LUẬN VĂN:
Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người
sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma tuý là một hiểm hoạ lớn của toàn nhân loại. Không một quốc gia, một dân
tộc nào không phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do buôn lậu ma tuý và nghiện
ma tuý gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Tình hình tệ nạn ma tuý diễn biến rất phức tạp,
tiềm ẩn, khó lường, có xu hướng gia tăng về số người nghiện và các tội phạm về ma tuý,
tính chất hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, manh động hơn. Ma tuý làm suy thoái
nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội
phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực, tài chính, huỷ hoại những tiềm
năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế xã hội, đem lại
ấm no hạnh phúc cho mọi người. Nghiêm trọng hơn, ma tuý là nguyên nhân chủ yếu dẫn
CT/TƯ, Chỉ thị 52-CT/TƯ, Nghị quyết 06/CP của Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21/CT-
TƯ
Tuy nhiên, trên thực tế kết quả giải quyết việc làm cho người nghiện ma tuý sau khi
được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế. Hàng năm, số đối tượng được tạo việc làm ở
cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị, phục hồi. Nguyên nhân của
tình trạng này ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường còn do nhận
thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể ở các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp
xã, cộng đồng, khu phố, thôn xóm ít quan tâm. Về phía bản thân đối tượng và gia đình họ
còn ỷ lại xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm. Mặt khác, Nhà nước ta cũng chưa có cơ
chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy động nhiều thành phần kinh tế - xã hội tham
gia giải quyết việc làm cho đối tượng.
Do vậy, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm, có thu nhập ổn định
không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết
yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu
quả. Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một
cách cơ bản, có hệ thống vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý để
giúp họ thực sự tái hoà nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho
xã hội. Để góp phần vào những nghiên cứu chung đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp hỗ trợ tạo
việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn
đề này, dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề tài sau:
Nhóm việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường:
- Đề tài cấp nhà nước 70A.02.02 “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt
Nam”, Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
- Đề tài cấp nhà nước KX-04-04: “Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách tiếp
cận khác nhau.
Có thể thấy rằng, các tài liệu mới chỉ đề cập rất ít tới vấn đề việc làm và giải quyết
việc làm cho người sau cai nghiện, chưa có công trình khoa học nào đã công bố, tập trung
nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý trong nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay.
Tuy vậy, nghiên cứu các công trình đã công bố đó, tôi cũng tham khảo được nhiều
vấn đề lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn
lọc những vấn đề đã được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo
sát thực tế ở một số địa phương, tôi có thể rút ra một số giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho
những người sau cai nghiện ma tuý ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tác động
tiêu cực của tệ nạn ma tuý tới đời sống kinh tế - xã hội, sự cần thiết phải tổ chức và quản lý
sau cai nghiện ma tuý và đề xuất giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai
nghiện ma túy ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ma tuý, sử dụng ma tuý, cai
nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
- Phân tích lý luận về hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện, góp phần hạn
chế và khắc phục tác động tiêu cực của tệ nạn ma tuý đối với kinh tế - xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý.
- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai
nghiện ma tuý ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
nghiện, tái hoà nhập cộng đồng và hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý.
Hệ thống các giải pháp khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiện nhằm nhân rộng các mô
hình trong cả nước.
6.2. ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nghiên
cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về tạo việc làm cho người sau cai nghiện,
phù hợp với điều kiện, và tình hình ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng
chống ma tuý, làm giảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 8 tiết.
Chương 1
Một số vấn đề Lý luận chung về ma tuý, việc làm
và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý
1.1 . Ma tuý và tác hại của nghiện ma tuý đối với kinh tế - xã hội
1.1.1 . Một số khái niệm liên quan đến ma tuý
* Ma tuý
Thuật ngữ “ma túy” xuất hiện ở Việt Nam ban đầu có ý nghĩa là chỉ thuốc phiện, về
sau còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại thuốc tân dược gây nghiện khác. Có ý
kiến giải thích thuật ngữ “ma tuý” đó là vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái.
Nó chữa được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh,
đồng thời làm cho con người mê mẩn, ngây ngất và tuý luý. Và như vậy, thuật ngữ “ma tuý”
* Người nghiện ma tuý
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: người nghiện ma túy là người sử dụng chất
ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm
chích và bị lệ thuộc vào các chất này. Từ khái niệm nghiện ma túy có thể rút ra cách hiểu về
người nghiện ma tuý như sau: người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc đối với các chất ma
túy và không thể quên hay từ bỏ được ma tuý. Nếu ngừng sử dụng thì người nghiện sẽ xuất
hiện hội chứng cai.
