LUẬN VĂN: VINATEX với quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia - Pdf 15


LUẬN VĂN:

VINATEX với quá trình xây dựng và
phát triển thương hiệu quốc gia

LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay , toàn cầu hóa và hội nhập nền kinh tế dang là xu


153 nước xuất khẩu hàng dệt may .Việc thành lập Tập Đoàn Dệt _May VIệt Nam
(VINATEX) trở thành một trong những giải pháp đấu để 15 năm tới ngành lọt vào
topten các nước có ngành dêt-may hàng đầu thế giới ,đến năm 2010 trở thành một tập
đoàn đa hình thức sở hữu hàng đầu về quy mô sản xuất ,kinh doanh lẫn sức cạnh tranh
sản phẩm trong khu vực .Với dự kiến xây dựng thương hiệu Vinatex đồng thời sẽ xây
dựng từ 10đến 20 thương hiệu quốc gia từ sản phẩm của các thành viên .
Dựa trên cơ sở nhận thức về mục đích ,ý nghĩa , nội dung ,phạm vi áp dụng và
quy trình tổ chức thực hiện đã được nêu một cách chi tiết trong Quyết Định số
253/2003/QD-Ttg ngày 25/11/2003 của Thủ Tướng CHính Phủ về việc phê duyệt đề án
xây dựng và phát triển Thương hiệu Quôc gia đến năm 2010 cùng với việc phân tích
,đánh giá những thành tựu , khó khăn và mục tiêu đã đạt ra củaVINATEX nói riềng và
toàn ngành dệt may nói chung .Đề tài :”VINATEX với quá trình xây dựng và phát triển
thương hiệu quốc gia ” với nội dung phân biệt thương hiêu sản phẩm ,thương hiệu
doanh nghiệp với thương hiệu quốc gia , từ đó khẳng định tầm quan trọng tính tất yếu
của việc nhận thức và tổ chức thực hiện chương trình vói tập đoàn dệt may nói riêng và
các doanh nghiệp khác thuộc mọi lĩnh vực ,đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng từ
đó đưa ra giải pháp đảm bảo cho sự thành công của chương trình xây dựng và phát triển
Thương hiệu Quốc gia .
xuất đã có chất lượng cao, và có khả năng cạnh tranh với hàng hóa của khu vực và quốc
tế .Mặt khác kết hợp với sức mạnh cuả nhà nước ,cho phép tiết kiệm thời gian chi phí và
tận dụng được lợi thế trên nhiều mặt cho định vị thương hiệu Việt Nam .
2. khái niệm Thương hiệu và những quan niệm xung quanh chương trình:
Cho dến nay ,khái niêm thương hiệu đã và đang thu hút sự chú ý và tranh luận
của các doanh nghiệp ,cá nhân và các tổ chức trong và ngoài nước .Ngay khi đề án xây
dựng và phát triển Thương Hiệu Quốc Gia từ khi còn là ý tưởng đến khi trở thành chiến
lược ,một chương trình dài hạn đã có rất nhiều quan điểm không đồng nhất nghi ngờ về
tính thiết thực của chương trình thậm chí không có nhận thức rõ ràng về khái niệm cũng
như tầm quan của Thương hiệu Quốc Gia và cho rằng thực hiện chương trình này sẽ gây
cản trở chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm ,thuơng hiệu riêng của
doanh nghiệp .
Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ :
Thương hiệu là một cái tên ,một từ ngữ ,một dấu hiệu,một biểu tượng ,một hình
vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một
(hay một nhóm người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) với các đối thủ cạnh
tranh .
Thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến trong mareking thường được sử dụng khi
đề cập tới thương hiệu sản phẩm ,thương hiệu doanh nghiệp hay chỉ dẫn địa lý và tên gọi
xuât xứ của hàng hóa .
Cần phân biệt thương hiệu doanh nghiệp ,thương hiệu sản phẩm và
Thuơng Hiêu Quốc Gia (hay còn gọi là Nhãn sản phẩm quốc gia ) là một loại nhãn hiệu
dùng cho sản phẩm của một nước ,thường do tổ chức xúc tiến thưong mại của nước đó
chủ trì phát hành ,nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia thông qua sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ .
Đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau ,tiếp cận từ phía doanh nghiệp theo Ông
Vũ Bá Cầm ,Ông cho rằng cần thiết phải thực hiên chương trình, khi đó cơ quan xúc

