Lời Cảm ơn
Để có kết quả hoàn thành bài Khoá Luận Tốt
Nghiệp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè , tới
gia đình tôi đã động viên tôi trong quá trình thực tập,
đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo h ớng dẫn
của tôi, trong quá trình thực tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp này tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn rất
chu đáo và tận tình cùng những lời khuyên bổ ích của
thầy giáo Nguyễn Ngọc Ph ớc , tôi vô cùng biết ơn sự
quan tâm của các thầy cô giáo trong khoa Thuỷ Sản,
trờng Đại Học Nông Lâm Huế,và sự giúp đỡ nhiệt
tình của các cô trong Khoa Vi Sinh thuộc Bệnh Viện
Trung Ương Huế
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài
thực tập tốt nghiệp, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng,
tuy nhiên do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế
nên vẫn không thể tránh đợc những sai xót .
Rất mong đợc sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo,
và các bạn sinh viên
Huế, tháng 5 năm 2008
Trần Nam Hà
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
1.ĐẶT VẤN ĐỀ 5
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
2.1 Tình hình nghiên cứu dịch bệnh tôm trên thế giới và Việt Nam 7
2.1.1 Tình hình dịch bệnh 7
2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh 10
2.2.1. Trên thế giới 10
2.2.2. Tại Việt Nam 12
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2. Thời gian nghiên cứu 24
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.2.1. Dụng cụ thí nghiệm 24
3.2.2. Môi trường , hoá chất 25
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1. Phương pháp thu mẫu 25
3.4.2. Phương pháp nuôi cấy , phân lập vi khuẩn 26
3.4.3. Nuôi cấy 26
3.4.4. Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn 26
3.4.5. Phương pháp nhuộm vi khuẩn 27
3.4.6. Phương pháp thử nghiệm kháng sinh đồ 28
3.4.7. Thiết kế thí nghiệm 28
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 31
3.5.1. Giá trị trung bình 31
3.5.2. Độ lệch chuẩn 31
3.5.3. Công thức tính mật độ vi khuẩn 31
3.5.4. Xử lí số liệu 31
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Kết quả phân lập, định danh vi khuẩn gây bệnh 32
4.1.1. Dấu hiệu bệnh lí 32
4.1.2. Kết quả phân lập, định danh vi khuẩn 32
4.2. Kết quả thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của các công thức Bokashi
trầu khác nhau 36
4.2.1. Kết quả thí nghiệm sàng lọc các công thức Bokashi thí nghiệm 36
4.2.2. Kết quả thí nghiệm sàng lọc nồng độ ức chế 38
4.2.3. Kết quả thử nghiệm nồng độ ức chế vi khuẩn của bokashi trầu 39
4.2.4. Kết quả thử nghiệm khả năng tiêu diệt vi khuẩn của bokashi trầu40
Thông thường, các loại hóa chất và kháng sinh là những loại mà người nuôi
thường sử dụng để hạn chế dịch bệnh, tuy nhiên việc sử dụng hóa chất, kháng sinh
không đúng quy cách, không đúng liều lượng đã gây lên tác hại lớn như là tạo ra
các dòng vi khuẩn kháng thuốc, làm suy thoái môi trường , ảnh hưởng không tốt tới
sức khỏe con người [21], [27],[28] [31]. Hơn nữa hiện nay theo các quy định về an
toàn thực phẩm, nghiêm cấm sự tồn dư các loại hóa chất và kháng sinh có trong
động vật thủy sản. Nếu chúng ta không có biện pháp tốt để vượt qua những rào cản