Như vậy, có thể hiểu người nghiện ma túy theo các cách định nghĩa khác nhau,
nhưng nó có mấy điểm cơ bản là người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp lại nhiều lần
một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp và bị lệ thuộc vào nó, không thể quên hay từ bỏ được
nó.
* Cai nghiện ma tuý
Với những hậu quả, tác hại mà ma túy gây ra cho người nghiện và gia đình, xã hội…
thì tất yếu phải có hoạt động cai nghiện ma tuý, đó là biện pháp giúp người nghiện ma tuý
thông qua chữa trị để từ bỏ ma tuý, phục hồi sức khoẻ tinh thần và tái hoà nhập cộng đồng.
Thực chất “cai nghiện ma tuý” là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người nghiện
(trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi).
Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm các tác
động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức…nhằm điều trị giúp người nghiện ma túy
cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khoẻ và tái hoà nhập xã hội. * Tái nghiện ma tuý
Quá trình nghiện ma tuý đã tạo cho người nghiện có phản xạ cực nhạy với ma tuý,
cho nên mặc dù đã cắt cơn rồi nhưng trong phạm vi 60 tháng hễ cứ nhìn thấy ma tuý, ngửi
thấy hơi người nghiện, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên loạn ma tuý quen
dùng, là cơn thèm khát ma tuý lại bùng lên dữ dội, khó có thể kiềm hãm được. Vì vậy, khi
ra khỏi các trung tâm cai nghiện, người cai trở lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu sự
ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội còn chưa trong sạch ma tuý dẫn đến khả năng tái
sử dụng ma túy là rất cao. Việc tái sử dụng ma tuý chính là tái nghiện ma tuý và theo
thăng bằng dễ rơi vào trầm cảm do bị người thân xa lánh, khinh thị. Vòng tròn không lối
thoát ấy vây chặt lấy họ. Việc từng bước trở lại với đời thường, sử dụng sức lao động cơ bắp
và kỹ năng và những gì học trong những năm ở trung tâm dể tự nuôi sống mình là một quá
trình thử thách lớn mang yếu tố quyết định.
Sức ỳ và tình trạng rối loạn tâm lý là nghiêm trọng, kể cả rối loạn sinh lý giới tính,
kéo dài trong nhiều năm do bị cách li với bên ngoài. Do đó, nhiều người vẫn chưa đủ quyết
tâm dứt khoát đoạn tuyệt với chất gây nghiện, vì vậy cuộc vật lộn nội tâm gay gắt dẫn đến
rối loạn tâm lý, tạo sức ỳ lớn, khó có thể tập trung trí lực và thể lực vào lao động sản xuất
trước mắt và trong một thời gian nhất định tiếp theo, nếu không có những cú hích mạnh.
Nhiều người sau cai do hiểu rất rõ trình độ và năng lực nghề nghiệp hạn chế, kém cỏi
của mình, tỏ ra thiếu tự tin trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng mới bắt đầu này. Không
ít người sau cai băn khoăn, lo lắng trong quá trình tái hoà nhập này là sức khoẻ kém, thiếu,
thậm chí mất sự tự tin nơi chính mình - khi bước vào một giai đoạn mới rất quan trọng để có
thể khẳng định kết quả những năm cai nghiện tập trung, được rèn luyện để giờ đây bước đầu
trên con đường trở lại đời thường. Một số khác luôn tự dày vò mình về những năm tháng
không ra gì trong quá khứ nghiện ngập, giờ đây vẫn canh cánh bên lòng rằng, họ sẽ tiếp tục
bị coi thường, bị bàn bè cùng trang lứa, thậm chí người thân ghét bỏ, khinh thị và xa
lánh tâm trạng đó có thật và có thể chia sẻ. Không phải ai khác mà chính là những người
sau cai khẳng định: năng lực nghề nghiệp kém, sức khoẻ èo uột, thiếu tự tin, lo lắng sầu não
bị mọi người xa lánh do quá khứ không ra gì…làm tăng rất cao khả năng tái nghiện đối với
họ. Trở về với cộng đồng trong bối cảnh ấy nguy cơ tái nghiện là rất cao, khó tránh khỏi.
