Gánh nặng bệnh tật
và chấn thương
ở Việt Nam 2008
NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC
HÀ NỘI - 2011 Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang ii
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tổ chức Atlantic Philanthropies đã tài trợ cho dự án
“Cung cấp các bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử vong cho quá trình hoạch định
chính sách y tế ở Việt Nam” (dự án VINE). Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn
thương ở Việt Nam 2008” là một cấu phần của dự án VINE.
Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang iii
MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT 1
1. GIỚI THIỆU 3
2. MỤC TIÊU 4
2.1. MỤC TIÊU CHUNG 4
2.2. MỤC TIÊU CỤ THỂ 4
3. PHƯƠNG PHÁP 5
3.1. ƯỚC TÍNH TỬ VONG 5
3.2. SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TỬ VONG SỚM (YLL) 8
3.3. SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TÀN TẬT (YLD) 9
3.4. CÁC NHÓM BỆNH HOẶC CHẤN THƯƠNG 9
3.5. DÂN SỐ 11
3.6. CHIẾT KHẤU 11
3.7. TRỌNG SỐ BỆNH TẬT 12
4.9. BỆNH MẠCH VÀNH (ISCHEMIC HEART DISEASE) 24
4.10. ĐỘT QỤY 25
4.11. BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH (COPD) 26
4.12. BỆNH THOÁI HÓA KHỚP (OSTEOARTHRITIS) 26
4.13. CHẤN THƯƠNG 27
5. KẾT QUẢ 29
5.1. TỬ VONG VÀ KỲ VỌNG SỐNG 29
5.2. GÁNH NẶNG DO TỬ VONG Ở VIỆT NAM (YLL) 30
5.3. SỐ NĂM SỐNG TÀN TẬT (YLD) 34
5.4. SỐ NĂM SỐNG TÀN TẬT HIỆU CHỈNH (DALYs) 39
5.5. MÔ HÌNH GÁNH NẶNG BỆNH TẬT THEO TUỔI VÀ GIỚI 46
5.6. CÁC BỆNH VÀ CHẤN THƯƠNG CỤ THỂ 53
Các bệnh truyền nhiễm 54
Ung thư 56
Đái tháo đường 59
Các bệnh tâm thần kinh 60
Các khuyết tật về giác quan 62
Bệnh tim mạch 64
Bệnh cơ xương khớp 67
Chấn thương 69
BÀN LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Hình 7. YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 32
Hình 8. YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 32
Hình 9. YLL của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 33
Hình 10. YLL của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 33
Hình 11. YLD của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008 34
Hình 12. YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008 35
Hình 13. YLD của các phân nhóm bệnh ở nam, Việt Nam 2008 35
Hình 14. YLD của các phân nhóm bệnh ở nữ, Việt Nam 2008 36
Hình 15. YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 36
Hình 16. YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 37
Hình 17. YLD của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 37
Hình 18. YLD của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 38
Hình 19. DALYs của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008 40
Hình 20. Tỷ lệ YLL và YLD trong tổng gánh nặng bệnh tật theo giới, Việt Nam 2008 40
Hình 21. DALYs của các phân nhóm bệnh, Việt Nam 2008 41
Hình 22. DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008 41
Hình 23. DALYs của các phân nhóm bệnh ở nam, Việt Nam 2008 42
Hình 24. DALYs của các phân nhóm bệnh ở nữ, Việt Nam 2008 42
Hình 25. DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 43
Hình 26. DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 44
Hình 27. DALYs của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 44
Hình 28. DALYs của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 45 Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang vi Hình 29. DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 0-14, Việt Nam 2008 47
Hình 51. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các khuyết về giác quan 63
ở nữ giới, Việt Nam 2008 63
Hình 52. DALYs của các bệnh tim mạch theo giới, Việt Nam 2008 64
Hình 53. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tim mạch 65
ở nam giới, Việt Nam 2008 65
Hình 54. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tim mạch 65
ở nữ giới, Việt Nam 2008 65
Hình 55. Gánh nặng của các bệnh đường hô hấp theo giới, Việt Nam 2008 66
