PHÂN TÍCH ĐỀ, LẬP DÀN Ý TRONG VĂN NGHỊ LUẬN - Pdf 15

PHÂN TÍCH ĐỀ, LẬP DÀN Ý TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
A. Phân tích đề, tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ đề, chú ý từng từ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ nhữ, nghĩa
tường minh, nghĩa hàm ẩn của câu, đoạn. Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương
quan giữa các vế: song song, chính phụ, nhân quả, tăng tiến, đối lập
- Nhiệm vụ của phân tích đề là phải xác định cho được ba yêu cầu sau đây:
* Vấn đề cần nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữa các
ý như thế nào?
* Sử dụng thao tác lập luận gì là chính? Đề học sinh giỏi thường yêu cầu sử dụng
tổng hợp các thao tác, nhưng còn tùy thuộc vào lĩnh vực kiến thức mà thiên về
thao tác nào là chính. Nếu liên quan đến tác phẩm thì chủ yếu phân tích - chứng
minh, nếu liên quan đến lí luận văn học thì chủ yếu giải thích - bình luận
* Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết: tác gia, trào lưu, giai đoạn, thời kỳ văn
học; trong nước hay thế giới.
Đây là nhiệm vụ đầu tiên trước khi làm bài có ý nghĩa quyết định đến chất lượng
bài viết, thế nhưng nhiều h.s. chưa ý thức được vai trò của khâu tìm hiểu đề này.
Đôi khi h.s. có đầu tư đúng mức nhưng vẫn không xác định đủ và đúng yêu cầu
của đề ra. Bởi lẽ, ở dạng đề tường minh các em thường có tâm lý chủ quan dẫn
đến hiểu chưa đầy đủ yêu cầu và định hướng của đề bài, còn có lý do là kiến thức
nền tảng chưa vững chắc dẫn đến việc tổ chức lập luận còn lỏng lẽo, thiếu ý, thừa
ý; ở dạng đề hàm ẩn nếu thiếu đầu tư suy nghĩ thì việc xác định luận đề rất khó
khăn, nếu không cẩn thận sẽ dẫn đến tình trạng chệch hướng, thậm chí lạc đề. Vậy
không nên phỏng đoán rồi viết ẩu. Cần phải đầu tư thích đáng cho khâu này. Dạng
đề hàm ẩn thường liên quan đến vấn đề lý luận, dĩ nhiên trên cơ sở phân tích
những tác phẩm cụ thể. Nếu đề có cách nói bóng bẩy thì phải xem xét nó thuộc
lĩnh vực kiến thức nào của lý luận văn học. Chung qui lại vẫn là phạm vi kiến thức
mà ta đã học.
Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B: "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa
con người". Hãy bình luận ý kiến trên.
Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị
kiến thức trên mà tổ chức lập luận.

Nội dung kiến thức này ở trong bài học, tư liệu hoặc vốn tự có.
2. Tìm luận cứ ( ý nhỏ) cho các luận điểm.
Mỗi luận điểm cần cụ thể hoá thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ.
Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tuỳ thuộc vào ý lớn.
Ý nhỏ có khi được gợi từ đề bài nhưng phần lớn là từ kiến thức của bản thân.
3. Lập dàn ý ba phần:
a. Mở bài: Giới thiệu luận đề
b. Thân bài: Triển khai nội dung theo hệ thống các ý lớn, ý nhỏ đã tìm.
c. Kết bài: Tổng kết nội dung trình bày, liên hệ mở rộng, nâng cao vấn đề.
Ví dụ đề bài năm 1997- bảng B: "Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa
con người". Hãy bình luận ý kiến trên.
Đề này đề cập đến chức năng giáo dục của văn học. Trên cơ sở hiểu biết về đơn vị
kiến thức trên mà tổ chức lập luận.
- Nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người là nói đến ý nghĩa
tác động tích cực của văn học đối với người đọc, làm cho họ tốt hơn lên, biết sống
nhân ái, nhân đạo. Khi đã nắm chắc nôi dung luận đề thì tiến hành xác lập ý lớn.
Đề trên có thể triển khai thành những luận điểm như sau:
1.Vì sao văn học lại có nhiệm vụ nhân đạo hóa? Do ý đồ sáng tạo của nhà văn, là
chức năng cao cả của văn học.
2.Văn học thực hiện nhiệm vụ nhân đạo hóa bằng cách nào?
- Đấu tranh vì một xã hội công bằng tốt đẹp.
- Giúp con người tự nhận thức, tự hoàn thiện đạo đức nhân cách, tự chọn lối sống
cách sống đẹp nhân ái.
- Đôi khi văn học giúp con người có lối sống nhân đạo bằng lời đề nghị trực tiếp.
3. Có phải chỉ có văn học mới có chức năng giáo dục con người hay không? Gia
đình, nhà trường, xã hội! Môn Giáo dục công dân v.v Vậy đặc thù của văn học là
gì?
4. Ý nghĩa vấn đề: Đối với nhà văn. Đối với bạn đọc.
CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
A. Khái niệm