Một số đông, nhưng so với tổng số người cai nghiện tập trung vẫn chỉ là một tỷ lệ
nhỏ, thấm thía với những lỗi lầm trong quá khứ sau khi để rơi vào tệ nạn ma tuý, đánh mất
hầu như tất cả, kể cả tài sản quí giá nhất là nhân cách. Giờ đây, họ tỏ ra có ý chí và tinh thần phấn đấu cao, được người thân động viên, giúp đỡ và tiếp sức, được những cán bộ quản lý
trực tiếp, giáo dục viên, chuyên gia tư vấn tâm lý truyền thêm nghị lực, đã tỏ rõ quyết tâm từ bỏ
ma tuý.
1.1.3 . Nguyên nhân của nghiện và tái nghiện ma tuý
Loại bỏ sự lệ thuộc tâm lý đòi hỏi một quá trình điều trị lâu dài gắn với cuộc đời
người nghiện, trong thời gian đó, phải tạo cho họ được sống trong môi trường không có ma
tuý, chăm sóc giúp đỡ thường xuyên…tức là tạo ra các yếu tố bảo vệ để phòng chống tái
nghiện.
* Tò mò muốn thử lại các chất ma tuý
Sự lệ thuộc về tâm lý tạo ra ở người nghiện cảm giác tò mò muốn thử lại. Khi thèm
nhớ, người nghiện tưởng tượng đến các cảm giác đê mê, ngây ngất do ma túy mang tới.
Trong thời gian cai nghiện tại các trung tâm, cảm giác thèm nhớ các chất ma tuý vẫn luôn
tồn tại, lúc lắng xuống, lúc mạnh mẽ tuỳ theo trạng thái tâm lý của người nghiện: khi họ
cảm thấy buồn bực, đau đớn, thất vọng thì cảm giác thèm ma tuý tăng lên, tương tự khi họ
quá phấn khích, vui vẻ. Trở về với cộng đồng, nếu không được sống trong một môi trường
cách ly với ma tuý, không được sự quan tâm, giám sát, giúp đỡ của gia đình, chính quyền,
người đã cai rất dễ tái nghiện. “Báo cáo kết quả điều tra người nghiện ma tuý năm 2001”
cho biết, tỷ lệ nghiện ma tuý (bao gồm cả tái nghiện ma tuý năm 2001” cho biết, tỷ lệ
nghiện ma túy (bao gồm cả tái nghiện ma tuý) do tò mò, tìm khoái lạc ở một số địa phương
như sau: Sơn La (55.8%), Hà Giang (44,44%)….
Cũng về nguyên nhân tò mò dẫn đến sử dụng ma tuý, Báo cáo tình hình lạm dụng ma
tuý ở Việt Nam của UNDCP có đề cập: tò mò và xã giao chơi bời là hai nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến sử dụng ma tuý (60%).
Những con số đó lưu ý chúng ta về các giải pháp phòng chống tái nghiện ma tuý,
phải làm cho người nghiện sau cai có đủ tự tin, nghị lực và hiểu biết để vượt qua sự thèm
nhớ, tò mò muốn sử dụng lại ma tuý.
* Do lối sống buông thả, ăn chơi, đua đòi
Đó vừa là nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý, vừa là một nguyên nhân của tái
nghiện. Người nghiện vốn do có lối sống sai lệch, nhiều thói quen xấu nên mắc vào nghiện
ngập và trở thành thói quen khó bỏ, thậm chí khi đã cai nghiện được một thời gian ở trung
tâm trở về tái hoà nhập cộng đồng, người nghiện vẫn giữ những thói quen đó. Thói quen sử
dụng ma tuý lại càng khó từ bỏ đối với người nghiện bởi ma tuý đã ăn sâu vào não người * Do không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp: Trong nền kinh tế thị
trường luôn tồn tại một tỷ lệ những người thất nghiệp. Thất nghiệp là một yếu tố nguy cơ
dẫn đến nhiều hành vi sai lệch khác nhau, trong đó có lạm dụng ma tuý. Mỗi lần cai nghiện
tại gia đình, cộng đồng hoặc từ các trung tâm cai nghiện trở về, người nghiện hầu như chẳng
còn gì ngoài hai bàn tay trắng. Trong thời gian nghiện hút, họ bán hoặc cầm cố tất cả những
gì mình có. Sức khoẻ người nghiện sau nhiều năm nghiện hút, chích, mắc nhiều bệnh, bây
giờ họ phải chịu thêm sự hành hạ của các bệnh mới khi ngừng sử dụng ma tuý nên sức khoẻ
suy sụp khó có thể có được việc làm có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia
đình. Người nghiện thường kêu ca buồn chán khi ở nhà vì không có việc làm, mệt mỏi, ăn
không ngon, ngủ không đẫy giấc. Khi không có việc làm ổn định hoặc thu nhập thấp không
đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình thì con người ta trở nên chán chường, bi quan
và rất dễ sa vào tái nghiện. Không có việc làm dẫn đến một mặt là người nghiện có nhiều
thời gian rỗi, có cơ hội giao du với những người bạn cũ, mặt khác, làm tăng thêm tính lười
nhác của người nghiện, giảm quyết tâm cai nghiện ma tuý.
