LUẬN VĂN: Văn hoá doanh nghiệp và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp doc - Pdf 15

LUẬN VĂN: Văn hoá doanh nghiệp và vai trò
Công đoàn trong việc xây dựng Văn
hoá doanh nghiệp
Mở đầu

phát triển kinh tế - xã hội.”Chúng ta phải làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của
đời sống. Vì vậy văn hoá doanh nghiệp được coi là nguồn lực nội sinh, trực tiếp thúc đẩy
sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp, góp phần vào thành công của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước Kinh tế của
thủ đô Hà Nội đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển chung của đất nước, những
năm qua Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của Hà Nội.
Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị đã đề ra những nhiệm vụ chiến lược đối với Hà Nội:
“Trong 10 năm tới, đảm bảo xây dựng về cơ bản nền tảng vật chất kỹ thuật và xã hội của
Thủ đô xã hội chủ nghĩa” và quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá Thủ đô”. Thực hiện Nghị quyết trên một số doanh nghiệp nhà nước ở Hà
Nội đã làm ăn có lãi, đứng vững trong cơ chế thị trường, đã tạo cho mình một diện mạo
mới, cung cách làm ăn mới. ở những doanh nghiệp đó tổ chức Công đoàn phát huy được
tinh thần sáng tạo và đóng góp của mọi thành viên trong doanh nghiệp, khẳng định vai
trò của mình trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiêp.
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đến lợi nhuận, coi lợi
nhuận như là một “tiêu chuẩn duy nhất” để tồn tại doanh nghiệp, không quan tâm đến
việc xây dựng “Văn hoá doanh nghiêp”. Từ đó dẫn đến lương tâm, phẩm giá của người
lao động bị giảm sút, nạn ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội, các bệnh hiểm nghèo
cũng phát triển theo. Một số doanh nghiệp khác cũng không quan tâm xây dựng VHDN
nên làm ăn kém hiệu quả, chất lượng sản phẩm không đảm bảo, trình độ quản lý, kinh
doanh kém, cạnh tranh không lành mạnh, không trả lương, trả thưởng cho người công
nhân đúng thời hạn, không đảm bảo vệ sinh an toàn lao động, làm cho người lao động
không hứng thú làm việc, không không gắn bó với doanh nghiệp. Tất cả những điều ấy
cho thấy, các doanh nghiệp thiếu hẳn vai trò của văn hoá trong sản xuất kinh doanh. Hay
nói một cách khác là các doanh nghiệp chưa thực sự hình thành cho mình một VHDN.
Pháp, Mỹ, Đức các doanh nghiệp đã chú trọng đến yếu tố văn hoá trong sản xuất, kinh
doanh và đã bắt đầu xây dựng VHDN của mình.
Gần đây trong khoá học chuyên đề: Xây dựng Văn hoá doanh nghiệp của trung tâm
hợp tác nguồn lực Việt Nam - Nhật Bản tháng 12 năm 2004 ở Hà nội người ta đã đưa ra
một khái niệm về Văn hoá tổ chức.
ở Việt Nam ta, đề cập đến mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế khá muộn. Trước đây
người ta cho rằng, văn hoá và kinh tế là hai lĩnh vực hoàn toàn tách biệt nhau, không có
mối quan hệ hỗ trợ, gắn bó nào. Đấy là một nhận thức sai lầm. Sau Đại hội VI của Đảng,
chúng ta bắt đầu đổi mới về tư duy, nhận thức, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế.
Chúng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của văn hoá trong phát triển kinh tế. Văn hoá
vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát phát triển kinh tế - xã hội. Mãi đến năm 1995, tại
Hà Nội, Trung tâm Khoa học xã hội - Nhân văn Quốc gia cùng với Uỷ ban Quốc gia
Unesco của Việt Nam mới phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo "Văn hoá và kinh doanh”.
