1
Luận văn
Vai trò của hoạt động Nhập khẩu đối
với nền kinh tế quốc dân 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU
I. KHÁI NIỆM , PHÂN LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA KINH DOANH NHẬP
KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.
1. Khái niệm về hoạt động Nhập khẩu .
Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia
trên hành tinh chúng ta không thể sống một cách riêng rẽ được mà phải cuấn
theo dòng xoáy của nền kinh tế thế giới, tham gia vào các quan hệ đầu tư quốc
tế, dịch vụ quốc tế và thương mại quốc tế …
Trong đó kinh doanh quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hội
nhập kinh tế thế giới của mỗi quốc gia, đúng như các nhà kinh tế học chủ nghĩa
trọng thưong đã nói “ Thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn vinh
của mỗi quốc gia”
Tiền đề cơ bản đầu tiên của thương mại quốc tế đó là sự khác biệt về điều
kiện tự nhiên giữa các quốc gia dẫn đến mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản
xuất một sản phẩm nào đó và họ phải trao đổi với nhau nhằm đạt được sự cân
bằng giữa phần dư thừa hàng hoá này và thiếu hụt hàng hoá kia. Tiếp theo là sự
phát triển không đồng đều giữa các quốc gia dẫn đến sự khác nhau về điều kiện
doanh trong nước. Như vậy kinh doanh Nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá -
dịch vụ từ nước ngoài theo nguyên tắc của thị trường quốc tế nhằm phục vụ nhu
cầu trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Nhập
khẩu thể hiện sự gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của mỗi quốc
gia. Ở một giới hạn nhất định, nó còn quyết định tới sự sống còn của nền kinh tế
đặc biệt là khi nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đang sống dưới một
mái nhà chung. 4
2. Phân loại hoạt động Nhập khẩu.
Theo như định nghĩa thì Nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ nước
ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất trên cơ sở tuân
theo các thông lệ thị trường quốc tế, về bản chất thì sẽ có một luồng hàng hoá -
dịch vụ từ nước ngoài chảy vào nước Nhập khẩu và có một luồng tiền tương ứng
chảy ra. Các Doanh nghiệp tham gia kinh doanh nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận . Nhưng trên thực tế , các qui ttrình nghiệp vụ Nhập khẩu rất phức tạp , ta
có thể căn cứ vào cách thức tổ chức và mục đích hoạt động kinh doanh Nhập
khẩu để phân chia thành các hình thức khác nhau.
2.1 Nhập khẩu tự doanh.
Đây là hình thức kinh doanh mà Doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập
khẩu trực tiếp đứng tên ra để ký kết và thực hiện các hợp đồng ngoại thương
bằng chính nguồn vốn của mình, sau đó trực tiếp thiết lập hệ thống kênh phân
phối bán hàng nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Đây là hình thức Nhập khẩu chủ yếu mà các Doanh nghiệp áp dụng hiện
nay vì nó đảm bảo sự thống nhất giữa các khâu của quá trình Nhập khẩu nhằm
đạt được kết quả của toàn bộ Doanh nghiệp .
2.2 Nhập khẩu uỷ thác .
Là hoạt động Nhập khẩu trong đó người mua hàng không trực tiếp đứng tên
sở lý luận khoa học của quan điểm này được xuất phát từ quan điểm của chủ
nghĩa trong thương thế kỷ 17. Người ta cho rằng, “Thương mại là cục đá thử
vàng đối với sự phồn thịnh của mỗi dân tộc” một nước muốn trở nên giàu có
không thể không phát triển thương mại với phần còn lại của thế giới.
Để giải thích được những lợi thế của thương mại quốc tế nói chung và của
hoạt động nhập khẩu nói riêng, nhiều nhà Kinh tế học đã đưa ra những học 6
thuyết khác nhau. Tiêu biểu là: học thuyết “ Lợi thế tuyệt đối” của Ađamsmith;
học thuyết “ Lợi thế tương đối” của David Ricardo và học thuyết Hecksher -
Ohlin.
Dưới đây chúng ta lần lợt xem xét từng học thuyết để thấy rõ được lợi ích
của thương mại quốc tế .
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ađamsmith :
Quan điểm của Ađamsmith cho rằng một nước chỉ sản xuất các loại hàng
hoá sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên của nó, tức là mỗi nước, do điều kiện
thiên nhiên ưu đãi sẽ có những nguồn lực để sản xuất ra những loại hàng hoá
mà chi phí sản xuất ra chúng rẻ hơn so với bất kỳ nước nào trên thế giới. Khi
đó nó sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất những mặt hàng đó để xuất khẩu
và mua về những mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có nhiều bất lơị hơn các
nước khác. Như vậy, theo quan điểm này thì một nước chỉ có thể tham gia
thương mại quốc tế khi chúng có lợi thế trong viêc sản xuất một mặt hàng nào
đó.