sáng dính liền nhau. Tuy nhiên, cũng có thể phân tích ra để cho được rõ nghĩa hơn
nữa. Theo tôi nghĩ, sáng là sáng sủa, dễ hiểu, khái niệm được rõ ràng; thường
thường khái niệm, nhận thức, suy nghĩ được rõ ràng thì lời diễn đạt ra cũng được
minh bạch. Tuy nhiên, nhất là trong thơ, có rất nhiều trường hợp ý nghĩa sáng rồi,
dễ hiểu rồi, nhưng lời diễn đạt còn thô, chưa được trong, chưa được gọn, chưa
được chuốt. Do đó tôi muốn hiểu chữ sáng là nặng về nói nội dung, nói tư duy, và
chữ trong là nặng nói về hình thức, nói diễn đạt (và cố nhiên là nội dung và hình
thức gắn liền). Cho nên phải phấn đấu cho được sáng nghĩa, đồng thời lại phải
phấn đấu cho được trong lời, đặng cho câu thơ, câu văn trong sáng (Xuân Diệu)
II. Phân tích
1. Khái niệm
Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố
nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.
Đối tượng phân tích trong bộ môn văn học: một nhận định, văn bản, tác phẩm, một
phần tác phẩm, nhân vật, các yếu tố cụ thể…
Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối
quan hệ giữa hình thức với bản chất, nội dung. Phân tích giúp nhận thức đầy đủ,
sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối tượng. Riêng đối với tác phẩm văn
học, phân tích là để khám phá ba giá trị của văn học: nhận thức, tư tưởng và thẩm
mĩ.
Yêu cầu phân tích: phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách
một cách hợp lí. Sau khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp
khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ, sâu sắc và trình bày ngắn gọn.
2. Cách phân tích
- Khám phá chức năng biểu hiện của các chi tiết
Ví dụ 1: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. (Nguyễn Khuyến)
Từ xanh ngắt gợi tả không gian trời thu cao xanh vời vợi, nền trời là một màu
xanh ngăn ngắt. Màu xanh này gợi tả được cảnh trong veo và thật im vắng, yên
tĩnh. Cụm từ mấy từng cao đã diễn tả không gian sâu thẳm vô cùng. Trên nền

- Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng. Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập
luận CM thuyết phục hơn. Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.
Ví dụ: Cảm hứng lãng mạn trong văn học giai đoạn 1945 - 1975
a. Cảm hứng lãng mạn được thể hiện trong tác phẩm như thế nào? (Giải thích)
- Tác phẩm thiên về ca ngợi lí tưởng, ca ngợi sự tốt đẹp của cuộc sống, thi vị hoá
hiện thực.
- Thể hiện những khát vọng hoài bão lớn lao, niềm tin vào tương lai tươi sáng của
đất nước
b. Một số biểu hiện của cảm hứng lãng mạn (Chứng minh)
* - Thơ ca ca ngợi sự tốt đẹp của cuộc sống hiện tại:
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
(Chế Lan Viên)
Chỉ nhìn vào mặt tốt đẹp để ca ngợi, chưa nói được cái hiện thực còn bề bộn khó
khăn nên nhiều tác phẩm mang cảm hứng lãng mạn như thế.
- Hiện thực gian khổ, thiếu thốn, mất mát hi sinh được thi vị hoá:
+ Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa.
(Chính Hữu - Đường về)
+ Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây.
(Phạm Tiến Duật)