Trong Hội thảo này các Đại biểu quốc tế và Việt Nam đều nhất trí và khẳng định rằng,
giữa văn hoá và kinh tế có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau, đồng thời chỉ ra
rằng, trong kinh doanh yếu tố văn hoá đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Đến năm 2001, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương phối hợp với Bộ Văn hoá -
Thông tin và viện Quản trị Doanh nghiệp, xuất bản cuốn sách Văn hoá và kinh doanh.
Trong cuốn sách này các tác giả không đề cập đến “Văn hoá doanh nghiệp” mà chỉ nói
đến văn hoá trong kinh doanh, quan hệ giữa văn hoá với kinh doanh. Đây chỉ là những ý kiến
gợi mở để chúng ta có thể tham khảo, đồng thời bước đầu làm cơ sở cho việc xây dựng lý
luận về hình thành VHDN.
Ngoài ra, còn có một số công trình đã được nghiên cứu về VHDN và được công bố
như: Văn hoá và triết lý kinh doanh của tiến sĩ Đỗ Minh Cương (Xuất bản năm 2000).
Trong tác phẩm này, tiến sĩ Đỗ Minh Cương đã đưa ra định nghĩa về VHDN và cấu trúc
của nó. Nhưng tiến sĩ Đỗ Minh Cương lại không đi sâu hướng nghiên cứu này, mà chỉ
chọn vấn đề triết lý kinh doanh để nghiên cứu.
Năm 2003, tác giả Trần Quốc Dân đã cho ra đời cuốn sách” Tinh thần doanh nghiệp

- Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu, các tài liệu đã có, Luận văn khái quát,
hệ thống vấn đề mang tính lý luận: VHDN, cấu trúc văn hoá hoá doanh nghiệp và vai trò
của văn hoá doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
- Khảo sát, tìm hiểu thực trạng xây dựng văn hoá doanh nghiệp của một số doanh
nghiệp nhà nước và hoạt động Công đoàn trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp, ở
thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, khẳng định vai trò của công đoàn cơ sở
đối việc xây dựng VHDN trong các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời đưa ra một số
phương hướng và giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển
doanh nghiệp, cũng như nâng cao vai trò hoạt động của Công đoàn cơ sở để giúp doanh
nghiệp phát triển một cách toàn diện và bền vững.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt dược mục đích trên, luận văn cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Làm rõ khái niệm VHDN trên cơ sở phân biệt các khái niệm liên quan như Văn hoá,
Văn hoá kinh tế, VHKD. Luận văn sẽ đưa ra một cách chia cấu trúc VHDN hợp lý, để
nắm bắt được thực chất “Văn hoá doanh nghiệp”và mô tả đầy đủ các yếu tố của nó. Đồng
thời chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của VHDN trong sự phát triển bền vững của doanh
nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng VHDN của một số doanh nghiệp nhà nước ở thủ đô
Hà Nội. Đưa ra một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả VHDN
ở Thủ đô Hà Nội gắn với vai trò của tổ chức Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp
4. Phạm vi nghiên cứu luận văn
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là một số doanh nghiệp nhà nước tiêu biểu trên địa
bàn thủ đô Hà nội, trong đó có cả doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương.
5.Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu luận văn
5.1. Cơ sở lí luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về doanh Chương 1
Mấy vấn đề lý luận về Văn hoá Doanh nghiệp
và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng
văn hóa doanh nghiệp

1.1. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp
1.1.1. Khái lược về “văn hoá”
Trong lịch sử phát triển xã hội và sự hoàn thiện nhân cách con người, văn hoá đồng
hành với con người trên tất cả mọi phương diện: hoạt động và sáng tạo. Hoạt động nhằm
bộc lộ sức mạnh bản chất người và hoàn thiện nhân tính. Sáng tạo như một đặc trưng bản
chất của con người, cái thước đo phân biệt tồn tại người với tồn tại vật, giữa ý thức tự
giác của người với bản năng tự phát của động vật, giữa tất yếu và tự do. Nhờ có sáng tạo
mà nhân tính mới được khẳng định và hoàn thiện, con người mới biểu hiện như một chủ
thể hoạt động và sáng tạo giá trị.