Tuy vậy, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần nhỏ thương mại
giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Hiện nay, phần lớn
thương mại quốc tế diễn ra giữa các nước phát triển với nhau, không thể giải
thích được bằng lý thuyết lợi thế tuyệt đối. trong các cố gắng để giải thích các
cơ sở của thương mại quốc tế, lợi thế tuyệt đối chỉ là một trường hợp của lợi
Nước ta cũng như nhiều nước khác đó là có sức mạnh về tài nguyên thiên
nhiên và lao động nhưng trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ lại rất lạc hậu do
đó, nhập khẩu sẽ là nhân tố giúp ta tháo bỏ những vướng mắc mà các nước
nghèo thường gặp phải, phương châm đó là vay mượn công nghệ của các nước
phát triển trong thời kỳ Công nghiệp hoá. Xu thế nhập khẩu bổ sung để thoả
mãn nhu cầu trong nước cũng là một điều tất yếu, thông qua đó nước ta có thể 8
từng bước thay đổi hoàn thiện cơ cấu tiêu dùng của nhân dân theo hướng hiện
đại hoá. Điều đó cũng đồng thời dẫn tới việc phải nâng cao kỹ thuật công nghệ
để phục vụ sản xuất trong nước. Do vậy Nhà nước ta đã đề ra chính sách nhập
khẩu vật tư thiết bị máy móc, kỹ thuật công nghệ của nước ngoài, từ đó tạo công
nghệ nguồn để phát triển kỹ thuật mới ngay trong nước. Có thể nói, Nhập khẩu
có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại
hoá đất nước. Điều đó cũng đồng thời nâng cao kỹ thuật sản xuất trong nước.
Nước ta hiện nay vẫn là một nước chậm phát triển, nền kinh tế vẫn còn dựa
vào sản xuất nông nghiệp là chính. Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang cơ cấu Công nghiệp -
Nông nghiệp - Dịch vụ, và phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành nước
công nghiệp thì quá trình Công nghiệp hoá Hiện đại hoá hiện nay của chúng ta
cần phải đi theo một hướng mới đó là tận dụng các thành tựu khoa học của nhân
lọai, ngòai việc phát huy một cách có hiệu qủa nỗ lực của đất nước. Giải pháp cơ
bản để thực hiện mục đích này là mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như
đa dạng hoá các hình thức kinh doanh quốc tế như việc : tạo điều kiện hình
thành các liên doanh; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI); xây dựng
các chiến lược nhập khẩu máy móc thiết bị, các sáng kiến kỹ thuật, nguyên vật
liệu quý hiếm…Nhằm tranh thủ vốn, kỹ thuật tiến tạo tiền đề cho Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá đất nước.
trường như tình trạng đầu cơ ép giá.
Tóm lại, thông qua những học thuyết trên ta đã thấy rõ được vai trò vô cùng
quan trọng của thương mại quốc tế đối với bất kỳ nề kinh tế nào. Trong thực tế
sự phát triển kinh tế thế giới những năm qua đã chứng minh , nền kinh tế mở sẽ
tạo điều kiện để các quốc gia sớm hoà nhập vào nền kinh tế thế giới phát huy 10
triệt để lợi thế của nước mình nhằm đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá nền kinh tế đất nước.
II. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
Hoạt động Nhập khẩu là một quá trình bao gồm nhiều khâu phức tạp, có liên
quan chặt chẽ tới nhau, được bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường và kết thúc là
tiếp nhận và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu.
Để đạt được mục tiêu nhập khẩu là mua đúng hàng bao gồm: đúng về giá cả
hàng hoá; đúng về qui cách phẩm chất; đúng về khối lượng; đúng về thời gian…
Thì nhiệm vụ của người quản lý hoạt động Nhập khẩu là vô cùng quan trọng đòi
hỏi phải giám sát từ việc nghiên cứu thị trường xem xét xem cần phải mua hàng
hoá gì, số lượng là bao nhiêu, khi nào thì mua…Trong khâu kiểm định và tiếp
nhận hàng hoá phải kiểm tra xem hàng hoá có đảm bảo về số lượng không, chất
lượng như thế nào, tàu giao hàng có đúng tiến độ không. Trong từng nội dung
của hợp đồng nhập khẩu đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt chúng
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Như vậy vai trò quản lý giám sát hoạt
động nhập khẩu là vô cùng quan trọng và được thể hiện trong từng nội dung của
quá trình nhập khẩu như sau:
1. Nghiên cứu thị trường
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với nền sản xuất hàng hoá,
ta có thể hiểu thị trường trên hai giác độ: thị trường là tổng thể các quan hệ hàng
hoá - tiền tệ hoặc thị trường là tổng khối lượng cầu có khả năng thanh toán và
khối lượng cung có khả năng đáp ứng ở một mức giá nhất định .
