MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ pot - Pdf 15

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KỸ
THUẬT NUÔI TÔM SÚ
/ LỰA CHỌN HÌNH THỨC NUÔI:
1.1 Các hình thức nuôi tôm sú hiện nay:
Quảng canh (QC): hình thức này sử dụng diện tích lớn tận dụng con
giống & nguồn thức ăn hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên hiện nay người
nuôi hầu hết chuyển sang hình thức thả bổ sung con giống ở mật độ thấp
và sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên (phổ biến nhiều nhất là ở
tỉnh Cà Mau).
Quảng canh cải tiến (QCCT): phổ biến nhiều nhất ở các tỉnh
ĐBSCL và các tỉnh phía Bắc với một số hình thức sau:
- Nuôi chuyên tôm
- Nuôi tôm luân canh với trồng lúa: ở Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre,
Long An, Duyên Hải - TP.Hồ Chí Minh,
- Nuôi tôm sú trong ruộng muối vào mùa mưa: ở Vĩnh Châu - Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh,
Nuôi tôm Bán công nghiệp (BCN) và Công nghiệp (CN): phổ biến
nhiều nhất ở duyên hải miền trung, bắt đầu phát triển mạnh ở ĐBSCL và
ở các tỉnh phía Bắc.
1.2 Chọn hình thức nuôi: trong việc chọn lựa để quyết định hình
thức nuôi quý bà con nuôi tôm cần lưu ý và xem xét thật cẩn thận về
điều kiện đất đai, mức độ đầu tư (nguồn vồn) và trình độ quản lý nhằm
có những quyết định đúng đắn nhất, để tránh tình trạng "Tiến thoái
lưỡng nan" gây thiệt hại không thể lường hết được.
II/ LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐỂ THIẾT KẾ AO HỒ:
2.1 Vị trí - chất đất:
Những vùng có nguồn nước mặn từ 5 - 35
o
/
oo
và có Ph đất trên 5 đều

CaCO
3
(kg/1.000m
2
)

Ca(OH)
2
(kg/1.000m
2
)

CaO

(kg/1.000m
2
)

>6 50 - 100 25 - 50 20 - 30
5-6 100 - 150

50 - 75 30 - 40

<5 150 - 250

75 - 125

40 - 50
- Đối với những ao có nền đáy không được tốt (nhiều hữu cơ, ao cũ, )
ta cần bón lót thêm Asahi Zeolite hay Sitto Zeolite với liều từ 10 -

- Diệt ký chủ trung gian (tôm tạp, cua, tép, ): có thể sử dụng các hoá
chất như Neu-kuta (1ppm), Chlorine (15 - 25 ppm), khuyến cáo nên sử
dụng ở ao xử lý sau đó mới cấp vào ao nuôi.
3.5 Những lợi ích của ao trữ lắng:
- Lắng trong nước trước khi cấp vào ao nuôi.
- Giảm tính độc hại các chất độc ở bên ngoài (thuốc BVTV), chất độc
từ các nguồn nước thải, ) và các hoá chất diệt chuẩn được sử dụng
(Chlorine, Neu-kuta, ),
- Một lượng sinh vật gây bệnh cho tôm, đặc biệt là các virus nguy
hiểm (bệnh đốm trắng, đầu vàng, ) sẽ bị tiêu diệt trong thời gian lắng
nước (trên 7 ngày). Do ít có cơ hội tìm được vật ký sinh thích hợp.
- Chủ động được lịch cấp nước do không bị lệ thuộc vào con nước
lớn.
- Ghi chú: để hạn chế dịch bệnh xảy ra trên tôm nuôi, ao trữ lắng
được xem là một yêu cầu bắt buộc. Diện tích ao trữ lắng bằng 30 -50%
diện tích nuôi.
3.6 Gây màu nước (gây nguồn thức ăn tự nhiên):
- Cung cấp đủ muối dinh dưỡng cần thiết: bón DAP (0,5 -
1kg/1.000m
3
) liên tục mỗi ngày cho tới khi độ trong đạt 30 - 45cm. Sau
đó có thể bón bổ sung 0,3 - 0,5kg/1.000m
3
ở giai đoạn đầu của chu kỳ
nuôi (45 ngày sau khi thả).
- Dùng Zeolite (10 - 15kg/1.000m
3
).
- Dùng Bacillus subtilis 1070 (150 - 200g/1.000m
3

bón 2- 3kg/1.000m
3
. Phải hoà tan vào trong nước và phun đều khắp ao.
+ Trước khi gây màu nên cấp nước một lần (1-1,2m), nguồn nước
phải lắng lọc, sát trùng và diệt tạp (công việc này phụ thuộc vào thực tế
ao hồ và kinh nghiệm tốt ở mỗi địa phương). Khuyến cáo nên sát trùng
nước trong ao nuôi bằng Lugol lodine (400 - 600
cc
/1.000m
3
).
IV/ THẢ GIỐNG:
4.1 Lựa chọn con giống khoẻ mạnh:
Để có được tôm giống chất lượng tốt, trước hết, khi mua tôm cần phải
đến nơi đáng tin cậy và phải kiểm tra chất lượng tôm kỹ trước khi mua.
Tôm giống khoẻ có màu sắc trong sáng, không thương tích, đều cỡ,
hoạt động nhanh nhẹn. Kích cỡ nhỏ nhất trên 1,2cm. Tôm bột đạt 15
ngày tuổi thường được gọi là PL
15
. Tôm thon, dài, đuôi xoè hình quạt
khi lội râu khép lại hình chữ V. Có thể đánh giá sức khoẻ tôm bằng cách
dùng thau nước cho tôm vào, quay tròn nước, tôm khoẻ sẽ bám vào
thành thau, lội ngược dòng nước; tôm yếu sẽ bị gom vào giữa thau, khi
gõ nhẹ vào thành thau, tôm khoẻ sẽ phản ứng búng nhảy nhanh; ngoài ra
có thể kiểm tra bằng "sốc" độ mặn hay hoá chất,
4.2 Mật độ thả:
Mật độ thả tôm thích hợp cho hình thức nuôi công nghiệp (25 -30
con/m
2
), bán công nghiệp (15 -20 con/m