Văn hoá thống nhất trong đa dạng, thống nhất bao hàm bởi nhiều sự khác biệt. Nhờ
nó, tự bản chất nó, văn hoá mang thuộc tính một động lưc phát triển và mang ý nghĩa của
sự hoàn hảo, không ngừng vươn tới sự hoàn hảo. Bản chất văn hoá gắn liền với bản chất
con người. Dưới tác động của văn hoá, đặc biệt là văn hoá đạo đức và văn hoá thẩm mỹ,
con người có thể nảy nở khát vọng, nhu cầu trở nên tốt đẹp, cái mà từ lâu, Mác gọi là sự
nãy nở nhân tính, làm cho hoàn cảnh có tính người ngày càng nhiều hơn.
Giữa con người và văn hoá có quan hệ mật thiết với nhau. Khi nói văn hoá hay nói
con người, chỉ là những phạm trù tách ra để nhận thức, chúng là những đối tượng được
khu biệt trong nhận thức. Nhưng trong tính hiện thực bản thể của chúng, văn hoá và con
người luôn gắn liền với nhau, biểu hiện lẫn nhau. Không có con người và hoạt động
người thì không có văn hoá. Bởi không có một giá trị, một sản phẩm văn hoá nào ra đời
nếu không có bàn tay và khối óc của con người tạo nên. Ngược lại không có văn hoá con

Tổng giám đốc UNESCO Fderico Mayord đưa ra, nhân dịp phát động “ Thập kỷ thế giới
phát triển văn hoá” (1988- 1997). Ông viết “Văn hoá là tổng thể sống động các họat
động sáng tạo(của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các
thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền
thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”
Xuất phát từ quan niệm trên, các nhà xã hội học chia văn hoá thành hai hình thái: văn
hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng.
Văn hoá cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích luỹ vào mỗi các nhân, biểu
hiện ở hệ thống quan niệm và hành xử của các nhân ấy trong đời sống thực tiễn.
Văn hoá cộng đồng là văn hoá của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng giản
đơn của những văn hoá cá nhân - thành viên trong cộng đồng cộng lại. Văn hoá cộng
đồng là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm, giá trị, phương thức ứng xữ…mà cả cộng động
cùng chia sẽ và chấp nhập, đã trở thành truyền thống của cộng đồng ấy. Định nghĩa văn
hoá của E Mayor vừa nêu trên chính là nói về nội dung và đặc điểm của Văn hoá công
đồng.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá với tư cách là một khoa học xã hội ra đời rất
muộn. Nhưng những nhận định, quan niệm về văn hoá thì có từ rất sớm, gắn với những
tên tuổi các học giả như Lê Quý Đôn (1773), Phan Kế Bính (1915), Đào Duy Anh
(1938), Nguyễn Văn Huyên (1944)…
Nhìn chung, các công trình của các ông được các nhà văn hoá hiện nay đánh giá là
viết theo hướng lịch sử văn hoá, mang tính chất miêu tả là chủ yếu, nhưng rất công phu
và tỷ mỷ.
Giữa thế kỷ 20 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm về văn hoá mà đến
nay người ta cho vẵn còn nguyên giá giá trị: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn,
mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn

Từ sự phân tích ở trên, đã giúp chúng ta có cơ sở khoa học tiếp cận những vấn đề
mới, đó là VHDN, văn hoá kinh doanh, văn hoá kinh tế… tất cả đấy là những dạng, kiểu
của văn hoá, mang đầy đủ trong nó những đặc điểm, đặc trưng, thuộc tính của văn hoá tổ
chức cộng đồng.
1.1.2. Khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp”
Khái niệm VHDN được cấu tạo bởi bởi hai khái niệm văn hoá và doanh nghiệp. Để
hiểu rõ nội hàm khái niệm VHDN, trước hết ta cần làm rõ khái niệm doanh nghiệp.
