LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu nêu trong bài khoá luận là trung thực. Nếu có gì sai sót tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà i
LỜI CẢM ƠN
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các
thầy cô của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô
khoa Kinh tế và PTNT của trường đã tạo điều kiện cho em thực tập ở
khoa để có nhiều thời gian cho khóa luận tốt nghiệp. Và đặc biệt em xin
chân thành cám ơn cô giáo Thạc sĩ Hà Thị Thanh Mai đã nhiệt tình
hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận thực tập.
Em cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến lãnh đạo, cán
bộ công chức Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An; Phòng Kinh tế
hợp tác và Kinh tế hộ Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An; Phòng
Nông nghiệp và PTNT các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu; ông Trần Văn
Hùng - trưởng phòng Kinh tế hợp tác và kinh tế hộ thuộc Chi cục PTNT
là người hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho em trong đợt thực tập này để
em có thể học hỏi được nhiều kiến thức cũng như tích lũy kinh nghiệm
cho bản thân.
Trong quá trình thực tập, cũng như là trong quá trình làm bài báo
cáo, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các Thầy, Cô bỏ qua. Về trình độ lý
luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của em còn hạn chế nên bài báo cáo
không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến giúp
đỡ, hướng dẫn của Thầy, Cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và
hoàn thành tốt hơn bài báo cáo tốt nghiệp sắp tới.
những cơ sở thực tiễn về tình hình phát triển HTXNN ở Việt Nam, rút ra
các bài học kinh nghiệm từ các nước có HTXNN phát triển.
Đề tài áp dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp thống kê mô tả, so sánh,
iii
phương pháp điều tra thông qua phỏng vấn bán cấu trúc các cán bộ chủ
chốt trong HTXNN.
Các HTXNN tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2012 đã chuyển đổi
hoạt động theo Luật HTX 2003. Đến nay, phong trào HTX của tỉnh đã có
sự chuyển biến khá cả về quy mô, số lượng, chất lượng hoạt động; hình
thức tổ chức và hoạt động của HTXNN dần phù hợp với pháp luật về
HTX. Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động tại các địa phương trong tỉnh,
hoạt động của các HTXNN đã góp phần quan trọng trong việc phát triển
kinh tế, xã hội nông nghiệp nông thôn của tỉnh trong mấy năm qua. Tuy
nhiên, hầu hết các HTXNN vẫn đang còn có quy mô nhỏ, thiếu vốn, cơ sở
vật chất - kỹ thuật còn nhiều yếu kém, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý
điều hành còn hạn chế, hiệu quả sản xuất – kinh doanh thấp, lợi ích mang
lại cho xã viên không nhiều…
Những giải pháp được nêu ra là nâng cao nhận thức của cộng đồng
về phát triển kinh tế HTX; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán
bộ làm công tác quản lý Nhà nước về kinh tế tập thể từ tỉnh đến huyện;
tăng cường thực hiện chính sách cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực cho HTXNN; đẩy mạnh việc liên doanh, liên kết với các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; chuyển giao và áp dụng khoa
học công nghệ mới vào sản xuất, chế biến nông lâm sản; hỗ trợ và phát
triển thị trường nông sản. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên có ý
nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ quá trình đổi mới và phát triển mô
hình HTX của tỉnh; góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH - HĐH
nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nghệ An nói riêng, cả
nước nói chung.