Những người nghiện sau khi được cai trở về với cộng đồng trong tình trạng không có
việc làm rất dễ trở lại với ma túy. “Nhàn cư vi bất thiện”, vì thất nghiệp, người nghiện lang
bạt “nay đây mai đó”, trở lại những điểm tiêm chích xưa, gặp bạn nghiện cũ, thấy những
hình ảnh hết sức quen thuộc làm cho cảm giác thèm muốn trào dâng…Tái nghiện chỉ còn là
ngày một ngày hai.
Việc làm là một nhân tố khá quan trọng cho người nghiện tái hoà nhập cộng đồng và
đoạn tuyệt với ma tuý. “Kết quả điều tra khảo sát người nghiện cho thấy nguyên nhân tái
nghiện tập trung cao nhất vào lý do người nghiện sau cai không có việc làm nên tái nghiện
(chiếm 39,4%), sau đó là không có sự quản lý, hỗ trợ (chiếm 21,7%), còn lại tập trung vào
hai nguyên nhân khác: do mua ma tuý ngoài thị trường quá dễ (chiếm 20,7%) và bị kỳ thị
bởi cộng đồng (chiếm 17,2%) [63, tr.98].
Nguyên nhân dẫn tới người nghiện sau cai không tìm được việc làm, trước hết là do
họ bị hạn chế về mặt thể chất và cả tâm lý. Mặc dù được điều trị tại các trung tâm, song sự
suy yếu về sức khoẻ, biến đổi về hình thức, phong thái vẫn còn biểu hiện rõ nét khiến cho
chủ yếu là bạn tiêm chích cũ, có người đã cai nghiện, có người chưa cai, có người tái
nghiện. Sự tiếp xúc, giao lưu với những người bạn nghiện cũ khiến họ gợi nhớ những cảm
giác do ma túy đem đến. Trong hoàn cảnh đó, nếu một người bạn của người đã cai sử dụng ma tuý, “khoe” ma tuý hay mời chào sử dụng ma tuý…thì vấn đề tái nghiện chỉ còn phụ
thuộc vào ý chí của đối tượng nữa thôi, đa phần là không thể vượt qua.
* Cuộc sống gia đình không hoà thuận cũng là một nguyên nhân của tái nghiện. Nếu
gia đình, người thân không thông cảm, sẻ chia và có những sự hỗ trợ kịp thời cả về vật chất
và tinh thần thì với tâm trạng buồn chán, bi quan sẵn có sẽ làm cho người sau cai dễ lâm vào
tái nghiện. Trong thực tế có nhiều gia đình có những người thân đã tỏ ra thiếu lòng tin, sự
cảm thông đối với người cai nghiện từ trung tâm về và có thái độ khinh ghét đối với họ, tạo
ra cho họ tâm lý tự ti, mặc cảm. Người nghiện ma tuý khi đi cai về thường thì họ muốn tìm
việc làm, có những việc làm nguy hiểm ngoài khả năng kiểm soát của gia đình (ví dụ: phụ
xe đi nơi này nơi khác, chạy xe ôm…) hoặc có những công việc đòi hỏi vốn lớn ngoài khả
năng của gia đình nên người nghiện không được đáp ứng và có thể xảy ra mâu thuẫn giữa
gia đình và người nghiện sau cai. Những mâu thuẫn này có thể đưa người nghiện trở lại con
đường nghiện hút ma tuý.
* Sự thành kiến, phân biệt đối xử của cộng đồng xã hội: Những thành kiến của xã hội
đối với người nghiện đã có từ lâu. Nhiều người nhìn người nghiện với con mắt khinh bỉ,
miệt thị, coi họ là thành phần xấu cần cảnh giác. Hầu hết người dân gọi người nghiện là
thằng nghiện, con nghiện, bọn đạo chích, bọn xì ke, ma tuý. Điều đó làm cho người nghiện
càng trở nên mặc cảm và làm cho quá trình tìm việc làm của họ càng gặp nhiều trở ngại.