1.1.2.1. Khái niệm về “Doanh nghiệp”
Theo đại Từ điển tiếng Việt, doanh nghiệp là: “tổ chức hoạt động kinh doanh của
những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân, nhằm mục đích kiếm lời ở một hoặc nhiều
ngành".
Như vậy, thuật ngữ “ doanh nghiệp” mang hai nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở, có chức năng sản xuất - kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ, một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trường, nhằm đạt lợi
nhuận hoặc hiệu quả kinh tế tối đa. Nghĩa là, doanh nghiệp bao gồm tất cả các cơ sở sản
xuất - kinh doanh, từ các Tổng Công ty, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia… đến các
hộ gia đình kinh doanh cá thể nhỏ lẻ.
Theo nghĩa hẹp: Doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở thuộc khu vực chính thức, có
đăng ký tư cách pháp nhân theo các Luật Doanh nghiệp và kinh doanh hiện hành.
Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Doanh nghiệp đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp như sau;
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở, giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh”.
ở Việt Nam chúng ta hiện nay, tuỳ theo đặc điểm về hình thức sở hữu, về lĩnh vực sản
xuất, về quy mô tổ chức sản xuất, người ta có thể phân ra các loại hình doanh nghiệp theo
hình thức sở hữu như sau:
Doanh nghiệp nhà nước:

Công ty và ghi tại Điều lệ Công ty.
1.1.2.2. Quy mô và cơ cấu của doanh nghiệp
Trong những năm đổi mới, trong chiến lược phát triển kinh tế của Đảng ta, xây dựng
nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN đã tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế phát huy thế mạnh và khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực của đất nước. Đặc
biệt Nhà nước ban hành các luật về đăng ký kinh doanh như; Luật Doanh nghiệp Nhà
nước, Luật đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp làm hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngày càng trở nên sôi động và có hiệu quả. Số lượng doanh nghiệp trong
các thành phần kinh tế của đất nước ngày càng tăng nhanh.
Nếu tính từ năm 2000 tổng số doanh nghiệp là 42.288 đơn vị thì đến năm 2003 tổng
số doanh nghiệp lên tới 62.908 đơn vị.
- Xét theo quy mô lao động
Qua kết quả điều tra của Tổng cục thông kê, các doanh nghiệp Việt Nam xét theo quy
mô lao động phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tại thời điểm năm 2002, doanh
nghiệp có số lao động từ 1000 CNLĐ trở lên chiếm tỷ trọng rất nhỏ (1,08%) trong tổng
số các doanh nghiệp hiện có. Ngược lại, doanh nghiệp có số lao động nhỏ chiếm tỷ trọng
khá lớn cụ thể như sau:
Doanh nghiệp - có từ 5 đến 9 lao động chiếm 28,3% trong tổng số 62.9 doanh nghiệp
Doanh nghiệp có 10 đến 49 lao động chiếm 32,94%
Doanh nghiệp có 50 đến 199 lao động chiếm 11,99%
Doanh nghiệp có 200 đến 299 lao động chiếm 2,15 %
Như vậy, số doanh nghiệp có quy mô lao động vừa và nhỏ hiện nay ở Việt Nam vẫn
chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp, điều đó phản ánh nguồn vốn, công nghệ,
trình độ quản lý của doanh nghiệp chưa cao. Nhưng với việc phát triển các loại hình
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giải quyết một phần rất lớn lao động cho xã hội và đóng góp
vào nền kinh tế quốc dân một phần ngân sách không nhỏ.
- Xét theo quy mô vốn

doanh nghiệp có từ 200 đến 500 tỷ đồng 312 383 501
doanh nghiệp có từ 500 tỷ đồng trở lên 199 223 260
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2004). Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra
năm 2001, 2002, 2003 [tr.59].
Từ số liệu trên, có thể nói rằng các loại hình doanh nghiệp có quy mô, vốn, đặc điểm,
cơ chế hoạt động khác nhau.
