Nội dung kiến thức văn học DG trong trường THCS - Pdf 15

về nội dung kiến thức văn học dân gian trong
nhà trờng Trung học cơ sở
Th.S. Nguyễn Việt Hùng
Khoa Ngữ văn - ĐHSP Hà Nội
Căn cứ để chúng tôi đánh giá nội dung, kiến thức phần văn học dân
gian (VHDG) trong nhà trờng THCS là sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn
Trung học cơ sở (THCS), cụ thể ở đây là SGK Ngữ văn 6 tập 1, Ngữ văn 7
tập 1 và 2. SGK đóng vai trò là vật liệu trụ cột trong việc xây dựng nội dung
môn học, nó có quan hệ chặt chẽ với Chơng trình. SGK là sự cụ thể hoá
những kiến thức của Chơng trình, do đó, muốn có SGK tốt thì cần phải có
một Chơng trình tốt, hợp lí. Do những sự điều chỉnh về mục tiêu, phơng h-
ớng của Chơng trình mà SGK hiện hành so với SGK cũ có sự thay đổi ở một
số đơn vị kiến thức cơ bản.
1. Nhận định chung
Hệ thống kiến thức VHDG của SGK THCS nh sau:
+ Kiến thức về các tác phẩm cụ thể.
+ Kiến thức bổ trợ về tác phẩm và thể loại (ở phần đọc thêm)
+ Kiến thức về thể loại (ở phần chú thích)
Có thể thấy rằng, Chơng trình và SGK vẫn nặng về giảng văn, kiến thức
VHDG cung cấp cho HS chủ yếu thông qua các bài giảng văn. Ngoài ra, HS
có thể thu nhận một số kiến thức bổ trợ ở trong SGK. Nhng vì phần VHDG
không có giờ tổng kết về từng thể loại, hay giờ ôn tập nên kiến thức mang
tính lí luận về VHDG không đợc thể hiện nhiều trong SGK. Có lẽ vì mục
tiêu của chơng trình THCS chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng cảm thụ tác
phẩm văn học nên việc trang bị kiến thức mang tính toàn diện, phong phú
cha có điều kiện để thực hiện.
SGK hiện hành không có bài khái quát cũng nh bài tổng kết về VHDG,
các bài giới thiệu về thể loại cũng không có. Những mảng kiến thức lí luận
và văn học sử VHDG sẽ đợc cung cấp ở những cấp học tiếp theo (lớp 10
PTTH, ở Cao đẳng và Đại học với những chuyên ngành ngữ văn học). Nhng
với những ai không có điều kiện học ở các cấp học tiếp theo đó thì kiến thức

Tầm Dang Điều đó cho thấy một bộ phận lớn VHDG các dân tộc anh em
đã bị bỏ quên, không đợc giới thiệu trong chơng trình và SGK Ngữ văn. Có
thể đây là quan điểm của ngời biên soạn nhng rõ ràng các dân tộc anh em
cũng có những thành tựu về VHDG rất đáng trân trọng và cần đợc giới thiệu
nh những bộ phận hợp thành chỉnh thể nền văn học Việt Nam (trong đó đặc
biệt quan trọng là VHDG Việt Nam).
2. Kiến thức về các thể loại văn học dân gian
2.1. Các thể loại truyện dân gian
Trong các thể loại truyện dân gian, chơng trình THCS có mặt 4 thể
loại: Truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cời, truyện ngụ ngôn. Thể loại
thần thoại không đợc đa vào vì cha có sự thống nhất trong quan niệm của
2
các nhà nghiên cứu và biên soạn SGK về thể loại này. Nh vậy, sự có mặt của
các thể loại truyện dân gian là khá đầy đủ. Số lợng tác phẩm của mỗi thể loại
có thể hình thành nên những tri thức cơ bản về từng thể loại.
a. Truyền thuyết
SGK Ngữ văn 6 tập 1 có 5 truyền thuyết : Con Rồng cháu Tiên, Thánh
Gióng, Bánh chng bánh giầy, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Sự tích Hồ Gơm. Các
truyền thuyết khá đa dạng về đề tài, chủ đề phản ánh nh: về nguồn gốc dân
tộc, truyền thống chống ngoại xâm, ca ngợi những anh hùng sáng tạo văn
hoá, đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu
Trong 5 truyền thuyết thì 4 truyện về thời đại Hùng Vơng, một truyện
về thời Hậu Lê. Thời đại Hùng Vơng là thời đại mở đầu lịch sử Việt Nam,
gắn với vấn đề nguồn gốc dân tộc và công cuộc dựng nớc, giữ nớc buổi ban
đầu của dân tộc. Chủ đề của các truyền thuyết đã bao quát đợc các vấn đề
trọng đại đặt ra với cộng đồng, dân tộc lúc bấy giờ, đó là:
- Giải thích nguồn gốc giống nòi.
- Giải thích tục làm bánh chng, bánh giầy thờ cúng ông bà
- Đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu
- ý thức và ớc mơ về ngời anh hùng chống ngoại xâm