Trong cộng đồng, xã hội còn nhiều người hoài nghi về khả năng quyết tâm đoạn tuyệt với
ma túy của người nghiện. Cũng có lẽ do người ta đã chứng kiến cảnh người nghiện sau cai
lại tái nghiện quá nhiều, đặc biệt với tỷ lệ tái nghiện quá cao như hiện nay (trên 90%, thậm
chí 100% tái nghiện) nên số người đặt niềm tin vào lời hứa của người đã cai là rất ít.
Tóm lại, để cai nghiện được hoàn toàn đòi hỏi phải có sự kết hợp nỗ lực, ý chí quyết
tâm của bản thân người nghiện với sự hỗ trợ cần thiết của gia đình, cộng đồng, xã hội để
chống lại các yếu tố gây nên nghiện và tái nghiện. Chính vì vậy, hỗ trợ giúp tạo việc làm
đồng phòng ngừa tái nghiện cho gần hai trăm ngàn người nghiện, trong đó chiếm tới 80% là
thanh niên.
Nghiện ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội, làm
gia tăng và lan rộng các căn bệnh xã hội nguy hiểm như HIV/AIDS, ảnh hưởng đến văn
hoá, đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, bản sắc và giá trị văn hoá của dân tộc. Nghiện
ma tuý có mối quan hệ liên đới với rất nhiều loại tệ nạn và tội phạm xã hội khác: khoảng 85% người nghiện ma túy có tiền án, tiền sự, 40% các vụ trọng án là do người nghiện ma
túy gây ra. Thông qua các vấn đề xã hội cũng như việc giải quyết các vấn đề đó có thể đánh
giá khả năng điều hành đất nước của một chính phủ nào đó và tình hình chính trị ổn định
như thế nào. Không loại trừ nguy cơ các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề ma tuý
để công kích sự nghiệp cách mạng của nước ta.
1.2. Việc làm và hỗ trợ tạo việc làm trong quản lý đối với người sau cai nghiện
và phòng ngừa tái nghiện
1.2.1. Một số vấn đề chung về việc làm, tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường
* Quan niệm về việc làm
Việc làm là một phạm trù thuộc quyền con người, quyền có việc làm đã được quy
định trong hệ thống phát luật quốc tế, Công ước về các quyền kinh tế - xã hội và văn hoá năm
1966 ghi nhận: "Các quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền làm việc, trong đó
bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự lựa chọn
hoặc chấp nhận, và các quốc gia sẽ thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này”
(điều 6). “Các quốc gia thành viên của Công ước này công nhận quyền của mọi người được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…” (điều 7).
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân
khẩu; nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. KháI niệm việc
làm và khái niệm lao động liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể,là những giới
hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thoả
mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Về giác độ
vấn đề việc làm của mình.
Về mặt pháp lý, vấn đề việc làm gắn liền với chế độ pháp lý lao động. Quan hệ pháp
luật trong lĩnh vực việc làm về mặt lý luận pháp luật được coi là quan hệ có liên quan trực
tiếp với quan hệ lao động và đóng vai trò quyết định cho việc hình thành, phát triển và ổn
định của quan hệ lao động. Đồng thời, chế định pháp lý về việc làm là một trong những chế
định quan trọng của pháp luật lao động, làm tiền đề để xác lập các chế định pháp luật khác.
Hay nói một cách khác, không có việc làm thì không có quan hệ lao động, cũng có nghĩa là
không có quan hệ lao động và những yếu tố khác làm nên nội dung của quan hệ lao động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa lao động - việc làm có những
biểu hiện rất phức tạp. Một mặt, lao động có xu hướng gắn kết chặt chẽ với việc làm, mặt
khác lại có xu hướng tách rời khỏi việc làm. Từ đó tạo nên sự khác biệt về thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư, giữa các nhóm trong một tầng lớp dân cư.
Việc làm không chỉ là hoạt động để kiếm sống mà còn là hoạt động sáng tạo nhằm
phục vụ xã hội, thông qua lao động hoàn thiện nhân cách con người cả về vật chất lẫn tinh
thần. Việc làm đó là yêu cầu chính đáng của con người, tách con người ra khỏi lao động
chẳng khác gì thủ tiêu sự tồn tại của con người, phá vỡ động lực bên trong của xã hội.