quyết định khi họ lựa chọn mua sắm họ giải thích thương hiệu tạo cho họ sự an tâm xuất
xứ ,tin tưởng vào chất lượng hàng hóa ,tiết kiệm thời gian tìm kiến thông tin ,giảm thiểu
rủi ro …khi mua một sản phẩm của doanh nghiệp có tên tuổi nào đó ,họ không chỉ liên
tưởng đến trình độ công nghệ ,mà còn tin tưởng vào cam kết đảm bảo chất lượng hàng
hóa ,đảm bảo quyền lợi của khách hàng trong tiếp cận và sử dụng sản phẩm (tạo hệ
thống ,bán hàng rộng khắp …)
Bên cạnh THSP,THDN một số nước cũng đã và đang sử dụng Thương hiệu Quốc
Gia là thương hiệu dùng cho sản phẩm một nước ,thường do tổ chức xúc tiến thương
mại của nước đó chủ trì nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia thông qua sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ như Thai Lan có chương trình Thailand`s Brand,Ô-xtrây-lia có Made in
Ustralia …
Một thương hiệu quốc gia là một biểu trưng chứa đựng những giá trị như :
 Chất lượng cao ,mẫu mã thiết kế đẹp .
 Năng lực sáng tạo ,trí tụê và các phẩm chất tốt của người Việt Nam sự cần
cù ,khéo léo,thâm thiện….
 Mang đâm nét văn hóa Việt Nam
 Tinh thần đoàn kết ,nỗ lực của các doanh nghiệp Việt nam ư
 Tôn trọng sự cân băng môi trường sinh thái
 Đáp ứng các yêu cầu về tránh nhiêm xã hội và tiêu chuẩn lao động.
Để đươc gắn nhãn thương hiệu quốc gia sản phẩn phải được lựa chọn thông qua
một số tiêu chí về chất lượng ,thiết kế ,thị phần xuất khẩu quốc tế … Do đó ,đứng trên
góc độ người tiêu dùng ,thương hiệu quốc gia là một đảm bảo về độ tin tin cậy ,cam kết
thỏa mãn những đòi hỏi của người tiêu dùng và đạt được mục đích của quản lý nhà nước
trong lĩnh vực xuất khẩu là “Tăng cường sự nhân biết các sản phẩm Việt Nam trên thị
trường quốc tế và xây dựng hình ảnh Việt Nam là một quốc gia có uy tín xuất khẩu .Do
vậy việc xây dựng và tổ chức thực hiên chương trình xây dựng và phát triển Thương
Hiệu Quốc Gia là hoàn toàn cần thiết .

Nam ,góp phần khuyến khích du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài .
*Khuyến khích xuất khẩu sản phẩm hàng hóa khai được thế mạnh của đất
nước ví như hàng nông lam thủy hải sản , hàng tiêu dùng và ngày càng chú trọng sản
phẩm chứa hàm lượng chất xám cao áp dụng công nghệ sinh học , công nghệ thông tin
trong sản xuất và kinh doanh .Đồng thời giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô
*Phấn đấu đến năm 2010 thương hiệu quốc gia trở thành một trong những công
cụ marketing hữu hiệu cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong
nước và quốc tế .
4/Phạm vi áp dụng và tiêu chuẩn lựa chọn doanh nghiệp tham gia chương trình
xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia .
4.1Phạm vi áp dụng:
Áp dụngcho tất cả doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có các sản phẩm
đạt được các tiêu chuẩn do chương trình quy định .
4.2Tiêu chuẩn lựa chọn doanh nghiệp tham gia chương trình :
Các doanh nghiệp được phép sử dụng nhãn “Thương hiệu quốc gia “sau khi được
Hội đồng tư vấn quốc gia ( gồm các chuyên gia các Bộ /Ngành ,Viện khoa học /Cơ quan
quản lý chất lượng ,hiệp hội ngành hàng ,đại diện cộng đồng doanh nghiệp )lựa chọn .
Doanh nghiệp cần thỏa mãn mốt số các điều kiện sau :
1.Có sản phẩm hoàn chỉnh ,chất lượng cao , thiết kế mẫu mã đẹp .
2.Có thị trường trong nước và xuất khẩu ổn định .
3.Có nhãn hiệu đăng ký bảo hộ tại Việt Nam.
4.Đã được cấp chứng nhận quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế .
5.Sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và các tiêu chuẩn khác do các cơ
quan quản lý chất lượng chuyên ngành quy định được phân lọai và bình
chọn .Có chương trình kiểm tra ,duy trì và cải tiến chất lượng đối với mọi
mặt hàng .
6.Có bộ máy chuyên trách xây dựng và phát triển nhãn hiệu .