này thì sẽ làm giảm đáng kể về mặt kinh tế đối với xuất khẩu thủy sản, và thủy sản
việt nam khó đứng vững trên thị trường thế giới [8]
Những năm gần đây xu hướng dùng thảo dược trong chữa trị bệnh trên động
vật thủy sản ngày càng được phổ biến do biên độ an toàn cao [19], các chiết xuất từ
thảo dược được sử dụng rộng rãi trong bảo quản và điều trị bệnh nấm và vi khuẩn
gây ra trên động vật thủy sản
Tại Việt Nam, lá trầu (Piper betel. L) được sử dụng trong điều trị bệnh vi
khuẩn trên người [7]. Đây là một loại thảo dược có nguồn gốc từ tự nhiên, có tác
dụng kháng sinh mạnh mẽ, chất kháng sinh trong lá trầu diệt được nhiều vi khuẩn
gây bệnh [2]. Trong lá trầu có chất chavicol, chavibetel và một số hợp chất phenic
khác. Năm 1996, kết quả nghiên cứu từ bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Dược Hà
Nội cho thấy trầu có tác dụng kháng sinh mạnh đối với vi trùng tụ cầu, B. subtilis,
trực trùng E. coli. Trong nuôi trồng thủy sản, ngư dân nhiều nơi đã biết dùng lá trầu
để phòng trị bệnh cho vật nuôi, nhưng đa số mới chỉ dừng ở mức kinh nghiệm, làm
theo ý thích, chưa có phương pháp khoa học cụ thể, chưa tìm ra liều lượng đúng
Qua thực tế tìm hiểu về tác hại của bệnh vi khuẩn gây lên trên động vật thủy
sản, và tác dụng của lá trầu, được sự đồng ý của bộ môn Ngư y, Khoa Thủy sản,
trường Đại học Nông Lâm Huế, cùng sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, tôi tiến
hành đề tài :
“Nghiên cứu tác dụng của Bokashi trầu lên sự phát triển của vi khuẩn
gây bệnh đường ruột trên tôm sú (Penaeus monodon)”
Mục tiêu đề tài :
Phân lập, xác định loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột trên tôm sú.
Tại Việt Nam, nghề nuôi tôm cũng đã phát triển khá lâu nhưng thực sự phát
triển mạnh trong nhưng năm gần đây. Do những lợi nhuận mang lại từ con tôm sú
(P. monodon) và do ưu đãi của thiên nhiên nên nghề nuôi tôm sú phát triển mạnh
mẽ trong cả nước đặc biệt là miền trung và Đồng bằng sông Cửu Long[27], [28]
7
Năm 1990, ở Việt Nam có 187.000 ha mặt nước nuôi tôm và sản lượng đạt
được là 31.000 tấn. Đến năm 1995, diện tích nuôi tăng lên 260.000 ha và sản lượng
đạt được là 52.000 tấn. Nhưng mặt trái của sự phát triển nhanh chóng và không có
quy hoạch là dịch bệnh bùng phát ở nhiều nơi. Năm 1994, dịch bệnh bùng phát tại
Đồng bằng sông Cửu Long: Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Long An, Nha Trang …
gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho bà con nuôi tôm. [28]
Bảng 2. 1. Thiệt hại do bệnh tôm gây ra ở các tỉnh miền Nam năm 1996
Địa
phương
Diện tích bị bệnh (ha) Sản
lượng
(tấn)
Giá trị kinh
tế (tỷ
đồng)
Quảng
canh
QCCT Bán
thâm
canh
Thâm
canh
Phú Yên 104 2,06
Khánh Hoà 20 10 16 0,1
Vũng Tàu 150 246 1,5
Tổng
diện
tích bị
bệnh
(ha)
Tổng
diện
tích
nuôi
tôm
(ha)
Tỷ lệ %
so với
diện
tích thả
nuôi
Phân ra các loại bệnh
Bệnh Đốm trắng Bệnh Còi Bệnh khác
Diện
tích
tỷ lệ
(%)
Diện
tích
tỷ lệ
(%)
Diện tích tỷ lệ
(%)
1 Phú
Vang
Cuối thế kỉ XIX, một số tác giả đã xuất bản cuốn sách hưướng dẫn dịch bệnh
cá nhưng cơ bản vẫn là mô tả những triêuh chứng lâm sàng. Sang đầu thế kỷ XX,
các nhà khoa học thế giới đã bắt đầu nghiên cứu và viết sách hướng dẫn các bệnh
cá.