khác. So với SGK trớc đây, SGK hiện hành ít hơn 2 truyện: Mị Châu
Trọng Thuỷ và Lê Nh Hổ. Truyền thuyết đầu là trờng hợp phức tạp cả về chủ
đề, kết cấu và t tởng tác phẩm nên việc đa ra ngoài SGK THCS là hợp lí.
Truyện thứ hai ở phần đọc thêm mang tính chất bổ sung cho kiểu truyện về
ngời tài có tài kì lạ.
b. Truyện cổ tích
SGK đa vào 5 TCT, trong đó có 2 truyện của nớc ngoài: Cây bút thần
(Trung Quốc) và Ông lão đánh cá và con cá vàng. Tác giả SGK đã lựa chọn
mỗi truyện đại diện cho một kiểu truyện tiêu biểu của TCT:
- Kiểu truyện về nhân vật đội lốt
- Kiểu truyện dũng sĩ
- Kiểu truyện nhân vật thông minh
- Kiểu truyện nhân vật có tài năng kì lạ
Trong 5 truyện đó có 4 truyện là thuộc tiểu loại TCT thần kì, 1 truyện là
TCT sinh hoạt (Em bé thông minh). Xét về khía cạnh tiểu loại, SGK không
có TCT về loài vật. Số lợng tác phẩm của SGK cũ là 10, với sự có mặt đầy đủ
của các tiểu loại.
c. Truyện cời
Truyện cời có 2 tác phẩm: Treo biển và Lợn cới áo mới, trong đó mỗi
truyện thuộc một tiểu loại truyện cời là truyện hài hớc (Treo biển) và truyện
châm biếm (Lợn cới áo mới).
Truyện Treo biển đã phê phán một cách nhẹ nhành cách ứng xử của anh
chủ quán, một ngời thiếu chủ kiến trong công việc. Tiếng cời mang tính chất
mua vui nhẹ nhàng và nó bật ra từ cả hai phía: ngời góp ý và ngời chủ quán.
Mỗi ngời góp ý đều chân thành và có lí nhng họ chỉ chú ý đến một khía
cạnh của tấm biển nên cuối cùng thì cả tấm biển đều không còn lại một chữ
nào. Qua đó, truyện muốn răn dạy con ngời phải suy xét sự việc, hiện tợng
một cách thấu đáo, toàn vẹn. Đó là lớp ý nghĩa mang tính triết học của mỗi
truyện cời mà khi nắm đợc sẽ khiến câu chuyện trở nên sâu sắc hơn.
4

d. Truyện ngụ ngôn
Thể loại ngụ ngôn có 4 truyện đợc đa vào SGK Ngữ văn 6, trong đó có
3 tác phẩm giảng văn và một tác phẩm đọc thêm (Đeo nhạc cho mèo). Đây
là những truyện ngụ ngôn khá quen thuộc, gắn với các câu thành ngữ trong
lời ăn tiếng nói của dân gian: Đeo nhạc cho mèo, ếch ngồi đáy giếng, Thày
bói xem voi Điều này khiến cho những bài học của truyện ngụ ngôn,
những lời quy châm dễ dàng đợc HS tiếp thu và những cách vận dụng thành
5
ngữ trong cuộc sống giúp cho HS củng cố kiến thức về tác phẩm ngụ ngôn
đã học.
Những bài học đạo lí, bài học ứng xử trong các truyện đó cũng khá đa
dạng và sâu sắc: phê phán những kẻ nông cạn mà lại huênh hoang (ếch ngồi
đáy giếng), khuyên con ngời xem xét sự vật một cách toàn diện (Thày bói
xem voi), phê phán những ý tởng viển vông, ham sống sợ chết và không tính
đến khả năng thực tế của mình (Đeo nhạc cho mèo); các thành viên trong tập
thể tôn trọng và hợp tác với nhau (Chân, Tay, Tai Mắt Miệng). Tuy nhiên chỉ
bài học cuối cùng trong số đó là có sự gần gũi với lứa tuổi HS lớp 6 và các
em có thể vận dụng trong thực tế nhiều cũng nh có ý nghĩa giáo dục lối
sống, cách c xử của các em. Còn những bài học khác mang tính triết học sâu
sắc, có khi vợt ra ngoài tầm nhận thức của HS. Có lẽ điều đọng lại trong các
em lại là những kiến thức ngoài thể loại: sự hấp dẫn, sinh động của thế giới
loài vật (trong Đeo nhạc cho mèo) sự hồn nhiên ngộ nghĩnh trong cuộc trò
chuyện của các bộ phận cơ thể con ngời (Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)
2.2. Ca dao, tục ngữ, chèo
a. Ca dao
SGK Ngữ văn 7, tập 1 đã lựa chọn 4 trong số những chủ đề tiêu biểu
của ca dao ngời Việt: 17 bài và 14 bài đọc thêm:
+ Tình cảm gia đình (4 bài)
+ Tình yêu quê hơng đất nớc (4 bài)
+ Những bài ca than thân (3 bài)

Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu
Chủ đề này có 4 bài trong phần đọc thêm cũng rất sâu sắc, mang đậm
tiếng nói chân thành, tình nghĩa của con ngời về tổ tiên, ông bà. Đó cũng là
các bài đã đợc học trong SGK cũ. Tuy nhiên, số lợng những bài ca dao trong
SGK cũ nhiều hơn và đa dạng hơn về nội dung cũng nh hình thức nghệ
thuật. Trong nhóm ca dao gia đình ở SGK cũ (12 bài), đề cập đến nhiều mối
quan hệ hơn (ông bà, cha mẹ, anh em, chồng vợ). Trong nhiều bài, những
dòng đầu nói về công ơn cha mẹ đối với con cái và sau đó là tình cảm của
con cái với cha mẹ (nói về thầy trò cũng nh vậy). Bố cục ấy mang tính chất
hô ứng và cũng là một đạo lí trong thực tế đời sống: lòng kính yêu biết ơn
ông bà cha mẹ của con cháu là điều tất nhiên và nó cũng bắt nguồn từ sự yêu
thơng chăm sóc của ông bà cha mẹ dành cho con cái. SGK cũ cũng có
những bài nói về tính chất quan hệ anh em, ruột thịt, dòng sau đó đề cập đến
những hành động biểu hiện cụ thể của đạo lí, của quan hệ:
Anh em nh thể chân tay
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần
Những bài ca dao nh vậy giúp HS có sự hình dung một cách đầy đủ và
cụ thể về mối quan hệ gia đình, cũng nh tình cảm, trách nhiệm của mỗi
thành viên trong gia đình với nhau. Những bài ca dao trong SGK hiện hành ít
có đợc những u điểm nh vậy. Nhu cầu giảm tải là một trong những nguyên
nhân khiến dung lợng kiến thức bị thu hẹp. Có lẽ SGK đã chọn lựa những
bài, những chủ đề gần gũi, những mối quan hệ mà tầm hiểu biết của HS
7
THCS có thể cảm nhận đợc (những bài về quan hệ, tình cảm vợ chồng ở tầm
nhận thức cao hơn).
Những bài ca dao trong SGK thờng sử dụng biện pháp so sánh: những
tình cảm, những mối quan hệ trừu tợng (công cha, nghĩa mẹ, nhớ, yêu
nhau) đợc so sánh với những sự vật lớn lao, cụ thể (núi ngất trời, biển
Đông, nuộc lạt, tay chân). Những biện pháp nghệ thuật đó đã đạt hiệu quả

lời mở đầu, lời giới thiệu trong mỗi cuộc hát, trong mỗi cuộc gặp gỡ, cho
nên trong mỗi bài ca dao về chủ đề quê hơng đất nớc thấp thoáng bóng của
những chàng trai, cô gái. Bức tranh cảnh của quê hơng đất nớc làm nền cho
những cuộc trò chuyện, đối đáp của họ, qua đó, mỗi ngời bộc lộ niềm tự
hào, tình yêu với quê hơng đất nớc.
8
Bên cạnh đó, những bài ca dao này gắn với địa danh và lịch sử. Cho
nên, trong mỗi hình ảnh, mỗi địa danh chứa đựng bề dày của lịch sử, của
truyền thống địa phơng. SGK Ngữ văn 7, tập 1 cũng đã chú thích khá đầy đủ
những địa danh, những sự kiện lịch sử trong các bài
4
. Việc ghi nhớ những sự
kiện đó sẽ giúp HS hiểu các bài ca dao và có tác dụng giáo dục những truyền
thống quý báu, những nét đẹp của mỗi vùng đất mà ca dao đề cập đến.
Về chủ đề than thân: Đây là một trong những chủ đề lớn nhất của ca
dao ngời Việt, gắn liền với bản chất trữ tình của ca dao: là lời tâm tình, bộc
lộ, giãi bày tình cảm của ngời lao động. Những bài ca dao này ngoài ý
nghĩa than thân, đồng cảm với cuộc đời đau khổ, đắng cay của ngời lao
động, những câu hát này còn có ý nghĩa phản kháng, tố cáo xã hội
5
.
SGK cũ gọi đó là ca dao về: Thân phận ngời lao động nghèo khổ trong
xã hội cũ. Trong 8 bài của SGK cũ, sách Ngữ văn 7, tập 1 chỉ giữ lại một bài
ca dao (Bài số 4. Thơng thay thân phận con tằm), đa vào hai bài mới:
+ Nớc non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn cho gầy cò con
+ Thân em nh trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

từng nhà trờng.
Chú thích
1. Tầm Vu (1967): T tởng chủ yếu của ngời Việt thời cổ qua những truyện
đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết. Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn
học. NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1999, trang 107
2. Ngữ văn 7 Tập 1 (2004- In lần thứ 2). NXB Giáo dục. H, trang 40
3. Ngữ văn 7 Tập 1 Sđd. Trang 40
4. Ngữ văn 7 Tập 1 Sđd. Trang 38-39
5. Ngữ văn 7 Tập 1 Sđd. Trang 49
6. Ngữ văn 7 Tập 1 Sđd. Trang 53
7. Ngữ văn 7 Tập 2 (2004- In lần thứ 2). NXB Giáo dục. H, trang 111
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status