 Cam kết chất lượng sản phẩm đúng với tiêu chí của chương trình .
 Có các chương trình thường xuyên nâng cao chất lượng, thiết kế phát triển sản
phẩm mới .
 Không làm giả ,làm nhái nhãn hiệu ,sản phẩm .
 Tổ chức quản lý kinh doanh theo đungd quy định của pháp luật Việt Nam và
quốc tế .
 Mọi hoạt động của doanh nghiệp phải đảm bảo giữ gìn hình ảnh và uy tín quốc
gia .
 Mọi vi phạm về chất lượng ,uy tín kinh doanh làm ảnh hưởng đến hình ảnh
quốc gia ,sẽ bị đình chỉ ngay lập tức quyền sử dụng nhãn sản phẩm quốc gia và
bồi thường mọi thiệt hại nếu có .
6/Tổ chức thực hiện chương trình xây dựng và phát triển Thương hiệu quốc gia
(chia thành 3 giai đoạn ):
Giai đoạn I(2003)tập trung vào các việc :
 Lập đề án và chương trình Chính phủ phê duyệt .
 Lập Ban chỉ đạo thuộc Bộ thương mại và Ban quản lý chương trình thuộc
cục xúc tiến Thương mại.
 Lập Hội đồng tư vấn quốc gia với sự tham gia của các chuyên gia đại diện
cho các Bộ /Ngành ,Hiệp hội ngành hàng ,cơ quan quản lý chất lượng ,giới
truyền thông ,cộng đồng doanh nghiệp nhiệm vụ chủ yếu là:
 Đề ra các tiêu chí cần thiết để được gắn nhãn hiệu quốc gia .
 Tư vấn về xây dựng và quảng bá cho Thương hiệu quốc gia .
 Tư vấn quản lý rủi ro cho nhãn hiệu quốc gia .đảm bảo giữ gìn uy tín
(trong trường hợp sản phẩm , hay một ngành sản xuất mang biểu trưng
gặp phải rắc rối trên thị trường quốc tế ,nhất là khi nền kinh tế nước nhà
còn nhiều non trẻ .(Chất lượng chưa hoàn toàn ổn định).
 Tư vấn cho giải thưởng xuất khẩu quốc gia của Chính phủ .