KHKT Khoa học kĩ thuật
LĐTX Lao động thường xuyên
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTNT Phát triển nông thôn
QSD Quyền sử dụng
UBND Uỷ ban nhân dân
SXKD Sản xuất kinh doanh
XHCN Xã hội chủ nghĩa
vii
viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trước đòi hỏi của việc phát triển sản xuất nông sản hàng hoá, các
nông hộ, nông trại lại tự nguyện liên kết với nhau để hình thành và xây
dựng những hình thức hợp tác thích hợp với nhu cầu thực tế sản xuất của
họ. HTXNN ra đời là sự tất yếu nhằm tạo nên sức mạnh của tập thể, giúp
các hộ nông dân thực hiện những công việc mà từng hộ gia đình không có
khả năng thực hiện, hoặc thực hiện kém hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể là chủ trương lớn, xuyên suốt trong quá
trình phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ tính trong mười
năm (2002 – 2012), Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương chính
sách về phát triển kinh tế tập thể, nhất là Hợp tác xã. Dấu mốc quan trọng
nhất là Nghị quyết số 13/NQ-TW, Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế tập thể”, Luật Hợp tác xã 2003; Nghị định số
88/2005/NĐ-CP về “một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển
hợp tác xã”, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật HTX và mới đây nhất
là Luật Hợp tác xã 2012.
Nghệ An là tỉnh có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới và phát triển
các hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. Đến cuối năm 2012, toàn
phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng XHCN, góp phần hoàn thành
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
Nghệ An, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát triển HTXNN
trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiêu cứu thực trạng phát triển HTXNN ở tỉnh Nghệ An nhằm
hiểu rõ và đánh giá những mặt mạnh, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, từ đó
2
đề xuất những giải pháp để tiếp tục đổi mới hoạt động, phát triển
HTXNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển HTXNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển HTXNN trên địa bàn tỉnh Nghệ
An.
- Đề xuất một số giải pháp để các HTXNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: các HTXNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Thời gian lấy số liệu: Các thông tin và số liệu phục vụ cho đề tài thu thập
từ năm 2008 – 2012.
Thời gian nghiên cứu đề tài: Đề tài nghiên cứu từ ngày 16/01/2014 đến
ngày 04/05/2014.
Các lí luận chung về HTX và HTXNN; tập trung phân tích, đánh
giá về tình hình chuyển đổi và thành lập mới các HTXNN, tổ chức bộ
máy quản lý và các hoạt động của HTXNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
3
"#$%!!
Phát triển HTXNN là sự mở rộng về quy mô cũng như đổi mới,
nâng cao và hoàn thiện hơn hình thức tổ chức quản lý, trình độ cán bộ
quản lý…trong mỗi HTXNN để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu ngày càng
cao của nông dân trong nền kinh tế thị trường.
2.1.2 Các hình thức của HTXNN
- HTX dịch vụ nông nghiệp: là tổ chức kinh tế trong nông nghiệp tách ra
làm dịch vụ cho nông nghiệp, mục đích phục vụ cho các khâu sản xuất
nông nghiệp cho các hộ nông dân, bao gồm: dịch vụ các yếu tố đầu vào
cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung ứng vật tư, giống vật nuôi, cây
trồng…); dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp ( HTX thuỷ lợi, bảo
vệ thực vật…); dịch vụ các yếu tố đầu ra cho sản xuất nông nghiệp ( HTX
chế biến, tiêu thụ sản phẩm…).
- HTX sản xuất kết hợp dịch vụ: đối với loại hình HTX này, ngoài việc
làm các dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ xã viên, còn tổ chức sản xuất, kinh
doanh và phát triển các ngành nghề khác phục vụ sản xuất, kinh doanh và
đời sống của hộ xã viên và cộng đồng, như tín dụng nội bộ, dịch vụ điện.
- HTX sản xuất nông nghiệp: giống như các HTX sản xuất nông nghiệp ở
nước ta trước đổi mới nhưng mục đích nhằm tạo ra quy mô sản xuất thích
hợp chống lại sự chèn ép của tư thương, tạo ra những ưu thế mới ở những
ngành khó tách riêng, khai thác những nguồn lực cần đầu tư lớn…
2.1.3 Đặc điểm của HTXNN
- HTXNN là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp,
được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ nông nghiệp, có đặc trưng gắn với hộ nông dân.