Việc làm và giải quyết việc làm là một tiêu chí quyết định đánh giá sức mạnh của
một nền kinh tế. Thực hiện tốt chính sách việc làm, khắc phục tình trạng thất nghiệp và sử
dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội sẽ có tác dụng tích cực đến quá trình ổn định và
phát triển kinh tế.
Tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường
Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường cho người lao động và hình thành
các chỗ làm việc, sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất
lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp
ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, tạo việc làm không chỉ là nhiệm vụ chức năng của nhà nước mà
còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao
động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo việc làm cho
đầu tư tạo việc làm đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người lao động
tạo thêm chỗ làm việc và tự tạo việc làm; khuyến khích các tổ chức và cá nhân cùng Nhà
nước tổ chức tốt dịch vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp” [20].
Tại Hội nghị Trung ương VIII (khoá VIII), Đảng ta nhấn mạnh việc tiếp tục triển
khai các giải pháp đồng bộ về giải quyết việc làm và chỉ ra các biện pháp khả thi để thu hút
lao động và tạo việc làm. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Bằng nhiều giải pháp, tạo ra nhiều việclàm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng,
nhất là trong nông nghiệp và nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề,
các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động” [23].
Quan điểm này được nhấn mạnh tại Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, đó là: “Giải
quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển…phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế…tạo
nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động” [22, tr.210-211].
Quan điểm và giải pháp cơ bản về giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng
được thể hiện nhất quán trong một loạt các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của
Nhà nước.
Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) về chủ trương, phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm đã nêu ra nội dung hết
sức cơ bản, quan trọng đối với vấn đề tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao
động. Những biện pháp quan trọng hàng đầu để giải quyết việc làm cho người lao động mà
Nghị quyết đó đề ra là:
- Lập Quỹ quốc gia giải quyết việc làm.
- Bổ sung, sửa đổi một số chính sách cụ thể khuyến khích các lĩnh vực, các doanh
nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân tạo việc làm mới, thu hút người lao động…
Từ năm 1998, chính sách của Nhà nước về việc làm thể hiện tập trung ở Chương
trình quốc gia giải quyết việc làm (Quyết định 126/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998) với mục
tiêu mỗi năm tạo 1,3 - 1,4 triệu chỗ làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống 5% và
nâng tỷ lệ sử dụng lao động nông thôn lên 75% vào năm 2000. Phạm vi của Chương trình là
1.2.2. Cơ chế phối hợp của chính quyền, gia đình, cộng đồng và xã hội trong
quản lý và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện
1.2.2.1. Vai trò của Nhà nước và các cấp chính quyền về hỗ trợ tạo việc làm cho
người sau cai nghiện
Nhà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức các hoạt
động liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý, cụ thể trong hỗ trợ tạo việc làm cho đối
tượng sau cai nghiện ma tuý, biểu hiện ở một số công việc cụ thể như:
- Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý điều chỉnh
các quan hệ xã hội liên quan đến việc hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma
tuý.
- Nhà nước thiết lập và chỉ đạo các cơ quan chức năng, nhất là hệ thống cơ quan về
phòng chống ma tuý từ trung ương đến địa phương, cơ sở nâng cao hiệu lực quản lý, điều
hành các hoạt động quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma tuý.
- Nhà nước thiết lập và tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức trong khu vực
và toàn cầu nhằm thực hiện luật pháp quốc tế, góp phần kiểm soát và phòng chống ma tuý trong nước có hiệu quả, hỗ trợ thực hiện công tác quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho
đối tượng sau cai nghiện ma tuý.
- Nhà nước có biện pháp tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức xã hội và các cấp tăng
cường phối hợp hoạt động có hiệu quả nhằm phòng chống ngăn chặn tệ nạn ma tuý ở từng địa
phương, đơn vị, trường học…đồng thời có cơ chế.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước có vai trò rất quan trọng
đối với quá trình giải quyết việc làm. Nhà nước vừa là chủ sử dụng một tỷ lệ lớn lao động
của xã hội, vừa là chủ thể quản lý, điều tiết cung - cầu nguồn lao động trên thị trường lao
động toàn quốc. Bằng hành lang pháp lý và các biện pháp kích cầu, các chương trình dự án,
các chính sách phát triển kinh tế xã hội, các chương trình hỗ trợ việc làm, xoá đói, giảm
nghèo, dân số - kế hoạch hoá gia đình, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, xây dựng các công
trình then chốt, liên doanh, liên kết với nước ngoài…, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, Nhà nước đã điều tiết tạo chỗ làm việc và giải quyết việc làm cho người lao động.