Năm 1904, Bruno Hofer người Đức viết cuốn sách “Tác nhân gây bệnh ở cá”
(Father Of Fish Pathology). Năm 1929, viện sĩ V.A.Dogiel thuộc viện hàn lâm khoa
học Liên Xô cũ là người có công lớn đóng góp vào công trình nghiên cứu ký sinh
trùng cho cá, năm 1939 ông viết tiếp cuốn sách “Bệnh vi khuẩn của cá” ( Bacterial
Diseases Of Fish). Từ năm 1930 -1970 việc nghiên cứu bệnh ký sinh trùng gây ra ở
cá có nhiều thành công với nhiều công trình được thông báo ở Hungari, Nhật bản,
Trung Quốc mà tác giả tiêu biểu chủ biên phải kể như: E.M.Lyaiman chủ biên
cuốn sách giáo khoa về bệnh cá học ở Liên Xô, mãi đến những năm của thập kỷ 50,
60 các tác giả chuyên nghiên cứu về bệnh cá tiếp tục phát triển ở các nước:
Bychowsky, Bauer, Mysselius, Gusser Liên Xô Cũ, Schaper Claus của Đức,
Yamaguti của Nhật, Hoffman của Mỹ.
Phải đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khi mà nghề nuôi trồng thuỷ sản
phát triển mạnh, đặc biệt là nghề nuôi tôm ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương
từ đó dịch bệnh tôm xảy ra gắn liền với nghề nuôi tôm. So với các ngành như Y
học,thú y, bệnh cá, thì trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh tôm còn khá non trẻ, nhưng
do nhu cầu của sản xuất nên lĩnh vực này đang được các quốc gia, tổ chức, các nhà
khoa học … đầu tư, nghiên cứu với mục đích giảm thiệt hại tới mức nhỏ nhất nhằm
giúp cho nghề nuôi ổn định và phát triển.
Đến nay người ta đã phát hiện rất nhiều loài là tác nhân gây bệnh cho động
vật thuỷ sản như: bệnh virus cá đã phân lập được 60 loài virus, bệnh virus ở nhiễm
thể có 12 loài thuộc 8 họ, bệnh virus ở giáp xác có 14 loài ở tôm và 3 loài ở cua
thuộc 5 họ, trong đó gặp nhiều nhất là 7 bệnh Baculovirus[ bùi quang tề]
Các loài vi khuẩn gây bệnh đa số thuộc nhóm vi khuẩn Aeromonas. spp,
Pseudomonas. spp gây bệnh ở nước ngọt và nhóm Vibrio gây bệnh ở nước mặn. Về
nấm thì có các loại gây bệnh ở nước ngọt Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces, và
các loài nấm phổ biến ở nước mặn là: Lagenidium, Fusarium, Halipthoros ,
Thắng (1997) cho thấy vi khuẩn hiển diện khá cao trên tổng số mẫu thu xét
nghiệm, nhiều loại Vibrio xuất hiện với tần số lớn, 2/3 xã điều tra cho thấy hiện
tượng nhiễm khuẩn (Pycnozec nhân) chiếm tỷ lệ 80-100%, điều này cho thấy các
12
mô hình nuôi quảng canh, nhất là mô hình nuôi tôm sú trên ruộng lúa. Bên cạnh tác
nhân virus, vi khuẩn cũng là một tác nhân khá nguy hại khác cho tôm nuôi nếu đàn
tôm bị nhiễm khuẩn với cường độ cao và số lượng lớn.
Năm 1996, Đỗ Thị Hoà cùng ctv đã đi sâu vào nghiên cứu các tác nhân gây
bệnh trên tôm Sú ở khu vực Nam Trung Bộ đã phát hiện: Virus, vi khuẩn, protozoa
cảm nhiễm trên tôm, kết quả này đã mở ra nhiều triển vọng cho nghề nuôi tôm tại
Việt Nam.
Gần đây công trình nghiên cứu lớn là đề tài cấp nhà nước mang mã số : KN
-04-12 do Hà Ký đã nghiên cứu được 13 loại bệnh vi khuẩn tôm ông đã công bố đầy
đủ các khâu từ phân lập vi khuẩn, tác nhân gây bệnh, dấu hiệu bệnh lý, phân bố và
lan truyền, biện pháp phòng trị với một số bệnh được đi sâu nghiên cứu như: bệnh
phát sáng ở ấu trùng tôm sú, bệnh đỏ dọc thân ở ấu trùng tôm sú, bệnh hoại tử đốm
nâu ở tôm càng xanh, bệnh hoại tử do vi khuẩn gây ra trên cá trê, bệnh xuất huyết ở
cá trắm cỏ nuôi lồng
2.3. Tình hình sử dụng hợp chất chiết xuất từ thảo dược
2.3.1. Trên thế giới
Việc tăng năng suất và sản lượng nuôi bằng cách ồ ạt phát triển nghề nuôi
tôm dã khiến cho dịch bệnh ngày càng là một vấn đề gây nhức nhối cho người nuôi.