1.1.2.3. Các quan niệm văn hóa doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, doanh nghiệp tồn tại là để sản xuất của cải vật chất, kinh doanh
và phục vụ nhu cầu của xã hội. Những hoạt động sản xuất này được thể hiện trên một dây
chuyền công nghệ nhất định. Để vận hành tất cả các khâu của dây chuyền này, trong
doanh nghiệp có hệ thống hành chính hoặc hệ thống quản lý mà trong đó mọi người đều
phải thực hiện các chức năng của mình hoặc là lãnh đạo cấp trên hoặc là nhân viên cấp
dưới. Hoạt động của doanh nghiệp chỉ thực hiện được trên cơ sở có kỹ thuật công nghệ
và có kỷ cương gắn với các cấp độ quản lý. Hoạt động trong các doanh nghiệp, các tổ
chức là những con người. Điều này có nghĩa là trong hoạt động của mình, họ tuân theo
những quy định cụ thể nào đó và thực hiện những nghi thức nhất định… Theo ý nghĩa
này, mỗi doanh nghiệp là một cộng đồng xã hội hoặc một không gian văn hoá cụ thể.
Mỗi doanh nghiệp được thành lập để thực hiện mục đích do nhà kinh doanh đặt ra.
Phương thức thực hiện mục đích kinh doanh trong doanh nghiệp đã tạo cho doanh nghiệp
một sắc thái riêng, một màu sắc riêng, một vị thế riêng. Xét từ góc độ ấy, chúng ta có thể
xác định VHDN như một hệ thống đặc thù, đặc trưng cho tổ chức đó, một hệ thống các
mối liên hệ, các hành động, các tác động qua lại và các mối quan hệ được thực hiện trong
khuôn khổ một hoạt động kinh doanh cụ thể.
Nhà xã hội học người Mỹ E.N.Schein cho rằng:
Văn hóa doanh nghiệp hoặc Văn hoá tổ chức là tổng thể những thủ pháp và
quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thích ứng bên trong các nhân
viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện

Văn hóa doanh nghiệp là một dạng của Văn hoá cộng đồng, bao gồm những hệ thống
triết lý, đạo lý kinh doanh, thông qua hệ thống tổ chức, công nghệ, mối quan hệ ứng xử
hài hòa bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, nhằm đạt mục đích đưa doanh nghiệp
ngày càng phát triển.
Như vậy, VHDN có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của
các cá nhân kể cả những người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp. Nó tác động sâu sắc
tới động cơ hành động của doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược
cho bản thân doanh nghiệp. VHDN luôn đóng vai trò như một lực lượng hướng dẫn, như
một sức mạnh cố hữu trong doanh nghiệp là ý chí thống nhất toàn thể lãnh đạo và nhân
viên của doanh nghiệp. Văn hoá càng mạnh và càng giữ vai trò định hướng hoạt động của
doanh nghiệp mạnh bao nhiêu, thì doanh nghiệp càng ít chỉ thị, mệnh lệnh, càng giảm bớt
bộ máy tổ chức và những điều lệnh bấy nhiêu. Một VHDN mạnh sẽ tạo nên sức mạnh
của doanh nghiệp.
1.1.3. Cơ cấu của Văn hóa doanh nghiệp
Có thể nói rằng, hiện tại ở Việt Nam chúng ta có khá nhiều quan niệm, khái niệm về
VHDN. ở mỗi người nghiên cứu, ở từng góc độ khác nhau lại có một khái niệm và một
cơ cấu văn hoá tương ứng. ở đây chúng tôi nghiên cứu cơ cấu VHDN là dựa vào những
thành tố cấu thành của VHDN đã được nêu ở trên. Vậy, cơ cấu VHDN được bao gồm các
thành tố sau:
1.1.3.1. Đạo lý, triết lý kinh doanh
Việc đưa “đạo đức” vào hoạt động kinh doanh không phải là điều mới mẻ. Về
phương diện lịch sử, các nhà doanh nghiệp Mỹ là những người đầu tiên quan tâm đến đạo
đức. Ngay từ năm 1913, doanh nghiệp Penny Company đã có một “Bộ luật” về đạo đức.
