PHÒNG GD & ĐT HUYỆN CƯ KUIN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường: THCS Nguyễn Đình Chiểu Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC HỌC SINH
QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
I) Lý do chọn đề tài:
Ngay từ những ngày đầu tiên bước đến trường cấp I, bản thân
đã ham thích những con số cùng với các phép toán công, trừ, nhân,
chia , vì tôi cảm thấy rằng nó rất gần gũi với mình trong sinh hoạt,
trong đời sống hằng ngày. Qua lời giảng của Thầy về các phép
toán bằng những ví dụ thực tế hình như đã khắc sâu trong tôi.Rồi
ngày tháng trôi đi, các phép toán, các tính chất, các định lý cũng
khó dần theo lớp học. Với những bài toán, câu hỏi mang nội dung
thực tế gắn liền vào từng bài dạy, không chỉ nắm bắt về kiến thức
toán học mà còn được giáo dục về nhân cách con người.
Có phải chăng đó là do phương pháp dạy của Thầy hay là do
một chút sở thích riêng về môn Toán đã cuốn hút tôi như vậy.
Cho đến lúc là sinh viên ở giảng đường Cao Đẳng đã đúc kết
thêm cho tôi những kinh nghiệm về giáo dục học sinh qua dạy học
môn Toán. Nó như những tư liệu đáng quý cô đọng mãi trong tâm
trí tôi, những điều đó như ngọn lửa trong lòng thôi thúc tôi, tiếp
sức mạnh cho bản thân.
Rồi cái ngày ấy cũng đã đến, khi cầm tờ quyết định trong
tay , lòng tôi không khỏi cái cảm giác bồn chồn lo sợ. Muôn vàn
câu hỏi cứ hiển hiện trong tôi, liệu khi nhận trách nhiệm, là một
người giáo viên dạy bộ môn Toán tôi có thể hiện được những điều
mà khi còn ngồi dưới mái trường đã được thầy tôi thể hiện. Quả
thật đây là câu hỏi không dễ dàng trả lời chút nào. Với những bở
ngỡ ban đầu khi đứng trên bục giảng, tôi thấy còn nhiều thiếu sót
qua mỗi gìơ dạy. Trong suy nghĩ, trong dự định kế hoạch là như
thế, xong khi vào thực tế thì không phải lúc nào cũng như ý muốn.
=1 (a
≠
0) phải chỉ cho học sinh thấy được lý do thực
tế nào đưa đến quy ước toán học đó.
Trong qúa trình dạy Toán cần phải làm rỏ nguồn gốc thực
tiển của toán học, chẳng hạn khi dạy đến số tự nhiên, phải nêu
được số tự nhiên ra đời là do nhu cầu “đếm”. Hình học xuất hiện là
do nhu cầu đo đạc lại ruộng đât sau những trận lũ lụt bên bờ sông
Nil ( Ai Cập).
Làm rõ sự phản ảnh thực tiển của toán học, chẳng hạn khái
niệm đồng dạng phản ảnh những hình có cùng hình dạng nhưng
khác nhau về độ lớn. Ví dụ : như các lá cây của một loại cây,
những đồ vật sử dụng – trang trí cùng dạng nhưng kích thước khác
nhau, để phù hợp với không gian ngôi nhà ( bàn, ghế, tủ…)
Làm rỏ những ứng dụng thực tiễn của toán học qua các bài
dạy: ứng dụng của hệ thức lượng trong tam giác vuông để tính các
đại lượng …( độ cao của những vật mà ta không tới được tận đỉnh
như cột điện, cây cao….; khoảng cách giữa hai điểm mà chỉ có thể
đến được một phía). Cần cho học sinh tiếp cận với những bài toán
có nội dung thực tiễn trong khi học lý thuyết cũng như bài tập. Khi
dạy về kiến thức : Qua 3 điểm không thẳng hàng cho ta một tam
giác xác định , thể hiện qua các câu ca dao xưa :
“ Dù ai nói ngã nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân.”…
Không những mang kiến thức toán học vào thực tiễn mà qua
đó giáo dục cho học sinh phải xác định lập trường tư tưởng vững
vàng kiên định, không lay chuyển trong bất kỳ tình huống nào khi
đã xác định đúng một vấn đề nào đó.
Để thể hiện kiến thức toán học có mối liên hệ chặt chẽ với
thực tiễn ,bằng kiến thức toán học giải thích các câu ca dao :
a a b b
b
= − − = ≠
( )
a b b= + −
Làm cho học sinh có thói quen nhìn nhiều đối tượng toán học
khác nhau dưới quan điểm thống nhất ( trong vận động).
Ví dụ như : Hàm số ; số đo diện tích
→
có chung một cấu
trúc “ánh xạ” .
A
B
Làm cho học sinh có thói quen đi tìm mối liên hệ giữa các mặt ,
các yếu tố của các đối tượng toán học :Các đại lượng chi phối mối
quan hệ giữa đường thẳng và đường tròn là bán kính R và khoảng
cách từ tâm O đến đường thẳng.
Làm cho học sinh có thói quen xác định khi nào , trong trường hợp
nào thì mệnh đề toán học là chân thực (điều kiện tồn tại).
Chẳng hạn : Hàm số y =
2
2
1x −
chỉ xác định (tồn tại) ; với
1x
∀ ≠ ±
.
Phương trình a + x = b luôn có nghiệm trong Z nhưng không
phải như vậy trong N .
Giờ đây các em đã trưởng thành và một số em đã trở thành những
hạt nhân có ích cho xã hội. Còn những em đã có động lực học tập
ngay từ khi ở dưới mái trường giờ đay cũng đã thành đạt hơn.
Nhìn lớp lớp học sinh vững vàng trên bước đường tương lai
của mình, lòng tôi cảm thấy sung sướng, tự hào. Qua điều đó như
có một sức mạnh thôi thúc tôi càng cố gắng, tâm huyết với nghề
hơn , để trở thành một giáo viên tốt được nhiều học sinh tin yêu và
kính phục trong những năm còn lại. Mặc dù vậy qua quá trình công
tác với kinh nghiệm tôi có và những kết quả đạt được tôi vẫn mong
muốn hy vọng sự góp ý của đồng nghiệp, của bạn đọc cho tôi
những kinh nghiệm cao hơn, chất lượng hơn ở những năm kế tiếp.
Hết
EaBhôk, ngày 28 tháng 02 năm 2009
Người viết
VÕ THỊ THUỲ HƯƠNG