Để xử lý vấn đề này, các loại hoá chất và kháng sinh là những biện pháp đầu tiên
được con người sử dụng để điều trị cho các loại thuỷ sản. tuy nhiên, việc sử dụng
các loại hoá chất và kháng sinh không đứng quy cách và liều lượng đang gây ảnh
hưởng lớn tới sinh thái môi trường và sinh thái nghề nuôi, bên cạnh đó việc tồn dư
kháng sinh còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của con người. Trong những năm
gần đây, xu hướng sử dụng thảo dược trong điều trị cho bệnh thuỷ sản đang được sử
dung rộng rãi trong việc điều trị bệnh trên động vât thuỷ sản vì việc sử dụng thảo
dược có biên độ an toàn lớn, ít ảnh hưởng tới môi trường sinh thái cũng như môi
P. guajava là 0,625mg/ml và M. charantina là 1,25mg/ml. [22 ]
Gần đây, Trung Quốc đã chiết tách được một loại Ankanoid từ cây Xoan
rừng tên là “Yanatren” hoặc sử dụng hạt với tên Kosam, enkosam có tác dụng điều
trị lỵ Amip [27 ], [29 ], [31 ]
14
Các kết quả trên chỉ mới bước đầu thử nghiệm sàng lọc các loại thảo dược chưa
xác định được thành phần nào trong thực vật có tác dụng trên virus và vi khuẩn
2.3.2. Tại Việt Nam
Từ xa xưa, dân ta đã biết dùng những cây cỏ quen thuộc trong vườn nhà để
trị các bệnh thông thường như một số bệnh đường ruột, bệnh đường hô hấp, tiết
niệu trị mụn nhọt, rửa vết thương, [14 ], [23 ], [29 ]
Theo y học cổ truyền,phần lớn những cây thuốc có tác dụng chữa bệnh
nhiẽm khuẩn đã được xếp trong nhóm thuốc gọi là “thanh nhiệt giải độc, thanh
nhiệt, táo thấp, thuốc khử hàn” vv. như alicin trong tỏi, odorin trong hẹ, [14 ]
Từ thế kỷ XIV, Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh đã sử dụng nhiều thảo mộc như tỏi ,
hẹ ,tô mộc,hạt cải, trầu không để trị một số bệnh viêm nhiễm [14 ]
Từ giữa thế kỉ XX trở lại đây, theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Ngữ
(1956) trên 500 loài cây thuốc , đã khẳng định rằng nhiều cây có tác dụng kháng
khuẩn rất lớn. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn hưởng và cộng sự (1959),
trên 1000 cây thuốc cũng chỉ ra rằng kháng sinh thực vật sử dụng rất an toàn, có tác
dụng mạnh, nhóm nghiên cứu đã đưa ra Chế Phẩm cây Tô Mộc trị bệnh tiêu chảy
Ở Miền Bắc, Hà Ký (1995) và cộng sự trong chương trình KN 04-12 đã
nghiên cứu một số loài thảo dược dùng để phòng trị bệnh trên ca. Bước đầu đã chọn
được 9 loài cây thuốc sau: rau nghể (Polygonum hydropiper), rau sam (Portulaca
cleracea), cây cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta), cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolis),
sài đất (Wedelia calendu lacae), nhọ nồi (Eclipta alba), bồ công anh (Lactuca
indica), cây vòi voi (Heliotropium indicum) và cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus
urinaria) là những loài thảo dựoc có thể sử dụng trong phòng trị bệnh trên động vật
thuỷ sản[[6 ]
Ở Miền Nam, các cây cỏ được dùng trong phòng trị bệnh cho vật nuôi thuỷ
[ 21] ,[22], [27]
2.3.2. Cây xoan (Melia azedarach)
Dùng lá xoan để diệt trùng mỏ neo và trùng bánh cho cá rất tốt: lấy cành lá
xoan non bó thành bó ngâm trong lồng nuôi cá đang bị bệnh trùng mỏ neo, trùng
bánh xe, hoặc ngâm trong cá nuôi ở phía đầu nguồn nước với lượng 150-200kg lá
xoan/1.000m
2
ao có mức nước 1,5 - 2m hoặc 20-25kg lá xoan/lồng cá 8m
2
. [22],
[27], [21]
16
2.3.3. Cây thàn mát (Milletia ichthyochtona Drake )
Quả khi già hạt có chứa 30-40% dầu và chất gây độc (như rotenon,
sapotoxin) đối với cá. Có thể dùng hạt thàn mát để diệt cá tạp trong ao nuôi tôm.