*Tình hình sản xuất, cung ứng và tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường như
thế nào? 12
Việc xác định khả năng sản xuất trong nước đòi hỏi ta phải tìm hiểu xem có
những Doanh nghiệp nào hiện đang sản xuất hoặc kinh doanh Nhập khẩu mặt
hàng đó trong nước, số lượng hàng năm là bao nhiêu, khả năng cũng như uy tín
của nhà cung cấp đó có lớn hay không.
Bên cạnh đó, ta phải tìm hiểu khả năng tiêu dùng để biết được mặt hàng đó
đã thoả mãn nhu cầu khách hàng hay chưa ( về số lương, chất lượng, dịch vụ, )
và kết thúc là phải phác hoạ lên được đường cung - cầu hàng hoá đó trên thị
trường nội địa để xác định được một khối lượng nhất định và mức giá phù hợp
* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống sản phẩm ?
Chu kỳ sống của sản phẩm được chia làm 4 giai đoạn đó là:
Giai đoạn thâm nhập ( T1 )
Giai đoạn pháp triển ( T2 )
Giai đoạn bão hoà (T 3 )
Giai đoạn diệt vong ( T4)
Hình 1 Biểu đồ chu kỳ sống sản phẩm
T1 T2 T3 T4
Doanh nghiệp phải biết được mặt hàng định kinh doanh đang ở giai đoạn
nào của chu kỳ sống từ đó đưa ra các chiến lược Marketting phù hợp nhằm đạt
được mục tiêu kinh doanh đề ra.
14
+ Nhân tố mang tính chu kỳ: có hai nhân tố làm giá cả thay đổi mang tính
chu kỳ đó là chu kỳ nền kinh tế và tính thời vụ của hàng hoá.
Sự vận động có tính chất qui luật của nền kinh tế thị trường có tác động lớn
đến giá cả hàng hoá. Nến kinh tế biến động theo chu kỳ hết hưng thịnh đến suy
thoái, các chu kỳ đó cứ lặp đi lặp lại, tuy nhiên khoảng cách giữa các thời kỳ suy
thoái thì luôn biến đổi. Khi nền kinh tế hưng thịnh thì giá cả ổn định, nhu cầu
tăng và ngược lại.
Yếu tố thời vụ cũng tác động làm giá cả thay đổi, Đối với một số loại hàng
hoá khi vào thời vụ chính thì cung tăng do đó giá cả có xu hướng giảm., ngược
lại có những hàng hoá giá cả tăng lên vào một mùa nhất định còn ở thời điểm
khác thì lại không có người mua.
+ Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh làm cho giá cả biến động theo xu hướng
khác nhau, tuỳ theo vào đối tượng tham gia cạnh tranh là người mua hay người
bán. cạnh tranh gay gắt sẽ có tác động làm giảm giá cả hàng hoá hình thành giá
bình quân trên thị trường.
+ Nhân tố lạm phát: Lạm phát làm giá cả hàng hoá tăng lên. Đây chính là
yếu tố tác động rất mạnh đến giá cả hàng hoá, khi mà giá trị của đồng tiền giảm
thì lạm phát tăng nhanh và giá cả có biến động lớn.
Khách hàng mục tiêu của Doanh nghiệp là ai?
Khách hàng mục tiêu là tập hợp những người tiêu dùng, các tổ chức có nhu
cầu sử dụng các sản phẩm mà Doanh nghiệp nhập khẩu dự định cung cấp và họ
có khả năng thanh toán ở một mức giá nhất định.
Trên cơ sở việc phân đoạn thị trường, ta sẽ tìm ra những đoạn thị trường mà
ở đó chứa đựng tập hợp khác hàng mục tiêu của Doanh nghiệp. Ta có thể phân
đoạn thị trường dựa trên một số tiêu thức như : thu nhập đầu người, lứa tuổi, 15
giới tính, tập quán, lĩnh vực sản xuất kinh doanh ( đối với khách hàng là các tổ
+ Chi phí bốc dỡ, vận chuyển.
+ Chi phí bảo hiểm.