- Hợp khẩu vị, tôm thích ăn bởi chất kích thích đã lôi cuốn hấp dẫn
tôm ăn hết mồi.
- Tổng hợp đầy đủ khoáng chất, phù hợp với sự tăng trưởng của tôm
trong mọi giai đoạn.
5.3 Nguyên tắc kiểm tra chất lượng thức ăn chế biến:
- Đặc điểm bên ngoài:
+ Kích cỡ hạt đều nhau, không nát vụn (thích hợp mỗi số cho từng
giai đoạn).
+ Bao bì đựng thức ăn gọn gàng không bị rách.
+ Bề mặt hạt thức ăn nhẵn bóng.
+ Có mùi thơm, không hôi mốc.
+ Hạt thức ăn khô ráo, không ẩm ướt.
+ Không lên mốc.
- Tồn tại trong nước:
+ Tồn tại trong nước lâu, thời gian tan trong nước khoảng 3-4 giờ.
+ Nếu hạt thức ăn giữ nguyên trong nước lâu hơn 8 giờ cũng không
phải là thức ăn tốt.
+ Cách kiểm tra sự tồn tại thức ăn trong nước: là lấy hạt thức ăn chế
biến bỏ vào cốc nước khoảng 30 phút từ từ lắc và quan sát tình hình tan
trong nước.
- Hấp dẫn tôm ăn:
Nếu thức ăn hợp khẩu vị sẽ hấp dẫn tôm ăn mồi và ăn nhiều. Cách
kiểm tra xem hạt chế biến của hãng nào tốt hơn bằng cách cho tôm ăn
thử: dùng thức ăn cùng mã số, cùng số lượng trong thời gian nhất định
xem thức ăn loại nào hết trước là loại đó có sức hấp dẫn tôm ăn mồi.
- Kiểm tra mùi vị thức ăn:
Thức ăn tốt là loại thức ăn khi ta nếm thấy vị ngọt mát. Có nghĩa là
thức ăn đó dùng loại cá tươi có chất lượng tốt trộn lẫn trong sản xuất
thức ăn. Nếu nếm thấy mùi vị khó chịu chứng tỏ dùng cá kém phẩm chất
trong quá trình pha trộn và sản xuất.

- Cho tôm ăn không theo đúng thời gian qui định trong ngày, nhằm
kích thích sự tăng trưởng của tôm với nguyên tắc là một tuần có thể cho
thức ăn không đúng theo thời gian qui định 01-02 lần.
- Vào những ngày khí hậu nóng bức, ban ngày tôm ăn mồi giảm, vậy
nên giảm lượng thức ăn xuống.
VI/ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC:
6.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ thích nghi cho tôm sú là khoảng 18-35
o
C, nhiệt độ thích hợp
28-30
o
C. Tôm là động vật máu lạnh, nhiệt độ cơ thể tôm thay đổi theo
môi trường xung quanh, tôm thích nghi chậm, nếu nhiệt độ khác biệt quá
nhiều tôm sẽ yếu và chết. Nhiệt độ ảnh hưởng đến việc ăn mồi của tôm,
cho nên người nuôi tôm phải tìm mọi cách quản lý nhiệt độ nước. Nếu
nước lạnh quá thì giảm mức nước xuống, hoặc làm cho mức nước tăng
lên khi nhiệt độ cao. 6.2 Độ mặn:
Tôm sú có khả năng thích nghi rộng với độ mặn (0-45
o
/
oo
), độ mặn
thích hợp nhất đối với tôm sú từ 10-20
o
/
oo

)
2
sử dụng loại vôi nào, người nuôi phải nghiên cứu tính
năng, tác dụng của từng loại vôi cho phù hợp. Ví dụ: muốn tăng độ PH
lên thì phải tăng độ kiềm thì sử dụng vôi CaCO
3
hoặc CaMg(CO
3
)
2
,
trường hợp nước có độ PH quá thấp thì dùng vôi Ca(OH)
2
hoặc CaO để
nâng nhanh độ PH lên. Trong trường hợp PH cao ta sử dụng D_best
hoặc thay nước và tiếp tục sử dụng D_best. Chú ý đừng để độ PH thay
đổi quá nhanh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước và tôm nuôi, nên sử
dụng vôi hay D_best với hàm lượng ít và nhiều lần.
6.4 Độ trong:
Độ trong của nước trong ao hồ phần lớn là do phiêu sinh thực vật sinh
ra. Vậy phải khống chế độ trong của nước. Độ trong đục thích hợp
khoảng 30-45cm (đo bằng đĩa secchi). Chúng ta cố gắng duy trì độ trong
và PH thích hợp sẽ giúp cho ổn định chất lượng nước và tôm sẽ phát
triển tốt.
6.5 Hàm lượng oxy hoà tan (D.O) và hệ thống sục khí:
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước thích hợp là không được dưới
03ppm., trong nước nếu có lượng oxy nhiều sẽ có những ưu điểm sau:
giảm các chất độc hại, thuận lợi cho việc phân huỷ các chất hữu cơ, tăng
chất lượng nước, tôm sẽ sống thoải mái. Vậy người nuôi phải nghiên
cứu tăng hàm lượng oxy trong nước bằng cách dùng máy sục khí (đạp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status