Cách dùng: nghiền nát hạt rồi hoà vào nước, dùng nước đó tưới đều lên ao; hoặc
đập nát cho vào bao tải ngâm ở ao, tác dụng chậm hơn. Liều lượng cứ 0,5-1kg hạt
dùng cho một ao 1.000m
2
ở mức nước 15-20cm. [21], [22 ], [27]
2.3.4. Cây sở (Cammellia sasanqua)
Sở là cây ép lấy dầu, bã làm thành bánh (khô dầu sở) có chứa chất saponozit
gây độc làm chết cá và có tác dụng diệt khuẩn. Khô dầu sở có tác dụng để cải tạo ao
đầm nuôi tôm. Khi dùng, cần nghiền nát khô dầu sở rồi rải xuống ao, hay ngâm
trong nước. [ 21] [22]. [27]
2.3.5. Cây bồ hòn (Sapindus mukorossi Gaetrn)
Quả bồ hòn có nhân, hạt rất độc. Người nuôi cá, tôm dùng hạt để diệt cá tạp
khi cải tạo ao đầm. Khi dùng, giã hạt thật nhỏ, hoà tan với nước, dùng nước này té
đều khắp ao với liều lượng 0,5-1kg hạt/1.000m2 ao có mức nước 15-20cm.
2.3.6. Cây thầu dầu tía (Ricinus communis L.)
2.4. Vài nét về chế phẩm EM và Bokashi trầu
2.4.1. Chế phẩm EM
EM (Effective Microoganisms) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu. Chế
phẩm này do Teruo Higa - trường Đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawoa, Nhật Bản
sáng tạo và áp dụng thực tiễn vào đầu năm 1980. Trong chế phẩm này có khoảng 80
loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc các nhóm : vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn
lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn. 80 loài vi sinh vật này được lựa chọn từ hơn
2000 loài được sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên
men [16], [27] , [29], [30]
Chế phẩm gốc có tên gọi là EM1, có màu nâu, mùi thơm, vị chua ngọt, độ
pH < 3,5. Chế phẩm được bảo quản ở nhiệt độ bình thường, tránh ánh nắng mặt trời
trực tiếp chiếu vào. Thời gian bảo quản từ 6 tháng đến 1 năm.
18
Từ chế phẩm EM1 có thể chế ra các chế phẩm khác như : EM thứ cấp, EM
Bokashi B (làm thức ăn cho gia súc) và EM Bokashi C (để xử lý môi trường).
2.4.2. Cây trầu
2.4.2.1. Hệ thống phân loại
Giới : Plantae
Ngành : Magnoliophyta
Lớp : Magnoliophyta
Bộ : Piperales
Họ : Piperaceae
Giống : Piper
Loài : P. betle
Hình 2. 1. Lá trầu (Piper betle .L)
Trầu không hay trầu (Piper betle . L) là một loài cây gia vị hay cây thuốc, lá
của nó có các tính chất dược học. [2, 319], [29], [30], [31]
19
Đây là loài cây thường xanh, lá mọc so le, cuống có bẹ, dài 1,5 - 3,5cm,
phiến lá hình trái xoan, dài 10 - 13cm, rộng 4,5 - 9cm, phía cuống hình tim (đối với
Bokashi trầu là sản phẩm kết hợp từ chế phẩm EM1 và lá trầu, một nguyên
liệu rẻ tiền và dễ kiếm ở địa phương để phòng và trị bệnh cho động vật thuỷ sản.
