địa (Hà Nội và Hải phòng) chứ cha
tìm đợc một thị trờng xuất khẩu ổn định và lâu dài. Đây là vấn đề đặt ra không chỉ cho ngời
chăn nuôi mà còn là của các cơ quan đoàn thể có liên quan nhằm phát triển ngành chăn nuôi lợn
nái ngoại tốt hơn nên lợn con tăng trọng nhanh, hao hụt trong chăn nuôi lợn nái thấp hơn các hộ chăn
nuôi tự do. Do đó, để mở rộng quy mô đàn lợn nái cần coi trọng đến hình thức hợp tác trong chăn nuôi
của các hộ với quy mô vừa phải. Hình thức này đợc xem nh có tiềm năng trong các năm tới. Bởi
chính sự liên kết này sẽ là điều kiện tốt để những ngời chăn nuôi có thể học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
về quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn nái, đặc biệt là lợn nái ngoại. Làm đợc điều đó thì các hộ chăn
nuôi có thể tự túc đợc con giống trong những năm tới góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn
nuôi lợn nái.
Bảng 2. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt hớng nạc theo loại hình chăn nuôi
(tính cho 1000 kg lợn hơi xuất chuồng)
So sánh
STT Chỉ tiêu ĐVT Chung
Hộ
hợp tác (I)
Hộ không
hợp tác(II)
I-II I/II
1 Giá trị sản xuất (GO) 1000đ 18712,25 22165,14 15690,97 6474,17 1,41
2 Chi phí trung gian (IC) 1000đ 13240,13 14986,79 11711,80 3274,99 1,28
3 Giá trị gia tăng (VA) 1000đ 5472,12 7178,35 3979,17 3199,18 1,80
4 Thu nhập hỗn hợp (MI) 1000đ 5385,45 7083,35 3899,79 3183,56 1,82
5 VA/IC lần 0,41 0,48 0,34 0,14 1,41
6 MI/IC lần 0,40 0,47 0,33 0,14 1,42
7 VA/1 công lao động 1000đ 43,82 49,51 38,85 10,66 1,27
8 MI/1 công lao động 1000đ 43,12 48,85 38,12 10,74 1,28
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2005)
So sánh hiệu quả kinh tế giữa nhóm hộ hợp tác và không hợp tác trong chăn nuôi lợn thịt,
để khẳng định vai trò của hợp tác trong chăn nuôi lợn ở xã Cửu Cao cho thấy, chi phí chăn nuôi
lợn thịt của hộ hợp tác là 14986,79 nghìn đồng, cao gấp 1,28 lần hộ không hợp tác. Thu nhập hỗn
hớng nạc là rất lớn. Mặt khác, chi phí cho việc xây dựng chuồng trại và các trang thiết bị phục
vụ chăn nuôi là lớn, trong khi nguồn vốn của các hộ hạn chế nên việc đầu t cha bảo đảm tiêu
chuẩn về khẩu phần thức ăn cũng nh quy trình chăn nuôi lợn hớng nạc xuất khẩu. Vì vậy, hiệu
quả chăn nuôi lợn các hộ không cao. Đây là vấn đề mấu chốt, nếu giải quyết đợc sẽ góp phần
khắc phục đợc những trở ngại khác và chắc chắn sẽ nâng cao đợc hiệu quả hợp tác trong chăn
nuôi lợn của các hộ.
Chăn nuôi lợn, đặc biệt là chăn nuôi lợn hớng nạc theo hớng xuất khẩu nó đòi hỏi tuân thủ quy
trình kỹ thuật nghiêm ngặt. Các hộ chăn nuôi ở Cửu Cao còn thiếu kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi lợn
hớng nạc, chủ yếu chăn nuôi dựa vào kinh nghiệm theo hớng tận dụng nhỏ lẻ và đa số các hộ cha nắm
đợc quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn hớng nạc, đặc biệt là lợn nái siêu nạc. Đây là khó khăn mà các hộ
trong tổ hợp tác đang gặp phải, nếu tổ hợp tác giải quyết đợc vấn đề này cho các hộ chăn nuôi thì chắc chắn
rằng hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn hớng nạc của các hộ sẽ đạt cao hơn.
Cũng nh nhiều vùng chăn nuôi lợn ở Việt Nam, giống lợn đợc đa vào chăn nuôi hiện nay ở
Cửu Cao chủ yếu là giống lợn lai, còn tỷ lệ giống lợn siêu nạc nh Landrace, Yorkshire là rất thấp (Lê Hồng
Mận, Xuân Giao; 2003), chỉ chiếm khoảng 21% Mặt khác, chất lợng lợn giống không đồng đều, không
rõ nguồn gốc, giá giống lợn cao và không đáp ứng đợc theo tiêu chuẩn xuất khẩu nên hiệu quả kinh tế chăn
nuôi lợn của các hộ vẫn còn thấp. Trong thời gian tới tổ hợp tác cần tích cực đẩy mạnh việc liên hệ với các
trung tâm sản xuất giống của tỉnh và Nhà nớc để mua đợc những giống lợn có chất lợng tốt, hiệu quả
cao, đồng thời mở rộng thêm các hộ chăn nuôi lợn nái siêu nạc nhằm phục vụ con giống ngay tại địa
phơng.
Ngoài các yếu tố nói trên, các vấn đề khác nh: tính tổ chức của tổ hợp tác cha cao, sự liên kết giữa các
hội viên trong nhóm còn lỏng lẻo do đó việc tiếp xúc với thông tin thị trờng của các hộ sản xuất bị hạn chế,
nên việc mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là thị trờng xuất khẩu ra nớc ngoài của các hộ còn
khó khăn. Đây cũng là nguyên nhân làm cho các hộ chăn nuôi lợn thờng bán sản phẩm với giá thấp, hiệu quả
thu đ
ợc cũng không cao. Vì vậy, để nâng cao đợc hiệu quả kinh tế trong hợp tác chăn nuôi lợn của các hộ ở
Cửu Cao, nhất thiết phải khắc phục đợc các vấn đề nêu trên.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong hợp tác chăn nuôi lợn hớng
nạc xuất khẩu
Vốn là yếu tố rất quan trọng cho việc phát triển chăn nuôi, đặc biệt là các hộ chăn nuôi
trong hợp tác chăn nuôi lợn hớng nạc cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp: đầu t nghiên
cứu để tìm ra giống lợn và quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn thích hợp, thực hiện chính sách tín
dụng u đãi đối với các hộ nuôi lợn, và bản thân các hộ chăn nuôi cũng nh tổ hợp tác cần tổ
chức chặt chẽ hơn nữa các khẩu trong quá trình hoạt động.
Tài liệu tham khảo
Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2003), Nuôi lợn thịt siêu nạc, NXB Lao động-xã hội.
Nguyễn Bá Liệu (2004), Đánh giá nông thôn có sự tham gia, tài liệu tham khảo của CCF