Hình 56. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh đường hô hấp 66
ở nam giới, Việt Nam 2008 66
Hình 57. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh đường hô hấp 67
ở nữ giới, Việt Nam 2008 67
Hình 58. Gánh nặng bệnh tật của các bệnh cơ xương khớp theo giới, Việt Nam 2008 67
Hình 59. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh cơ xương khớp 68
ở nam giới, Việt Nam 2008 68
Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang vii
Hình 60. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh cơ xương khớp 68
ở nữ giới, Việt Nam 2008 68
Hình 61. DALYs của các chấn thương không chủ định theo giới, Việt Nam 2008 69
Hình 62. Gánh nặng do tử vong sớm và gánh nặng do tàn tật của các chấn thương không chủ định,
Việt Nam 2008 70
Hình 63. Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các các chấn thương không chủ định ở nam giới,
BoD Gánh nặng bệnh tật (Burden of Disease)
COPCORD Chương trình định hướng cộng đồng kiểm soát bệnh thấp
khớp (Community-Oriented Program for the Control of
Rheumatic Disease)
COPD Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
DALY Năm sống tàn tật hiệu chỉnh (Disability-adjusted life years)
DW Trọng số bệnh tật (disability weight)
GBD study Nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu (Global Burden
of Disease study)
HIV/AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
ICD Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế
PTO method Phương pháp Hoán đổi về con người (Person Trade-Off
method)
VA Điều tra nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp
phỏng vấn (Verbal autopsy)
VINE Project Dự án “Cung cấp bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử
vong cho quá trình hoạch định chính sách y tế ở Việt
Nam”
VMIS Điều tra Chấn thương Liên trường ở Việt Nam (Vietnam
Multi-center Injury Survey)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
YLD Số năm sống tàn tật (Years lived with disability)
YLL Số năm sống mất đi do tử vong sớm (Years of life lost)
Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 1
ở nam và 81% trong tổng gánh nặng do tàn tật ở nữ. Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 2
GÁNH NẶNG BỆNH TẬT
Tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 là 12,3 triệu DALYs, trong đó gánh
nặng bệnh tật ở nam giới chiếm 56% tổng gánh nặng.
Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm chiếm 56% tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam,
60% tổng gánh nặng bệnh tật ở nam và 50% tổng gánh nặng bệnh tật ở nữ.
Gánh nặng bệnh tật do các bệnh không truyền nhiễm chiếm 66% tổng gánh nặng
bệnh tật ở nam và 77% tổng gánh nặng bệnh tật ở nữ.
Chấn thương không chủ định (18%), các bệnh tim mạch (17%) và các bệnh tâm thần
kinh (14%) là các nhóm nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật ở nam giới trong
khi ở nữ giới các nhóm nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật là các bệnh tâm
thần kinh (22%), các bệnh tim mạch (18%) và ung thư (12%).
Ở nam giới, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật (10%), tiếp đến là
tai nạn giao thông (8%) và các rối loạn do lạm dụng rượu (5%).
Ở nữ giới, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật (12%), tiếp
đến là đột quỵ (10%) và khiếm thị (4%).
Nhiễm khuẩn hô hấp dưới (viêm phổi) là nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật
ở trẻ em, chiếm 11% tổng gánh nặng bệnh tật.
Tai nạn giao thông và HIV/AIDS chiếm một phần tư tổng gánh nặng bệnh tật ở nam
giới độ tuổi 15-44. Trầm cảm và tai nạn giao thông chiếm 32% tổng gánh nặng bệnh
tật ở nữ giới độ tuổi này.
Phát triển Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 1993. Mất mát về sức khỏe được đo
lường bằng chỉ số DALY - năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật (sau đây chúng tôi
sẽ gọi là Năm sống tàn tật hiệu chỉnh) cho phép đo lường kết hợp gánh nặng do tử vong
và tàn tật.