:quảng cá bao gồm chiến lược định vị nhãn sản phẩm quốc gia tới các đối
tượng tiêu dùng ,sáng tác biểu trưng ,tên nhã sản phẩm quốc gia và tìm ra
một thông điệp có ý nghĩa nhất ,thể hiện thành công ý tưởng chủ đạo của
chương trình Thưong hiệu quốc gia .
 Tư vấn quảng bá nhãn hiệu với thương nhân nứơc ngoài …
Tư vấn thực hiên chương trình :
 Hướng dẫn doanh nghiệp các thủ tục ,những thay đổi cần thiết trong
quản lý và sản xuất để được phép sử dùng nhãn hiệu quốc gia .
 Tư vấn cách thức tổ chức ,khuyến khích các doanh nghiệp hưởng ứng
tham gia chương trình …
Đánh giá kết quả thực hiện chương trình Thương hiệu quốc gia và đề xuất các kiến
nghị điều chỉnh phù hợp .
 Tổ chức thi chọn biểu trưng Thương hiệu quốc gia ;yêu cầu đối với biểu
trưng :
Phải phản ánh đuợc các giá trị mà biểu trưng mang trong nó .
Yêu cầu phải thiết kế đơn giản ,dễ nhớ ,màu sắc hình ảnh đặc trưng ,thông tin súc
tích có tính thẩm mỹ ,nghệ thuật cao ,độc dáo và gây ấn tượng mạnh .
 Tuyên truyền và phổ biến các tiêu chí của chuơng trìnhThương hiệu quốc
gia tới cộng đồng doanh nghiệp .
 Lựa chọn doanh nghiệp tham gia chhương trình giai đoạn 1:
 Dựa trên tiêu chí của chương trình ,doanh nghiệp có thể tự đánh
giá về khả năng đạt tiêu chuẩn và trực tiếp nộp đơn đăng ký tham
gia chương trình Thương hiệu quốc gia .
 Triển khai sâu rộng chương trình trong mạng lưới xúc tiến thương
mại (XTTM) toàn quốc và Cục XTTM sẽ đề nghị các hiệp hội
ngành hàng ,Sở Thương mại hoặc các Trung tâm XTTM thuộc các
tình thành phố lựa chọn giới thiệu một số doanh nghiệp tham gia

tiêu dùng tín nhiệm …)
 Kết thúc giai đoạn I ,tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm xây dựng và quảng
bá nhãn hiệu .

Giai đoạn 2(2004) :Hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp tham gia trên diện rộng :
Giai đoạn này lấy Hội chợ thương mại ASEAN 2004 (hội chợ thương mại lớn nhất
Đông Nam Á ),sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào năn 2004 làm trung tâm ,là cơ hội để
quảng bá nhãn hiệu quốc gia trong khu vực ASEAN
Trong giai đoạn này,công tác tuyên truyềng và quảng bá là rất cần thiết để duy trì
sự hiện của thương hiệu Việt Nam trong con mắt nhà nhập khẩu nước ngoài .Tập trung
trước hết vaof các thị trường trọng điểm (thí dụ hạng hóa :thực phẩm ,chế biến ,đồ uống
,dệt may,đồ gia dụng ,đồ nội thất,sản phẩm thủ công độc đáo của các làng nghề truyền
thống …,dịch vụ :phần mềm máy tính ,dịch vụ du lịch chăm sóc sức khỏe ,xây dựng
…thị trường :ASEAN.Mỹ,Trung Quốc ,Nhật ,EU.
Ngoài ra :
 Vận động và giúp đỡ doanh nghiệp tham gia vào chương trình .
 Gắn chương trình Vietnam value inside với các giải thưởng lớn cho hàng hóa
nhập khẩu Việt Nam .
Sẽ tập trung vào một số hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp như sau :
 Đi đôi với việc quảng bá là công tác xây dụng lực lượng phát triển
thương hiệu cho doanh nghiệp ,xây dựng năng lực điều hành doanh
nghiệp ,quản lý chất lượng toàn diện ,nâng cao chất lượng sản phẩm
cho doanh nghiệp .Trong công tác này ,đặc biệt chú ý tới công tác hỗ trợ
,tư vấn giúp dỡ các doanh nghiệp phấn đấu đạt đựoc đủ diều kiện được
gắn nhãn hiệu quốc gia .
 Xây dựng chương trình hỗ trợ các nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam
tiếp cận với các cơ sở kinh doanh của người Việt Nam ở thị trường