- HTXNN trước hết là để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của nông
dân về sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp; nông dân gia nhập
5
HTX vì họ cần HTX trợ giúp những việc mà họ không thể tự làm hoặc
làm một mình không có hiệu quả, khắc phục được những nhược điểm và
điểm của sản xuất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi đều là những cơ thể
sống, chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu và
các sinh vật khác. Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp
gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu và các
yếu tố sâu bệnh, thú dữ phá hoại…
Từ thời xa xưa, các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để
hỗ trợ, giúp nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi nền
sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác mang
tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau
nhằm đáp ứng yêu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết
những công việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc
làm riêng rẽ không có hiệu quả như phòng chống thiên tai, thú dữ, sâu
bệnh, đào kênh dẫn nước, v.v Quá trình hợp tác này còn mang đặc điểm
tình cảm, tâm lý truyền thống cộng đồng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vượt
qua khó khăn trong sản xuất và đời sống.
Khi nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá
trình tát sản xuất ngày càng tăng cả về qui mô và chất lượng dịch vụ, như
dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thuỷ
lợi Trong điều kiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu
cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng,
hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác. Từ đó nảy sinh nhu
cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có
tính đến giá trị ngày công – giá trị dịch vụ, dẫn đến hình thành HTX. Như
vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp là nhu cầu khách quan, gắn
với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển cùng với quá trình phân
công chuyên môn hoá nảy sinh các chuyên ngành như sản xuất lương
7
thực, hoa, rau, quả, cây công nghiệp như chè, cà phê Đồng thời, cũng
xuất hiện nhiều loại dịch vụ chuyên ngành phục vụ cho nông nghiệp như:
lên chủ nghĩa xã hội. Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việc
xây dựng HTX.
&-$.+/!!
Hiện nay, HTXNN vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển
nông nghiệp, nông thôn và nông dân, góp phần cùng chính quyền xây
dựng nông thôn mới, là cầu nối quan trọng giúp Nhà nước triển khai các
chính sách tới nông dân và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
đến với Nhà nước. Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, HTX dần
chuyển từ sản xuất tập trung sang mô hình cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu
ra cho bà con xã viên và có những vai trò to lớn đối với nông nghiệp,
nông thôn và nông dân.
HTXNN góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, giúp tăng sức
cạnh tranh, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để
phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt
vai trò là cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với nhà nước và các tổ
chức kinh tế nhà nước.
Thông qua HTXNN mà các thành viên có thể tương trợ, giúp đỡ
được cho nhau có điều kiện được cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra với
giá rẻ hơn giá thị trường. Ngoài ra, thành viên HTX còn được tư vấn,
cung cấp thông tin khoa học - kỹ thuật và thị trường , trao đổi kinh
nghiệm thông qua HTXNN vì đó cũng thường là nơi tập hợp kiến thức,
hiểu biết, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh từ Ban quản lý HTX hoặc từ
các thành viên khác của HTX. Trước đây, khi chưa tham gia vào HTX,
nếu từ hoạt động kinh tế của bản thân, thành viên HTX không thể tạo ra
lợi nhuận hoặc chỉ tạo ra ít lợi nhuận thì nay, trong sự hợp tác, họ được
hỗ trợ và có điều kiện tạo ra nhiều lợi nhuận hơn.
9
HTXNN phát triển sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần giải
quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho
xã viên và người lao động, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ở địa
sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng làm tài sản không chia và
các quỹ không chia. Thành viên khi tham gia HTX không phải góp tư liệu
sản xuất mà điều kiện tiên quyết là phải góp vốn theo quy định của Điều
lệ HTX, có thể góp sức khi HTX có nhu cầu; suất vốn góp không hạn
chế, song được khống chế một tỷ lệ nhất định so với tổng số vốn góp của
thành viên nhằm bảo đảm tính chất của HTX (theo Luật HTX năm 2003
thì không quá 30% - Luật năm 2012 quy định không quá 20%). Vốn góp
của thành viên được chia lãi hàng năm và được rút khi thành viên ra khỏi
HTX. Thành viên có thể góp vốn bằng hiện vật, được qui định theo giá
thị trường tại thời điểm góp và giá trị hiện vật được ghi thành vốn góp
của thành viên, còn bản thân hiện vật thuộc sở hữu tập thể HTX. Sở hữu
thuộc cá nhân thành viên được tôn trọng; thành viên có toàn quyền sử
dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sản xuất, kinh
doanh. Những thành viên của HTX vẫn là những chủ thể độc lập, có kinh
tế riêng. Vị trí và vai trò, cũng như quyền tự chủ của kinh tế thành viên
không bị mất đi mà ngược lại được hỗ trợ thêm từ phía HTX để phát
triển.