Về phương diện chính sách, chỉ số DALY có ưu điểm là cho phép đo lường tình trạng
sức khỏe của quần thể bằng một chỉ số tổng hợp cả tác động của tử vong và tàn tật lên
sức khỏe. Điều này cho phép so sánh quy mô của các vấn đề sức khỏe khác nhau và so
sánh chi phí-hiệu quả của các can thiệp cho một vấn đề sức khỏe hay cho một số bệnh.
Thông tin về quy mô của các vấn đề sức khỏe hiện tại và trong tương lai, cùng với thông
tin về khả năng đáp ứng dịch vụ y tế bằng các can thiệp có tính chi phí - hiệu quả là
những thông tin rất hiệu quả dành cho các nhà hoạch định chính sách.
Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 4
Mục đích của Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” là
đo lường gánh nặng của bệnh và chấn thương ở Việt Nam. Nghiên cứu này áp dụng
phương pháp của nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu” (GBD). Báo cáo này
cung cấp các thông tin dịch tễ học nhất quán cho một danh sách bệnh và chấn thương
ở Việt Nam năm 2008.
Theo sau báo cáo này sẽ là báo cáo về gánh nặng bệnh tật của một số yếu tố nguy cơ.
Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” là một cấu phần của
dự án “Cung cấp các bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử vong cho quá trình hoạch
định chính sách y tế ở Việt Nam” (VINE) trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Y tế, trường
Đại học Y Hà Nội, trường Đại học Y tế công cộng và Đại học Queensland-Úc. Các nghiên
Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” chủ yếu sử dụng
phương pháp của nghiên cứu GBD. Nghiên cứu GBD lần đầu tiên được thực hiện vào
đầu những năm 1990 với mục tiêu đo lường gánh nặng của bệnh và chấn thương của
các quần thể khác nhau và xác định các vấn đề sức khỏe chính trên toàn cầu [1].
Phương pháp của nghiên cứu cho phép lượng hóa tất cả các tình trạng bệnh/chấn
thương bằng một chỉ số tổng hợp gọi là chỉ số DALY.
DALYs của một bệnh hay tình trạng sức khỏe được tính bằng tổng số năm sống mất đi
do tử vong sớm (YLL) trong quần thể và số năm sống “khỏe mạnh” mất đi do tàn tật
(hoặc số năm phải sống với bệnh hay tình trạng sức khỏe đó) (YLD) của các trường hợp
mới mắc bệnh hay tình trạng sức khỏe đó:
DALY = YLL + YLD
DALYs trong nghiên cứu GBD được chiết khấu ở mức 3% và áp dụng trọng số tuổi trong
khi DALYs của nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” cũng
được chiết khấu nhưng không áp dụng trọng số tuổi. Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi xung
quanh việc áp dụng trọng số tuổi với ý nghĩa gán cho những người ở độ tuổi lao động có
trách nhiệm xã hội cao hơn trẻ em và người già [2].
Nghiên cứu này sử dụng kết hợp trọng số bệnh tật (DW) của nghiên cứu GBD và nghiên
cứu của Hà Lan [3], trong đó nghiên cứu của Hà Lan tính toán DW chi tiết hơn cho các
mức độ trầm trọng của bệnh.