của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam )
1/ Quá trình hình thành và phát triển của VINATEX
Tổng công ty Dệt May Việt Nam (VINATEX) được thành lập theo Quyết định
253/TTg ngày 29/4/1995 của Thủ Tướng Chính Phủ .Trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh ,VINATEX đã có những bước phát triển tương đối ổn định và tạo được sự
gắn kết trong hoat động sản xuất kinh doanh của các thành viên trực thuộc .Nhờ đó ,tốc
độ tăng truởng bình quân hàng năm của VINATEX trên 14%/năm năm thấp nhất là 10%
/năm và năm cao nhất là 18%-19% /năm.
Ngày 8/12/2005 tổ công ty Dệt May Việt Nam đã tổ chức lễ công bố quyết định
của Thủ Tướng Chính PHủ về việc thành lập Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX)
.Với quyết định này từ một tổng công ty có trên 60 đơn vị thành viên và công ty liên kết
,VINATEX trở thành một tập đoàn có 3 công ty mẹ - con như Dệt Phong Phú ,Dệt May
Hà Nội và May Việt Tiến ,công ty 100% vốn nhà nước ,7 công ty trách nhiêm hữu hạn
một thành viên và 40 công ty cổ phần .Kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn chiến hơn
20% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam .
Mặc Dù thành lập mô hình Tập Đoàn hoạt động cũng dựa trên nguyên tắc công ty
mẹ đầu tư vốn vào các công ty con .Tuy vậy mô hình này có quy mô hoạt động lớn ,hầu
hết các đơn vị thành viên đã được cổ phần hóa ,trong đó nhiều đơn vị đã tự phát hoạt
động theo mô hình mẹ con .Ví như Công ty May Việt Tiến có khoảng 30 công ty con
không thành lập theo kiểu hành chính mà hình thành trên cơ sở đầu tư vốn hợặc góp vốn
kinh doanh .Tương tự ,trong Tổng công ty có khoảng 15 công ty đang hoạt động theo
mô hình công ty mẹ -con như :Công ty May Nhà Bè ,Dệt Phong Phú ,Dệt May Hà Nội ,
Dệt Nam Định , May 10,May Đức Giang , May Phưong Đông ,Dệt May Hòa Thọ ,Dệt
Thành Công …VIệc chính Phủ ra quyết định thành lập Tập Đoàn Dệt May thể hiện tính
quy mô ,tạo cơ sở pháp lý vững chắc và tằng cường sức mạnh liên kết trong hệ thống và
phát huy vai trò nong cốt hát nhân vào sự phát triển của toàn ngành .
Sự chuyển đổi theo mô hình tập đoàn mẹ con của Tổng công ty Dệt May Việt
Nam mang tính tất yếu khách quan ,đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển .Theo phê
duyệt cơ quan Tổng công ty trước dây nay chuyển thành Tập đoàn Dệt May Việt Nam
và là công ty mẹ đại diện sở hữu trực tiếp vốn Nhà Nước tại Tập đoàn .Quan hệ mệnh

30 công ty con đã đạt kim ngạch xuất khẩu 100 triệu ÚD/năm . Nếu tất cả các nước
trên thế giới là các doanh nghiệp thì Việt Nam là doanh nghiệp có quy vừa và nhỏ để tồn
tại trên thị trường trong môi trường mở của và hội nhập là thời đại của công nghệ thông
tin kinh tế trí thức mọi thứ dễ dàng sinh ra và cũng dễ dàng bị cái mới hơn phủ định thì
VIệt Nam đã và đang xây dựng và tạo cho mình một tài sản vô hình , một giá trị không
mất đi mà chỉ lớn mạnh thêm khi mỗi doanh nghiệp biết tầm quan trọng ,giá trị của nó
và từ đó có đầu tư thích đáng cho việc xây dựng và phát triển tài sản vô hình này hay
chính là thương hiệu quốc gia .Chiến lược dài hạn này góp phần tạo uy tín niền tin và
khắc sâu những hình ảnh của Việt Nam với những con ngừoi ,những doanh nghiệp gần
gũi và tin cậy ,điểm đến của của những du khách năm châu .
2/Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Dệt-May Việt
Nam .
2.1 Thành tựu
Tổng công ty Dệt may Việt Nam được thành lập từ năm 1995 ,sau 10 năm hoạt
động đã có sự đóng góp vuợt đáng kể vào sự tăng trưởng của ngành dệt may Việt Nam
.Mặc dù với số lao động 105.000 ngưởi ,chỉ chiếm 10% so với lao đồng của ngành công
nghiệp của toàn ngành nhưng năm 2004 đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp gần 9500 tỷ
đồng ,chiến 32% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành .
Đặc biệt kim ngạch xuất khẩu của VINATEX đạt trên 1035 triệu USD ,chiếm
23,6% của toàn ngành .Năng lực sản xuất bông của VINATEX hiện chiếm 95% năng
lực của toàn ngành ,tương tự sợi chiếm 45% ,vaỉ chiếm 26,4% ,may công nghiệp chiếm
20% .Lợi nhuận lũy kế 10 năm của Vinatex đạt 510 tỷ đồng và nộp ngân sách 1768 tỷ
đông …
Tuy nhiên sự lớn mạnh của Tập đoàn còn phải đánh giá bằng các chỉ tiêu khác
như :sức cạnh tranh ,uy tín thương hiệu ,sự phát triển bền vững…,mà rất khó có thể
luợng hóa các chỉ tiêu này việc đánh giá nó chỉ0 mang tính chất định tính .
Tập đoàn Vinatex đang phấn đấu mạnh mẽ nâng coa chất lượng các chỉ tiêu này