2,567$8: trong các HTX kiểu cũ, quan hệ giữa
xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc. Xã viên bị tách khỏi tư liệu sản
xuất trở thành người lao động làm công theo sự điều hành tập trung của
HTX, tính chất hợp tác đích thực trong HTX không còn. Trong các HTX
kiểu mới, quan hệ giữa HTX và thành viên là quan hệ bình đẳng, thỏa
thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất, kinh
doanh. Đặc trưng chung của HTX kiểu mới là hoạt động sản xuất, kinh
doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh
của thành viên như HTX kiểu cũ, mà chỉ diễn ra ở từng khâu công việc,
11
từng công đoạn, nhằm hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng thành viên và
do đó cũng tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của thành viên. Thành
viên tham gia quyết định những công việc quan trọng của HTX như
khác, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, liên doanh, liên kết với các đơn vị thuộc mọi thành
phần kinh tế khác, cũng như phân chia lỗ lãi, bảo đảm hoàn thành nghĩa
vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên. Nhà nước tôn
trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ của HTX, không còn can thiệp trực tiếp vào các hoạt động
của HTX. Vai trò của Nhà nước trong việc quản lý đối với HTX được
chuyển qua việc ban hành pháp luật và các chính sách khuyến khích phát
triển HTX. Vai trò xã hội của HTX đã được giảm dần. Các nghĩa vụ đóng
góp vật chất quá nặng trước kia của HTX đối với chính quyền và cộng
đồng, nhất là ở các HTX nông thôn đã từng bước được xoá bỏ, HTX tập
trung vào phục vụ và thực hiện các nghĩa vụ đối với các thành viên của
chính mình là chủ yếu.
20#8<+/ không còn bị giới hạn như
trước. Mỗi HTX có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác
nhau, không giới hạn địa giới hành chính. Các HTX có thể liên kết thành
Liên hiệp HTX. Mỗi thành viên có thể tham gia nhiều HTX (HTX không
cùng ngành nghề) nếu Điều lệ HTX không hạn chế. Không giới hạn số
lượng thành viên tham gia HTX.
,58<: HTX là một tổ chức kinh tế tập thể gồm
nhiều chủ sở hữu, hoạt động lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm cả lợi
ích thành viên và lợi ích tập thể, nhưng HTX còn có vai trò quan trọng
trong việc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng… Do đó, mọi hoạt động của
kinh tế tập thể phải được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp, cả về kinh tế –
chính trị – xã hội; cả hiệu quả của tập thể và của các thành viên.
13
>: khác với các HTX kiểu cũ được áp dụng nhất loạt
trên cả nước theo mô hình sản xuất tập trung và chủ yếu được phát triển
trong lĩnh vực sản xuất, hầu như không có loại hình HTX làm dịch vụ cho
công nợ của HTX cũ, đăng ký lại danh sách xã viên, xây dựng Điều lệ
Hợp tác xã, tổ chức lại hệ thống dịch vụ và bộ máy quản lý của HTXNN.
Cách làm này khá phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Cách
chuyển đổi này có nhiều hạn chế, vẫn mang nặng tính hình thức; tổ chức,
cơ chế quản lý, cơ chế lợi ích chưa có sự đổi mới căn bản, chưa tạo được
động lực phát triển mới và gắn bó lợi ích của các hộ xã viên. Cụ thể số hộ
nông dân tham gia HTX đông vì chủ yếu vẫn theo cách "đánh trống ghi
tên", nên họ không góp vốn hoặc góp chiếu lệ, nơi thấp chỉ 30 - 50 ngàn
đồng, bản thân xã viên không có động lực kinh tế, HTXNN thì không có
nhiều vốn để hoạt động kinh doanh.