+ Thuế xuất nhập khẩu .
+ Các chi phí khác tuỳ theo điều kiện giao dịch, giá hàng hoá nhập khẩu còn
phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng, thông thường trong ngoại thương
người ta thường dùng hai điều kiện cơ sở giao hàng là FOB & CIF. Vì vậy để so
sánh giá cả hàng hoá người ta phải đưa chúng về cùng một điều kiện cơ sở giao
hàng theo Công thức sau.
FOB + F
CIF =
1+( 1- R )
Trong đó:
- CIF Là tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
- FOB là giá giao tại boong tàu.
- F là cước phí vận chuyển.
- R là xuất phí bảo hiểm.
2. Lựa chọn đối tác giao dịch.
Sau khi nghiên cứu thị trường cho phép đơn vị kinh doanh có thể lựa chọn
thị trường, thời cơ thuận lợi lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao
hàng thích hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì kết quả kinh doanh còn
phụ thuộc nhiều vào đối tác giao dịch. Trong cùng một hợp đồng như nhau
nhưng việc giao dịch với đối tác này thì thành công nhưng với đối tác khác thì
thất bại. Do đó nhiệm vụ quan trọng của Doanh nghiệp là phải phân tích tìm 17
hiểu kỹ về đối tác với mục đích là tìm được nhà cung cấp khả thi nhất, có lợi cho
Doanh nghiệp nhất.
Một nhà cung cấp hay được ưa chuộng là người cung cấp chiều theo khách
phán thực chất là việc thoả thuận để phân chia lợi ích giữa các bên trên cơ sở
thoả thuận về các vấn đề sau:
- Tên hàng.
- Phẩm chất hàng hoá.
- Số lượng.
- Bao bì, đóng gói.
- Giá cả.
- Thanh toán, bảo hiểm
- Phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại.
- Điều kiện trọng tài.
* Trong đàm phán kinh doanh quốc tế người ta có thể áp dụng ba hình thức
là:
Đàm phán giao dịch qua thư tín: Ngày nay thư từ và điện tín vẫn
còn là phương tiện chủ yếu để giao dịch quốc tế những cuộc tiếp xúc ban đầu
nhầm thiết lập mối quan hệ làm ăn thường thông qua thư tín và sau naỳ việc
duy trì mối quan hệ giữa các bên cũng phải thông qua thư tín thương mại.
Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm chi phí và một lúc có thể tiếp xúc
với nhiều đối tác.
Nhược điểm là phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi, đôi khi bỏ
lỡ mất cơ hội kinh doanh. 19
Đàm phán qua điện thoại: Các bên trao đổi thoả thuận với nhau
thông qua đàm thoại trực tiếp tạo điều kiện cho người giao dịch tiến hành các
công việc kinh doanh kịp thời đùng tiến độ. Nhược điểm của phương pháp
này là chi phí tốn kém, không thăm giò được quan điểm thái độ của đối tác.
Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: là việc các bên trực tiếp
gặp gỡ nhau tại một địa điểm nhất định để thoả thuận, trao đổi những vấn đề
liên quan tới quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng ngoại thương.
dịch . khi người được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó ,
mà đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là trả giá (bid) . khi có sự trả
giá, chào hàng trước coi như bị huỷ bỏ. Trong buôn bán quốc tế, mỗi lần
giao dịch thường trải qua nhiều lần trả giá mới đi đến kết thúc. Như vậy,
hoàn giá bao gồm nhiều sự trả giá.
Đặt hàng(order): là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía
người mua đưa ra dưới hình thức đặt hàng.
Trong đặt hàng người mua nêu cụ thể về hàng hoá định mua và tất cả những
nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng.
Trong thực tế, người ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thường
xuyên. Bởi vậy, ta thường gặp những đặt hàng chỉ nêu: tên hàng, qui cách phẩm
chất, số lượng, thời hạn giao hàng và một vài điều kiện riêng biệt đối với lần đặt
hàng đó. Về những điều kiện khác, hai bên áp dụng điều kiện chung đã thoả
thuận với nhau hoặc theo những điều kiện của hợp đồng đã ký kết trong lần giao
dịch trước.
Chấp nhận (acceptance): là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều
kiện chào hàng (hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng 21
được thành lập. Một chấp nhận muốn có hiệu lực về mặt pháp luật, cần phải
đảm bảo điều kiện dới đây:
+ Phải được chính người nhận giá chấp nhận;
+ Phải đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng ( hoặc đặt
hàng);
+ Phải chấp nhận trong thời gian hiệu lực của chào hàng;
+ Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đề nghị.