3.1. ƯỚC TÍNH TỬ VONG
Số liệu tử vong theo nguyên nhân được tính dựa trên điều tra đại diện quốc gia về
nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp xác định nguyên nhân tử vong bằng
phương pháp phỏng vấn (VA) thực hiện tại 192 xã của 16 tỉnh thành đại diện cho 5 vùng
kinh tế - xã hội của Việt Nam là Thái Nguyên, Hòa Bình, Sơn La, Hà Nội, Quảng Ninh,
Dự án VINE
kiểm; (iii) các câu hỏi mở để tìm ra các thông tin về tình trạng ốm đau/bệnh tật dẫn đến tử
vong; và (iv) thông tin về việc tiếp cận dịch vụ y tế trong khoảng thời gian ốm đau trước
khi chết. Bản tiếng Anh của bộ câu hỏi đã được dịch ra tiếng Việt và thử nghiệm trước
khi sử dụng chính thức cho nghiên cứu. Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 7
Ở mỗi xã được chọn, 2 điều tra viên được tuyển là nhân viên trạm y tế (y tá hoặc nữ hộ
sinh) và cán bộ dân số. Điều tra viên được tập huấn trong 3 ngày về các kỹ năng phỏng
vấn điều tra nguyên nhân tử vong. Quá trình tập huấn tập trung vào kỹ thuật làm dịu nỗi
đau và các kỹ năng truyền thông để động viên người chăm sóc chính của người đã mất
tham gia vào cuộc phỏng vấn và đưa ra các câu trả lời chính xác, đầy đủ. Ngoài ra, điều
tra viên cũng được tập huấn đầy đủ các nội dung của bộ câu hỏi, mục đích chính của
từng câu hỏi và hướng dẫn cụ thể cách ghi lại các câu trả lời. Phương pháp tập huấn
gồm có thuyết trình, thảo luận nhóm, đóng vai và thực hành. Trong quá trình tập huấn
cũng đề cập đến việc các kiến thức về y khoa của điều tra viên có thể gây nhiễu/sai lệch
kết quả phỏng vấn và hướng dẫn cụ thể cách hỏi và ghi lại câu trả lời cho từng câu hỏi là
phương pháp để hạn chế yếu tố nhiễu này.
Quá trình điều tra nguyên nhân tử vong được điều phối bởi 5 trường đại học Y Dược là
Đại học Y Dược Thái Nguyên và Đại học Y Hà Nội ở miền Bắc, Đại học Y Dược Huế ở
miền Trung, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Y Dược Cần Thơ ở
miền Nam. Để thuận tiện cho việc chuẩn bị và điều phối, 16 tỉnh thành được chia thành 5
cụm (Bảng 1) tương ứng với vị trí địa lý của mỗi trường. Mỗi trường chịu trách nhiệm thu
thập thông tin về nguyên nhân tử vong, thẩm định lại phiếu điều tra để xác định nguyên
nhân tử vong và mã hóa nguyên nhân tử vong vào các nhóm. Điều tra hoàn thành trong
6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2009.
(54% đối với tử vong ở nam và 69% đối với tử vong ở nữ) có vẻ không hợp lý. Vì vậy,
chúng tôi sử dụng ước lượng tử vong trẻ em và khả năng tử vong ở độ tuổi 15-59 của
nghiên cứu GBD mới [9, 10]. Ước lượng tử vong của Việt Nam năm 2008 được tính
theo phương pháp hồi quy các số liệu tử vong hiện có trên toàn cầu từ năm 1950.
Chúng tôi cho rằng những ước lượng này là đáng tin cậy nhất trong các số liệu hiện
có. Chúng tôi sử dụng chương trình phần mềm ModMatch của nghiên cứu GBD để
đưa các số liệu về tử vong trẻ em và người trưởng thành vào bảng sống. Sau đó mô
hình nguyên nhân tử vong theo tuổi và giới của nghiên cứu VA được áp dụng đối với
ước lượng tử vong của tất cả các nguyên nhân trong bảng sống để có được số liệu tử
vong theo nguyên nhân của toàn quốc.
3.2. SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TỬ VONG SỚM (YLL)
YLL là cấu phần tử vong của DALYs và được tính theo kỳ vọng sống chuẩn của mỗi tuổi.
YLL ở các trường hợp tử vong tại mỗi nhóm tuổi theo giới được ước tính từ tuổi trung
bình khi tử vong và kỳ vọng sống chuẩn tại tuổi trung bình khi tử vong ở nhóm tuổi đó.