Tổng công ty Dệt may Việt Nam và các đơn vị nòng cốt của mình trong 10 năm
qua đã hỗ trợ tích cực cho việc phát triển công nghiệp dệt may địa phương .Đến nay
tổng công ty đã có cơ sở hợp tác ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước :từ các tỉnh cực
Bắc như :Quảng Ninh ,Sơn La ,Bác Cạn…đến các tỉnh duyên hải miền Trung như
:Quảng Trị ,Thừa Thiên ,Quảng Nam ,Bình Định …các tỉnh Tây Nguyên như :Kom
Tum ,Pleku ,Gia lai dến và tỉnh đồng bằng sông Cửu Long …
Tổng công ty có 3 trường đào tạo ,3 viện nghiên cứu chuyên ngành đã cung cấp
dịch vụ cho nhiều đơn vị ngoai ngành Tổng Công ty .Tổng công ty cũng là đơn vị hạt
nhân trong mọi hoạt động của Hiệp hội dệt may Việt Nam …
2.2 Hạn chế :
Tuy nhiên so với yêu cầu của một tập đoàn kinh tế mạnh đặc biệt trong bối
cảnh hạn ngạch quato xuất khẩu và những rào cản thuơng mại đựoc rỡ bỏ tạo một môi
trường cạnh tranh khốc liệt kẻ mạnh sẽ thắng và kẻ yếu bị đánh bật ra khỏi cuộc chơi thì
Tập Đoàn Vinatex vẫn còn những hạn chế :
Theo cỏc chuyờn gia ,khõu yu nht hn ch s phỏt trin ca ngnh cụng
nghip dt mau ca Vit Nam sn xut vi v ph liu phc v cho may xut khu
Khong 80 % nguyờn ph liu vn phi nhp khu ,ỳng nh ụng Dip Thnh Kit
,Phú Ch Tch Hi May thờu an TPHCM gi tỡnh trng ny l FOB gi v cnh
bỏo ,cỏch lm ny ri ro cao vỡ ta nhp nguyờn liu theo ch yu theo s ch nh ca
khỏch hng ,nhng nu khỏch hng b hp ng thỡ ta cht ,nhng thc t lm hng
FOBtr thnh xu hng nhiu ngoi lý gii rng lm nh vy s trỏnh c ri ro v
cht lng ,mu sc ,cht liu khụng ỳng theo yờu cu ca i tỏc .
Hu ht cỏc doanh nghip dt may Vit Nam cha cú s quan tõm tha ỏng ti
mu mt ,chng loi v cha cú thng hiu riờng cho sn phm ,doanh nghip cng
nh chua chỳ ý ti vic ng ký s hu bn quyn trờn th trng trong noc v quc t
.Trong khi nng sut lao ng ca cụng nhõn vit Nam cũn thp chi phớ giao dch cao .
iu ú ang hn ch sc cnh tranh ca tng doanh nghip cng nh ca ton