hợp và có phương châm hành động đúng.
- Yêu cầu của việc đánh giá là sát đối tượng, nhìn nhận vấn đề toàn diện, khách
quan và phải có lập trường tư tưởng đúng đắn, rõ ràng.
2. Cách làm:
BL luôn có hai phần:
- Đưa ra những nhận định về đối tượng nghị luận.
Thông thường, những nhận định được rút ra từ kết quả phân tích
- Trên cơ sở của những nhận định, người viết đánh giá vấn đề
Muốn đánh giá vấn đề một cách thuyết phục thì phải có lập trường đúng đắn và
nhất thiết phải có tiêu chí.
Trong văn NL xã hội, thì dựa vào lập trường nhân dân và tiêu chí đạo lí
Trong văn NL văn học, thì dựa vào lập trường nhân dân, quyền con người và tiêu
chí là tính khách quan của đời sống,sự tiến bộ của văn học, đối với tác phẩm cụ
thể thi tiêu chí là giá trị nhận thức, giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ.
Ví dụ: Bình luận về sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu đối với văn học dân tộc
qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc?
Trả lời:
- Lần đầu tiên người nông dân đi vào văn học với vẻ tự nhiên vốn có về cuộc sống,
đức tính.
- Lần đầu tiên NĐC thấy được nông dân là chủ nhân thật sự của đất nước, trong
khi triều đình Nguyễn lúng túng, nhu nhược trước ngoại xâm thì nông dân đã tự
giác đứng lên đánh giặc để bảo vệ quê hương bờ cõi.
- Bài văn được viết bằng chữ Nôm, ngôn ngữ mộc mạc nhưng có sức gợi hình gợi
cảm lớn, đặc biệt đoạn văn dựng lại cảnh chiến đấu rất hoành tráng, có không khí
và màu sắc sử thi, vượt qua giới hạn của bài văn tế thông thường.
- Bài văn khắc họa được hình tượng con người VN tiêu biểu về phẩm chất yêu
nước và anh hùng, thể hiện tinh thần bất khuất và lẽ sống vì nước quên mình mang
tính truyền thống của dân tộc VN.
- Bài văn có ý nghĩa cỗ vũ tinh thần kháng chiến mạnh mẽ ngay từ lúc nó ra đời.
V. So sánh

3. Bàn bạc mở rộng vấn đề: bạn nên tìm hiểu các khía cạnh còn lại của vấn đề; lật
ngược vấn đề để hiểu chắc chắn hơn và tìm hiểu tác dụng, ý nghĩa của vấn đề đối
với bản thân và đời sống
Phần kết bài nên nhấn mạnh lần nữa giá trị của vấn đề.
Ví dụ 2:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”… Nguyễn Du, Bạch Cư Dị so tiếng đàn với
tiếng suối. Thế Lữ lại so tiếng hát trong với nước ngọc tuyền (suối ngọc). Những
người này không miêu tả trực tiếp tiếng suối. Chỉ có Nguyễn Trãi cho tiếng suối là
tiếng đàn cầm. Có lẽ đó là hình ảnh gần nhất với hình ảnh trong câu thơ này. Có
thể chẳng phải ngẫu nhiên. Nguyễn Trãi sành âm nhạc. Bác Hồ cũng thích âm
nhạc. Tiếng hát của một danh ca Pháp từng thích nghe thời trẻ, đến tuổi bảy mươi
Bác còn nhờ chị Mađơlen Rípphô tìm lại hộ. Tiếng suối ngàn của đất nước hay đó
là tiếng hát của trái tim người nghệ sĩ yêu đời.
(Lê Trí Viễn)
VI. Bác bỏ
1. Khái niệm: Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận
định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình.
2. Yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ
- Muốn bác bỏ một ý kiến sai thì phải dẫn đầy đủ ý kiến đó. Sau đó làm sáng tỏ hai
phương diện: sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai. Trả lời vì sao như thế là sai, đó
chính là thao tác lập luận bác bỏ.
- Để khẳng định ý kiến sai cần xem xét ba yếu tố: luận điểm, luận cứ, luận chứng.
- Bác bỏ ý kiến sai là dùng lý lẽ và dẫn chứng để phân tích, lí giải tại sao như thế
là sai.
* Lưu ý: Trong thực tế, một vấn đề nhiều khi có mặt đúng, mặt sai. Vì vậy, khi bác
bỏ hoặc khẳng định cần cân nhắc, phân tích từng mặt để tránh tình trạng khẳng
định chung chung hay bác bỏ, phủ nhận tất cả.
3. Cách sử dụng
Bác bỏ một ý kiến sai có thể thực hiện bằng nhiều cách: bác bỏ luận điểm, bác bỏ
luận cứ, bác bỏ cách lập luận hoặc kết hợp cả ba cách.