Quá trình sản xuất Bokashi trầu dựa trên quá trình lên men giữa lá trầu và dung dịch
EM thứ cấp trong điều kiện yếm khí [11]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phước (2007), Bokashi trầu là
một loại chế phẩm sinh học có khả năng diệt khuẩn tốt, có biên độ an toàn cao đối
với vật nuôi, và thân thiện môi trường. Nghiên cứu đã cho thấy chế phẩm EM khi
kết hợp lá trầu có thể ức chế và tiêu diệt hai loài vi khuẩn Vibrio spp và Aeromonas
hydrophyla, đây là hai loài vi khuẩn gây bệnh phổ biến trên động vật thuỷ sản nước
ngọt và nước mặn, nên việc sử dụng chế phẩm này sẽ góp phần hạn chế việc sử
dụng kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản
2.4. Một số loại kháng sinh thường dùng trong nuôi trồng thủy sản
2.4.1 Erythromycin
Tác dụng : Erythromycin là kháng sinh có phổ rộng,ngăn cản sự tổng hợp
riboxom trong tế bào vi khuẩn. Erythromycin có phổ giống như Penicillin, tác dụng
mạnh với vi khuẩn Gram (+) , một số vi khuẩn Gram (-) cũng bị tác dụng, ngoài ra
nó còn có tác dụng với nhóm Clamidia [10], [18], [21], [24], [27], [28], [32]
Kết quả thử kháng sinh đồ: Kháng sinh Erythomycin mẫn cảm cao với
Vibrio spp, Vibrio sp, Pseudomonas sp
Liều dùng : Dựa trên kết quả thử kháng sinh đồ dung 100 – 200mg/kg/ngày
trong ngày đầu tiên, ngày thứ 2dùng bằng ½ ngày đầu, thời gian sử dụng từ 7 – 10
ngày. Chú ý vì Erthomyciny tan nhanh trong nước[10], [18], [21], [24], [27], [28],
[32]
2.4.2. Tetracyline
Tác dụng :Kìm hãm nhiều cầu khuẩn và trực khuẩn Gram (+) và Gram (-) ,
xoắn khuẩn, ricketsia và một số virus lớn, nấm và kí sinh trùng[10], [18], [24], [32]
Chia làm 7 lớp: Chlotetracyline , Minocyline , Demeclocyline , Doxycyline,
Meclocyline , Oxytetracyline , Tetracyline
21
2.4.3. Rifampin
đi bằng thuốc kháng sinh. Hơn nữa, nhiều loại kháng sinh được sử dụng trong các
trại nuôi tôm lại có sức bền khá cao trong môi trường và có thể lan ra các vùng
nước xung quanh, chúng có thể thay đổi hệ sinh thái bằng cách thay đổi cấu trúc
thông thường của vi khuẩn và cũng có những ảnh hưởng độc tính rất lớn đối với
động vật và thực vật dưới nước[10], [18], [21], [24], [27], [28], [32]
23
3. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Vi khuẩn gây bệnh đường ruột trên tôm sú được phân lập từ mẫu bệnh
phẩm từ tôm bị bệnh đường ruột
Chế phẩm Bokashi trầu
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 02/01/2008 tới 20/05/2008
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu
3.1.3.1. Địa điểm thu mẫu
Mẫu tôm được thu từ các ao nuôi tôm tại xã Quảng An, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế
3.1.3.2. Địa điểm phân tích , nuôi cấy, phân lập, lưu giữ giống vi khuẩn và tiến hành
thí nghiệm
Phòng thí nghiệm khoa Thuỷ Sản, trường Đại Học Nông Lâm Huế
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Dụng cụ thí nghiệm
Dụng cụ bố trí thí nghiệm: Các đĩa peptri thạch
Dụng cụ thí nghiệm, giải phẫu: Cân điện tử, đèn cồn, que cấy, bông thấm,
găng tay, bộ giải phẫu
Dụng cụ nuôi cấy và phân lập vi khuẩn: Các ống nghiệm vô trùng, đĩa
peptri, que cấy vô trùng, lamen, slide, pipep, kính hiển vi độ phóng đại 100x, dầu
soi kính, nước muối sinh lí 0,9 %, nước cất vô trùng