Công thức cơ bản để tính YLL là:
YLL = N * L Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 9
Trong đó N là số trường hợp tử vong theo nhóm tuổi và giới và L là kỳ vọng sống chuẩn theo
nhóm tuổi và giới. Với tỷ lệ chiết khấu 3%, công thức tính sẽ là:
YLL = N * (1-e
-0.03L
Trong nghiên cứu của Việt Nam, các bệnh/chấn thương được chia làm 3 nhóm lớn, 22
phân nhóm bệnh hoặc chấn thương và các bệnh hoặc chấn thương cụ thể theo đúng cấu
trúc của danh sách bệnh và chấn thương của GBD (Phụ lục 1). Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 10
Báo cáo này mô tả phương pháp đã được sử dụng để tính gánh nặng do tàn tật (YLD)
của 42 bệnh và chấn thương theo các giai đoạn hoặc hậu quả bệnh. Các bệnh và chấn
thương được lựa chọn trên cơ sở được cho là đóng góp đáng kể vào tổng gánh nặng do
tàn tật dựa trên xếp hạng của nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật (BoD) tại Thái Lan năm
1999 [11] và các số liệu hiện có ở Việt Nam. Danh sách các bệnh và chấn thương được
lựa chọn cho nghiên cứu này chưa được đầy đủ, do đó kết quả của một số tình trạng
bệnh hoặc chấn thương phải ngoại suy do hạn chế về số liệu hiện có ở Việt Nam.
Ngược lại, ước tính gánh nặng bệnh tật do tử vong được cho là khá đầy đủ trong điều
kiện hạn chế của việc thu thập số liệu về nguyên nhân tử vong hiện nay. Do vậy, để hoàn
thiện bức tranh toàn cảnh về tổng gánh nặng bệnh tật của Việt Nam, chúng tôi sử dụng
một số giả định sau đây để tính gánh nặng do tàn tật của 41 bệnh và chấn thương không
được phân loại riêng:
Đối với các bệnh/chấn thương có tỷ lệ tử vong cao, chúng tôi sử dụng tỉ số YLD/YLL
của các nhóm bệnh liên quan được phân loại riêng trong danh sách để tính gánh
nặng do tàn tật của các bệnh hoặc chấn thương đó.
YLD cho một số tình trạng bệnh/chấn thương ở Việt Nam được tính bằng cách nhân tỉ
số YLD/YLL của bệnh/chấn thương đó trong nghiên cứu BoD của Thái Lan năm 1999
với YLL của Việt Nam. Chúng tôi sử dụng phương pháp ngoại suy này đối với suy
dinh dưỡng, rối loạn nội tiết, bệnh thấp tim (rheumatic heart disease), bệnh tim do
tăng huyết áp (hypertensive heart disease), bệnh tim do viêm (inflammatory heart dis-
GBD áp dụng mức chiết khấu 3% đối với những năm sống mất đi trong tương lai để ước
tính giá trị hiện tại của những năm sống đó. Ví dụ, khi áp dụng chiết khấu 3%, một năm
sống khỏe mạnh của 10 năm sau có giá trị thấp hơn 24% giá trị của một năm sống khỏe
mạnh ở hiện tại.
Áp dụng chiết khấu cho những lợi ích trong tương lai là phương pháp chuẩn được sử
dụng trong các phân tích kinh tế. Việc áp dụng chiết khấu đối với DALY trong tính toán
sức khỏe dân số [12] nhằm đảm bảo:
Nhất quán với phương pháp đo lường kết quả về sức khỏe trong các phân tích chi
phí - hiệu quả.
Tránh việc gán trọng số quá lớn cho các trường hợp tử vong ở lứa tuổi trẻ (nếu
không áp dụng trọng số tuổi và chiết khấu thì một trường hợp tử vong ở 0 tuổi của
nam giới đóng góp YLL nhiều hơn một trường hợp tử vong ở tuổi 25 là 44% và
một trường hợp tử vong ở tuổi 40 là 97%; nếu áp dụng chiết khấu 3% thì một
trường hợp tử vong sơ sinh chỉ đóng góp YLL nhiều hơn 12% so với một trường
hợp tử vong ở 25 tuổi và 29% so với một trường hợp tử vong ở 40 tuổi).