công và mang nhãn hiệu hàng hoá của bên đặt gia sản phẩm gia công và mang nhãn
hiệu của hàng hoá của bên đặt hàng và 30% còn lại mang nhãn hiệu hàng hoá của
nhà sản xuất trong n-ớc hoặc mua quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của phía n-ớc
ngoài . Điều này thất đáng lo ngại khi sắp tới khi gia nhập WTO ,hàng may mặc Việt
Nam phảI đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt với các c-ờng quốc xut khu trờn th gii
trong lnh vc dt may vớ nh Trung Quc , n ,Hng Kng,i Loan ,Hn Quc
Mt s doanh nghip xut khu cú uy tớn nh VIt Tin ,Nh Bố ,Thnh Cụng ,Dt
Kim ụng Xuõn ,Dt Kim H Ni ,May 10ch bit dn ti th trng trong nc ,cũn
cỏc th trng nc ngoi c bit l cỏc th trng ln giu tim nng nh M ,Nht
,EU thỡ ngi tiờu dựng li hon ton khụng bit dn thng hiu ca nhng doanh
nghip ny.
Mt hng dt may Vit Nam hin ó ỏp ng c nhu cu ca nhng i tng
c coi l khú tớnh th trng EU,M ,Nht Bn õy cng l minh chng v cht
lng cng nh kiu dỏng ca cỏc sn phm ca Vit Nam hon ton cú th c th
trng quc t chp nhn .Bi vy vic tiờu th sn phm thụng qua nhón hiu ca cỏc
hóng trung gian t gia cụng hay cỏc nh phõn phi ,cỏc siờu th ó khụng ớt tr ngi v
khú khn doanh nghip Vit Nam cú th t phỏt trin trờn th trng quc t .
Qua ú ,chỳng ta thy c mt thc trng chung v tỡnh trng xõy dng bo h
v phỏt trin thng hiu Vit Nam ca cỏc doanh nghip dt may Vit Nam núi riờng
v cỏc doanh nghip mi lnh vc khỏc núi chung trờn th trng quc t cũn quỏ yu
kộm .
3.2 Nhn thc ca doanh nghip dt may v thng hiu :
Cú th nhn thc c vai trũ ca thng hiu nh mt gii phỏp marketing giỳp
nõng cao kh nng cnh tranh tng uy tớn nin tin v t mt du n tt v sn phm v
doanh nghiệp cũng như về đất nước trong tâm trí người tiêu dùng trong và ngoài nước
đối với các doanh nghiệp là rất hạn chế .
Trong lĩnh vực dệt may đi đầu và có nhận thức tích cực và đã và đang bắt tay và
3.3 Nhận thức của nguời tiêu dùng về thương hiệu :
Qua điều tra sơ bộ của Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh ,trong số những người
tiêu dùng Tp .Hồ Chí Minh đựợc phỏng vấn ,89% cho rằng thương hiệu là yếu tố quyết
định khi họ lựa chọn mua sắm .Lý do chủ yếu là thương hiệu tạo cho họ sự an tòan về
thông tin xuất xứ ,tin tưởng vào chất luợng sản phẩm tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông
tin ,giảm rủi ro…Thực tế trên thị trường EU một thị trường trọng điểm xuất khẩu của
hàng hóa dệt may Việt Nam khách hàng quen sử dụng hàng hóa may mặc có thương
hiệu những hàng may mặc không gắn thương hiệu thường gắn với chất lượng sản phẩm
thấp ,không có tính thời trang và chiếm 10% thị phần hàng may mặc EU
Điều này cho thấy ngày nay người tiêu ngày càng sử dụng rộng rãi ,phổ biến yếu tố
thương hiệu là yếu tố quyết định khi lựa chọn mua sắm .Đồng thời cũng là một thách
thức đòi hỏi doanh nghiệpcần nhận thức bắt kịp và đón đầu nhận thức ,nhu cầu của
người tiêu dùng từ đó có đầu tư thích đáng cho thương hiệu nếu muốn chiếm lĩnh thị
trường trong nước và quốc tế.
Đầu tư của doanh nghiệp cho thương hiệu :
Về nhân lực , theo điều tra nói trên ,chỉ có 16% doanh nghiệp được hỏi có bộ phận
tiếp thị chuyên trách ,80% doanh nghiệp không có chức danh quản lý nhãn hiệu .
Về ngân sách ,74% các doanh nghiệp đầu tư dưới 5% doanh số cho việc xây dựng và
phát triển thương hiệu .20% doanh nghiệp không hề chi cho xây dựng thương hiệu
.Thực tế là đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiên nay vẫn chỉ quan tâm tới sabr xuất và
tìm cách tiêu thụ một cách thụ động, chưa quan tâm đến việc tìn hiểu thị hiếu ,điểu tra
nghiên cứu thị trường ,xây dựng một chiến lược kinh doanh ,quảng bá thương hiệu bài
bản nhằm tìm một chỗ đứng cho thương hiệu của mình trên thị trường .
Một lý do có thể giải thích cho tình trạng này là có trên 90% doanh nghiệp Việt
Nam là vừa và nhỏ ,tiềm lực còn rất hạn chế ,Do đó ,cộng đồng doanh nghiệp thường rất
cần sự hỗ trợ của Chính Phủ về nhiều mặt .
3.4 Khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc xây dựng và phát triên
thương hiệu :