Thành lập HTXNN kiểu mới bao gồm thành lập HTXNN mới hoàn
toàn và thành lập HTXNN mới trên cơ sở giải thể HTXNN kiểu cũ. Đây
là cách làm chủ yếu ở các tỉnh phía Nam bao gồm vùng Đông Nam Bộ và
đồng bằng sông Cửu Long. Cách làm này có ưu điểm chính là xuất phát
từ nhu cầu phát triển kinh tế hộ, bảo đảm tính tự chủ cao, nên nông dân tự
nguyện góp vốn lớn để đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của
HTX. Phương thức hoạt động cũng gắn được quyền lợi và trách nhiệm
của từng hộ xã viên đối với HTXNN. Những người sáng lập thường có
trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ kinh doanh và trở thành cán bộ
quản lý HTX năng động, sáng tạo, thích ứng được với cơ chế thị trường,
phát triển vững chắc và có hiệu quả.
Ở các tỉnh phía Bắc, cũng xuất hiện một số HTXNN thành lập mới
theo đúng nguyên tắc của Luật Hợp tác xã thì kinh doanh phát triển và có
hiệu quả. Hạn chế cơ bản của cách làm này, trước hết, có lẽ ở số lượng
HTX và số hộ nông dân tham gia, số hộ nghèo tham gia HTXNN còn quá
ít. Chẳng hạn, tại xã Xuân Tây, Xuân Lộc, Đồng Nai có trên 3.000 hộ
15
nông dân, nhưng chỉ có 1 HTXNN với 21 xã viên. Điều này không phù
hợp với bản chất và mục đích của HTXNN là nơi để người nghèo, người
ít có những lợi thế có điều kiện để giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau cùng góp sức,
chuyên môn và kinh nghiệm trong các hoạt động dịch vụ nông nghiệp,
vừa đòi hỏi trình độ kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường.
?"*,58<+/++
HTX nào xây dựng được phương hướng, kế hoạch sản xuất kinh
doanh, dịch vụ dài hạn cho mình, thì có thể chủ động trong các hoạt động
kinh tế của HTX , tăng nhanh thu nhập cho xã viên cũng như tích lũy cho
HTX. Kết quả hoạt động của các HTX thể hiện ở tình hình các hoạt động
dịch vụ, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của HTXNN.
Mục tiêu của việc các xã viên hợp tác với nhau để thành lập HTX
là nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ đầu ra cho xã viên, chứ không phải là nhằm chủ yếu cung cấp sản
phẩm, dịch vụ cho thị trường đại chúng nên việc xã viên càng sử dụng
nhiều sản phẩm, dịch vụ của HTX hoặc xã viên bán càng nhiều sản phẩm,
dịch vụ của mình cho HTX để từ đó HTX thay mặt xã viên bán sản phẩm
với số lượng lớn với giá cạnh tranh hơn so với từng xã viên bán sẽ bảo
đảm cho sự tồn tại và phát triển của HTX và sẽ mang lại nhiều lợi nhuận
cho HTX hơn. Do vậy, ở các nước trên thế giới, việc phân chia lợi nhuận
cho xã viên HTXNN chủ yếu theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
Thực tế ở Việt Nam, việc phân chia lợi nhuận cho xã viên được ưu tiên
chia theo vốn góp của xã viên. Do vậy, nếu muốn khuyến khích xã viên
sử dụng dịch vụ của HTX và bảo đảm HTX phát triển bền vững, HTX
cần trích chủ yếu lợi nhuận chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ
của HTX, phần còn lại mới chia theo vốn góp của xã viên.
Để xây dựng được mô hình HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp,
Ban quản trị các HTX cần phải hoạch định được kế hoạch xây dựng và
phát triển HTX ngắn và dài hạn, đi từ thấp đến phát triển cao; từ dịch vụ
17