Các tín đồ giáo phái Quây-cơ là những người đầu tiên thực hiện đầu tư theo tiêu chuẩn
đạo đức bằng cách khước từ đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất vũ khí và thuốc lá. Xu
hướng này đã lan rộng ra toàn xã hội trong những năm 50, các Hiến chương về đạo đức
liên tiếp được đưa ra. Các ấn phẩm văn hoá về đạo đức ngày càng phong phú, đã có nhiều

doanh đã công bố, quảng cáo, tức là khách hàng hoàn toàn tin vào tính trung thực của của
nhà kinh doanh. Nếu những thông tin này thiếu trung thực hoặc bị cắt xén, cố ý gian dối
để vụ lợi cá nhân, thì hậu quả mà nhà kinh doanh gây ra cho khách hàng và xã hội rất tại
hại và khôn lường.
Có thể quan niệm rằng: Đạo đức kinh doanh là một loại hình đạo đức, có tác động và
chi phối hành vi của các chủ thể hoạt động kinh doanh, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế -
xã hội cao cho doanh nghiệp.
Từ sự phân tích ở trên, chúng tôi có thể khái quát một số tiêu chuẩn về phẩm chất đạo
đức trong kinh doanh như sau:
Một là, tính trung thực: Thể hiện trong sự nhất quán giữa nói và làm, tức là danh và
thực. Không được dùng những thủ đoạn lừa dối, xảo trá để kiếm tiền, không được quảng
cáo sai sự thật. Thật sự coi trọng tính công bằng, chính đáng và đạo lý trong sáng trong
kinh doanh.
Hai là, tôn trọng khách hàng: Coi trọng những nhu cầu, sở thích và tâm lý của khách
hàng. Tôn trọng và đánh giá cao những sáng tạo, đóng góp của nhân viên trong doanh
nghiệp. Coi trọng chữ tín trong giao tiếp, buôn bán và hoạt động kinh doanh.
Ba là, luôn vươn tới sự hoàn hảo: Không ngừng tu dưỡng bản thân, luôn luôn lắng nghe
ý kiến khách hàng, luôn nỗ lực vươn lên, không cho phép tự thoả mãn với những gì mình đã
đạt được. Phải có hoài bảo lớn, không chịu khuất phục trước thách thức, quyết tâm vươn lên
để thành đạt trong kinh doanh.
Bốn là, phải biết đương đầu với thử thách: Không ngại khó khăn gian khổ, biết lường
trước những tình huống có thể xảy ra mà nghề kinh doanh thường gặp phải.
Năm là, coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội, hiệu quả kinh tế là thước
đo thành công, thành đạt trong kinh doanh. Muốn tiếp tục phát triển, doanh nghiệp không
những nâng cao hiệu quả, hiệu suất trong hoạt động kinh doanh mà còn phải làm tốt công
tác xã hội, gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội.
Còn một yếu tố quan trọng trong hệ thống tổ chức - công nghệ để từ đó hình thành

nghiệp.
Như vậy, tổ chức - công nghệ là một thành tố vô cùng quan trọng của VHDN, nó sẽ
quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Như đã phân tích ở trên, kinh nghiệm trong việc tổ chức, sắp xếp, quản lý nguồn nhân
lực là một yếu tố tổ chức - công nghệ của VHDN. Sắp xếp như thế nào cho hợp lý, quản
lý như thế nào cho tốt, để mọi thành viên trong doanh nghiệp đều có thể cống hiến hết
mình, phát huy mọi năng lực, trí tuệ, kỹ năng, kỹ xão, kinh nghiệm thực tiễn của mỗi các
nhân, tất cả đều hướng đến một mục tiêu là doanh nghiệp phát triển. Làm được như vậy
gọi là kỹ năng quản lý, và như vậy đã vận dụng thành công các yếu tố của văn hoá vào
sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, trong quá trình vận hành của doanh nghiệp còn phải thực hiện những
nguyên tắc, những quy định, những chuẩn mực về cách ứng xử cũng là một trong những
yếu tố của hệ thống tổ chức- công nghệ. Hệ thống này sẽ giúp doanh nghiệp vận hành có
trật tự, quy cũ, nền nếp và tất nhiên sẽ làm cho doanh nghiệp hoạt động ngày càng có
hiệu quả. Bởi vì những chuẩn mực ấy, những nguyên tắc ấy, những quy định ấy vừa là ý
thức, nhưng vừa là trách nhiệm tạo động lực thúc đẩy, động viên các thành viên trong
doanh nghiệp hướng tới mục tiêu cao cả vì sự phát triển, phồn thịnh của doanh nghiệp, vì
lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.