Xác nhận(confirmation): hai bên mua và bán, sau khi đã thống
nhất với nhau về kinh doanh giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã
thoả thuận, gửi cho đối phương. Đó là văn kiện xác nhận, văn kiện do bên
cần xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận đối chiếu với những thoả thuận đã đạt được
trong đàm phán, tránh việc đối phương có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo
léo những điểm chưa thoả thuận và bỏ qua không ghi vào những điều đã thống
nhất.
- Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng, sáng sủa, cách trình bày phản ánh
đúng nội dung đã thoả thuận, không để tình trạng mập mờ, có thể suy luận ra
nhiều cách.
- Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ đặc điểm của hàng hoá
định mua bán, từ những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội… của nước người
bán, người mua, từ đặc điểm quan hệ giữa hai bên. Trong hợp đồng không có
những điều khoản trái với luật lệ hiện hành ở nước người bán và nước người
mua.
- Người đứng ra ký kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền .
- Ngôn ngữ dùng soạn thảo hợp đồng là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên cùng
thông thạo.
- Một hợp đồng ngoại thương gồm các phần sau đây:
+ Số hợp đồng.
+ Ngày tháng và nơi ký kết hợp đồng.
+Tên, địa chỉ các bên ký kết.
+ Các điề khoản hợp đồng bao gồm các điều khoản sau:
+ Tên hàng, qui cách phẩm chất , số lượng, bao bì, ký mã hiêu.
+ Giá cả, đơn giá, tổng giá trị hàng hoá. 23
+ Phương thức vận chuyển.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Sau khi tất cả các công việc từ khâu nghiên thị trường và lựa chọn đối tác,
đàm phán các điều khoản hợp đồng và kết thúc là việc ký kết hợp đồng nhập
khẩu, các điều khoản của hợp đồng ký kết nói lên được phần nào triển vọng về
TÍN
DỤNG (L/C) NẾU
THANH TOÁN
B
Ằ
NG L/C
THUÊ TÀU
LƯU CƯỚC
MUA B
Ả
O
HIỂM HÀNG
HOÁ
LÀM TH
Ủ
T
Ụ
C
THANH TOÁN
NHẬN HÀNG
LÀM TH
Ủ
T
Ụ
C
HẢI QUAN
KHI
Ế
tín dụng chứng từ; phương thức nhờ thu; phương thức điện chuyển tiền…Nhưng
sử dụng rộng rãi nhất vẫn là phương pháp tín dụng chứng từ.
Vì vậy, nếu trong hợp đồng ngoại thương qui định phương thức thanh toán
là tín dụng chứng từ thì việc đầu tiên là phải mở L/C theo đúng như qui định
trong hợp đồng. Thời gian mở L/C phụ thuộc thời gian giao hàng, nếu như hợp
đồng không qui định thời gian cụ thể thì thông thường thời gian này là 15 - 20 25
ngày trước khi giao hàng. Cơ sở để mở L/C phụ thuộc vào các điều khoản của
hợp đồng. Đơn vị nhập khẩu dựa vào cơ sở đó làm đơn xin mở L/C theo mẫu
của ngân hàng.
4.3 Thuê tàu – lưu cước.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê tàu tính theo hình
thức nào được tiến hành dựa trên ba căn cứ : Điều khoản hợp đồng, đặc điểm
hàng hoá, điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập
khẩu phải thuê tàu để chở hàng, nếu điều kiện cơ sở giao hàng là CIF thì bên
nhập khẩu không phải thuê tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về phía Xuât khẩu.
Tuỳ theo đặc điểm của hàng hoá kinh doanh, Doanh nghiệp lựa chọn
phương thức thuê tàu cho phù hợp: thuê tàu chợ hay tàu chuyến. Nếu nhập khẩu
không thường xuyên hoặc khối lượng lớn thì nên thuê tàu chuyến. nếu nhập
khẩu khối lượng nhỏ thì nên thuê tàu chợ.
4.4 Mua bảo hiểm hàng hoá.
Hàng hoá chuyên trở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế, bảo
hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương.
Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng hảo hiểm bao hoặc là hợp đồng bảo hiểm
chuyến. khi mua bảo hiểm bao, Doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ đầu kỳ, mỗi
khi giao hàng xuống vận chuyển chỉ cần gửi đến Công ty bảo hiểm một thông
báo bằng văn bản gọi là:”Giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Khi mua bảo hiểm
chuyến, Doanh nghiệp gửi đến Công ty bảo hiểm một văn bản gọi là: “ Giấy yêu