Tránh được những nghịch lý trong lựa chọn đầu tư cho nghiên cứu hay cho loại
trừ một bệnh nào đó: giả dụ việc đầu tư cho nghiên cứu hoặc cho loại trừ một Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 12
bệnh nào đó có cơ hội thành công, nếu không áp dụng chiết khấu thì tất cả kinh
phí hiện tại sẽ được cho là nên đầu tư vào bệnh đó bởi lợi ích tương lai của việc
đầu tư này là vô hạn.
Chiết khấu có tác động rất lớn đến việc ước tính quy mô của kết quả sức khỏe. Chiết
khấu làm thay đổi giá trị của các trường hợp tử vong ở các độ tuổi khác nhau. Vì vậy,
việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu nào cho kết quả về sức khỏe, cho dù là do yêu cầu về
Trọng số bệnh tật của tình trạng liệt hai chi dưới là 0,57 không có nghĩa một người trong
tình trạng này là “chết một nửa” hay giá trị xã hội của người đó thấp hơn của những
người khác. Nó chỉ có nghĩa xã hội đánh giá một năm sống với tình trạng mù lòa (DW
0,43) được chấp nhận hơn so với một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới (DW 0,57)
và một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới được xã hội chấp nhận hơn so với một
năm sống liên tục trong tình trạng trầm cảm nặng (DW 0,76). Nó cũng có nghĩa rằng xã
hội chấp nhận một người sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong hơn là sống 1
năm với tình trạng liệt hai chi dưới và sau đó tử vong. Bên cạnh đó, xã hội chấp nhận
một người sống 3 năm với tình trạng liệt hai chi dưới rồi tử vong hơn là sống 1 năm hoàn
toàn khỏe mạnh rồi tử vong (3x (1-0,57) = 1,3 năm sống “khỏe mạnh” lớn hơn 1 năm
sống trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh).
Trọng số bệnh tật sử dụng trong nghiên cứu BoD được xác định bằng phương pháp
“hoán đổi về con người” (PTO) bởi nó gần với việc đo lường sự chấp nhận của xã hội
hơn so với các phương pháp khác. Khi sử dụng phương pháp này, trọng số bệnh tật của
22 tình trạng sức khỏe được các nhóm chuyên gia y tế trên khắp thế giới xác định và sau
đó là một quá trình thảo luận cho phép các thành viên của nhóm chỉnh sửa những đánh
giá ban đầu của họ sau khi nghe phản biện từ các thành viên khác. Đã có tranh cãi về sự
chấp nhận đối với các tình trạng sức khỏe là khác nhau ở các quần thể dân số khác nhau
về niềm tin văn hóa, khái niệm về sức khỏe, kỳ vọng về sức khỏe cũng như sự khỏe
mạnh. Tuy nhiên có rất ít bằng chứng chứng tỏ cho điều này [17]. Nghiên cứu GBD thực
hiện nghiên cứu về sự chấp nhận đối với các tình trạng sức khỏe trên 10 quốc gia và kết
quả rất ngạc nhiên là có sự nhất quán khá cao giữa trọng số bệnh tật cho 22 tình trạng
sức khỏe với các mức độ trầm trọng khác nhau [16].
Chúng tôi sử dụng trọng số sẵn có hoặc được tính toán lại từ hai nguồn: nghiên cứu
GBD và trọng số của Hà Lan sử dụng trong nghiên cứu của Úc [3, 18]. Nghiên cứu của
Hà Lan chỉ cho trọng số bệnh tật của một số tình trạng sức khỏe nhưng được xác định
cho các giai đoạn và mức độ trầm trọng của tình trạng sức khỏe. Chính vì vậy, trọng số
bệnh tật của Hà Lan có thể áp dụng trong các mô hình bệnh chi tiết để ước tính YLD.
Trọng số bệnh tật của Hà Lan cũng có ưu điểm là chúng định nghĩa một giai đoạn hay
mức độ trầm trọng của tình trạng sức khỏe theo những mô tả chuẩn sử dụng các mức
Xét ở góc độ công bằng, trọng số tuổi là không thể chấp nhận được bởi các
năm sống phải có giá trị như nhau;
Trọng số tuổi chưa được kiểm chứng trên quần thể dân số lớn;
Trọng số tuổi không phản ánh giá trị xã hội; và Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 15
Sử dụng trọng số tuổi chỉ làm phức tạp thêm phương pháp tính toán gánh nặng
bệnh tật và làm nó trở nên khó hiểu trong khi kết quả cuối cùng thay đổi rất không
đáng kể.