những danh từ điêu trá của văn chương. Các ông quen nhìn một cô gái nhảy là một
phụ nữ tân thời, vui vẻ trẻ trung, hi sinh cho ái tình hoặc cách mạng lại gia đình.
Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học, chẳng có thị vị, lại hư hỏng,
lại bất hiếu bất mục nữa, lại có nhiều vi trùng trong người nữa. Tôi không biết gọi
gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị lắm - hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy những cái thi vị
mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy một gái đĩ làm
gương cho thế gian noi theo!
Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu
thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu
thuyết là sự thực ở đời
Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bị quan, căm hờn cũng có, vì tôi cho rằng cái xã
hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ "vui trẻ trung", trưởng giả, ăn
mặc tân thời, khiêu vũ v.v như các ông chủ trương thì một là không muốn cải
cách gì xã hội, hai là ích kỉ một cách đáng sỉ nhục.
Còn bảo nhỏ nhen thì thì thế nào?
Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có
nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của nhân dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị
cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện ô uế, dâm đãng,
mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabraux (Mabrô),
Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng là nhỏ
nhen?
Nếu các ông không muốn sờ lên gáy thì thôi, bao nhiêu chuyện thanh cao, tao nhã,
cao thượng của loài người xin các ông cố mà hương hoa khấn khứa. Tôi xin để cái
phần ấy cho các ông. Riêng tôi, xã hội này, tôi chỉ thấy khốn nạn, quan tham lại
nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt, mà cái
xa hoa chơi bời của bọn giàu thì thật là những câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê,
thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột. Lạc quan được cho đời là vui, là không cần cải
cách, cho cái xã hội này là hay ho tốt đẹp, rồi ngồi mà đánh phấn bôi môi hình quả
tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo ý tôi, thế là giả dối, là tự lừa mình và
di hoạ cho đời, nếu không là vô liêm sỉ một cách thành thực.

chảy trôi vĩnh viễn. Do đó, bốn câu đầu gợi tả quang cảnh chung nhưng cũng là
suy niệm về phận người trước cái vô thủy vô chung:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Nhắc đến tích xưa là chiêm nghiệm cái còn và cái đã mất.
Người tiên đã cưỡi chim thiêng mang cái đẹp đi rồi, bây giờ lầu Hoàng Hạc chỉ
còn dấu tích của kỉ niệm, đứng trơ trọi như cái xác không hồn. Nhìn lên bầu trời
quang đãng chỉ thấy vầng mây trắng trôi lơ lửng ngàn năm: Ngàn năm mây trắng
bây giờ còn bay. Cảnh trong trẻo mênh mông mà cô quạnh đã diễn tả cái trống
vắng chơi vơi trong tâm hồn lữ khách. Bốn câu thơ nhưng có ba từ hoàng hạc, đây
là điểm kiêng kị trong thơ Đường nhưng phép điệp hình ảnh chim hạc bay đi (chỉ
còn lại khoảng trời trống vắng) đã diễn tả niềm luyến tiếc không nguôi cái đẹp đã
mất. Tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc như gởi vào bầu trời xanh mênh mông. Đoạn
thơ còn suy niệm về lẽ mất còn và cái hữu hạn, bé nhỏ của đời người trước sự trôi
chảy của thời gian và không gian trời rộng sông dài.
Hạc vàng tượng trưng cho ẩn sĩ, cái đẹp cao khiết và bất tử. Mây trắng biểu tượng
cho trinh bạch, yên tĩnh nhưng vô hồn như lầu không. Hạc đi, mây ở lại, gợi đến
tình cảnh biệt li. Hạc vàng đi về đâu không biết như cuộc đời con người thật quý
giá nhưng cuối cùng sẽ đi về đâu sau trăm năm chìm nổi nên hình ảnh mây trắng
phiêu bồng lãng du gợi cảm giác phù sinh của kiếp người.
Thơ luật Đường thất ngôn, đề ra nguyên tắc niêm luật rất chặt chẽ. Tuy vậy bốn
câu thơ đầu đã phá luật bằng trắc: hoàng hạc khứ / hoàng hạc lâu để đảm bảo tiểu
đối về cái động (chim hạc bay) với cái tĩnh (lầu Hoàng Hạc), từ đó nổi rõ ý tưởng
giữa cái hư vô và cái hiện hữu. Bất phục phản đối không chỉnh với không du du
nhưng thể hiện được cảm xúc tự nhiên dạt dào.
Từ cảnh hiện hữu gợi cái vô thường, nhà thơ đưa người đọc về không gian sống
tươi tắn, tràn đầy ánh sáng của cảnh bên lầu Hoàng Hạc:
Hán Dương sông tạnh cây bày,

IV. Cách trình bày
1. Diễn dịch
2. Quy nạp
3. Tổng - phân - hợp
4. Vấn đáp
5. Nêu phản đề
6. So sánh
7. Phân tích nhân - quả


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status