Bên cạnh đó, ngoài những quy tắc, quy định mà doanh nghiệp đề ra để quản lý đơn
vị, doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm trước một số quy định của cộng đồng. ở Việt
Nam chúng ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, có nhiều doanh nghiệp đang
phấn đấu thực hiện các phương thức quản lý tiên tiến như: ISO 9000, ISO 9002, ISO
14.000, và tiêu chuẩn SA 8000. Theo như các chuyên gia nghiên cứu của Viện nghiên
cứu Quản lý kinh tế TW, SA 8000 là một hệ thống tiêu chuẩn quy định về điều kiện làm
việc của người lao động, được xem như một giải pháp khẳng định về giá trị đạo đức của
sản phẩm. Cụ thể nó quy định rõ về trách nhiệm xã hội, liên quan đến lao động trẻ em,

Hệ thống biểu hiện, thương hiệu trong VHDN giống như “ bộ mặt” của chính doanh
nghiệp. Những biểu hiện ấy bao gồm: lôgô, huy hiệu, thương hiệu, trang phục, biểu
tượng, lễ hội, nghi thức, tiếp khách, biểu diễn văn nghệ… Tất cả các thứ đó không phải là
những cái ngẫu nhiên, sẵn có mà doanh nghiệp phải trải qua một quá trình dài tìm tòi, lựa
chọn, sáng tạo, làm sao cho các biểu tượng ấy phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của
doanh nghiệp và phải mang bản sắc riêng của doanh nghiệp mình. Ví dụ khi vào một
Công ty người ta nhìn vào đồng phục của những nhân viên đang mặc, người ta biết ngay
đó là doanh nghiệp nào. Quan trọng nhất trong hệ thống này là thương hiệu của doanh
nghiệp.
Vậy thương hiệu là gì?
Trong cuốn sách “ Xây dựng thương hiệu mạnh và thành công” Nhà xuất bản Thống
kê (9/2004) của nhà nghiên cứu người Mỹ JAMES
R.GREGORY, sau 13 năm nghiên cứu, sau khi khảo sát 10.000 doanh nghiệp của 40
ngành công nghiệp ở Mỹ, ông đã đưa ra khái niệm về thương hiệu như sau: “Thương hiệu là
một tài sản Doanh nghiệp, có thể - và phải - được quản lý qua thời gian giống như một tài
sản doanh nghiệp khác” [31, tr.12].
Đây là tài sản được kết tinh các yếu tố vật chất và tinh thần của doanh nghiệp, được
cả cộng đồng xây đắp và chi sẻ, giữ gìn và trao truyền từ thế này sang thế hệ khác tạo
nên.
Như vậy, thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp, đã là tài sản, tất yếu thương hiệu
sẽ mang về các lợi ích cho doanh nghiệp. Trước tiên nó làm cho việc tiếp thị của doanh
nghiệp có hiệu quả hơn. Nó có thể làm chậm hoặc ngưng sự xói mòn của thị phần. Nó
giúp doanh nghiệp dễ dàng tuyển mộ nhân lực có tài năng hơn, đồng thời nó tăng sức lôi
cuốn của doanh nghiệp đối với các thị trường nhà đầu tư và tài chính.
Chúng ta có thể thấy thương hiệu sẽ mang về các lợi cho Công ty có thương hiệu
mạnh:
1. Dẫn đến các kết quả kinh doanh tốt hơn: doanh thu, tiền lời và luồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status