Ngược lại, có một số ý kiến cho rằng trọng số tuổi bản thân nó đã mang tính công bằng
bởi mỗi cá nhân đều có thể sống qua các lứa tuổi khác nhau và nó thực chất đã phản
ánh các ưu tiên được chấp nhận về mặt xã hội [20]. Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật và
chấn thương của Việt Nam sử dụng trọng số tuổi đồng nhất có nghĩa một năm sống khỏe
mạnh có giá trị như nhau ở tất cả các lứa tuổi.
3.9. TỶ LỆ MỚI MẮC VÀ THỜI GIAN MẮC
Bước đầu tiên khi tính toán YLD là xác định số trường hợp mới mắc của một bệnh hoặc
loại chấn thương nào đó trong năm nghiên cứu và ước tính hay mô hình hóa thời gian
mắc bệnh hoặc chấn thương và đôi khi xây dựng mô hình của bệnh/chấn thương theo
các giai đoạn và mức độ trầm trọng. Với một số bệnh/chấn thương, ta có thể lấy số liệu
mới mắc từ các hệ thống ghi nhận bệnh, các số liệu thường kỳ hay các nghiên cứu dịch
tễ học, tuy nhiên đa số bệnh/chấn thương chỉ có số liệu hiện mắc. Ngoài ra, ta cũng
thường phải ước tính thời gian mắc bệnh trung bình thông qua các số liệu khác như tỷ lệ
khỏi bệnh hay tỷ lệ tử vong. Đối với những bệnh/chấn thương đó, chúng tôi sử dụng
chết/mắc và tỷ lệ khỏi bệnh (để tính ra thời gian mắc bệnh) sử dụng trong tính toán YLD
tạo ra rất ít sự khác biệt về tổng YLD ở các nhóm tuổi nếu mô hình hiện mắc không thay
đổi. Tuy nhiên khi áp dụng chiết khấu thì phức tạp hơn, các bệnh có tỷ lệ mới mắc thấp
và thời gian mắc bệnh dài bị chiết khấu nhiều hơn những bệnh có tỷ lệ mới mắc cao
nhưng thời gian mắc bệnh ngắn.
Đối với những giai đoạn bệnh có thời gian ngắn như giai đoạn hồi phục sau phẫu thuật,
thay vì sử dụng DISMOD2, chúng tôi sử dụng các giả định về thời gian mắc trong các y
văn hoặc theo ý kiến của chuyên gia. Dự án VINE
Trường Đại học Y tế Công cộng Trang 17
4. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BỆNH VÀ CHẤN THƯƠNG
4.1. LAO
Chúng tôi sử dụng số liệu thường niên về lao từ năm 2002 đến năm 2008 của Bệnh
viện Phổi Trung Ương (số liệu này cũng được sử dụng trong hệ thống dữ liệu Lao
toàn cầu của WHO) để tính số mới mắc lao. Do chỉ có số mới mắc AFB+ theo tuổi và
giới, chúng tôi áp dụng mô hình theo tuổi và giới của AFB+ cho các trường hợp mới
mắc lao phổi (bao gồm AFB+ và AFB-) và lao ngoài phổi.
YLD của lao được tính cho 6 nhóm: điều trị và khỏi bệnh, điều trị và tái phát, điều trị
nhưng không khỏi bệnh, không được điều trị và tử vong, không được điều trị nhưng tự
hồi phục và không được điều trị dẫn đến lao mãn tính. Theo một nghiên cứu quần thể ở
Việt Nam, có 20% số trường hợp lao không được ghi nhận [21]. Do không có số liệu của
Việt Nam, chúng tôi giả định giống giả định trong nghiên cứu BoD của Thái Lan rằng tỷ lệ