những lợi thế ,tiềm năng như tự nhiên , nguồn nhân lực rẻ và dồi dào , nhiệt tình sáng
tạo sự ổn định về chính trị cho hoạt động đầu tư ,cùng với ngày càng nhiều thương hiệu
Việt ngày càng tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường bằng uy tín ,chất luợng ,… để
cạnh tranh với sự phát triển vĩ đại của ngành dệt may Trung Quốc trong cuộc đua tranh
quốc tế .
Với sự kiện EU mở rộng lên 25 thành viên ,mà EU là một trong những thị trường
trọng điểm của dệt may Việt Nam sẽ tạo cơ hội thâm nhập mở rộng thị trường vào các
thành viên mới .
Gia nhập WTO thúc đẩy các hoạt động thương mại ,đầu tư và chuyển giao khoa
học công nghệ ,đồng thời góp phần làm giảm ,gỡ bỏ những rào cản thuế quan và phi
thuế quan (những biện pháp hạn chế định lượng và hàng rào kỹ thuật ),giảm sự phân biệt
đối xử trong WTO, từ đó thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế xong phương và đa
phương mở ra những cơ hội mới trong giao dịch ,ký kết hợp đồng tạo môi trường giới
thiệu và quảng bá sản phẩm trên nhiều Hội chợ ,Triển Lãm trên thế giới …tạo điều kiên
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng truyền thống nói chunh và hàng dệt
may nòi riêng giúp giải quyết việc làm ,tăng thu nhập cho người lao động ,nhất là nông
dân .
Trở thành thành viên của WTO VIệt Nam có điều kiện thuận lợi thu hút vốn đầu
tư nước ngoài (ODA,FDIvà các hình thức đầu tư gián tiếp khác ) thông qua mở rộng
diên các thành viên đầu tư vào Việt Nam .Đồng thời với những cải cách hành chính ,cơ
chế chính sách , giảm chi phí đầu vào mở rộng lĩnh vực và phạm vi đầu tư theo lộ trình
hội nhập sẽ làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư của nước ta so với các nước
trong khu vực khuyến khích đầu tư mới vào Việt Nam .Góp phần giải quyết khó khăn về
vốn và công nghệ ,tạo điều kiên nâng cao trình độ tay nghề của công nhân ngành dệt
may.
Việt Nam nói chung và Vinatex sẽ có cơ lợi trong việc cải thiện hệ thống giải
quyết tranh chấp thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế trong đó vấn đề búc xúc là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status