Bộ y tế
===***===
Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp bộ Đánh giá năng lực của bác sỹ lâm sàng
tại bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh
trong việc sử dụng xét nghiệm phục vụ
chẩn đoán và điều trị Cơ quan quản lý: Bộ Y Tế
Cơ quan chủ trì: Đại học Y thái bình
Chủ nhiệm đề tài: PGS-TS. Trần Minh Hậu 8785
Năm 2011
Bộ Y tế
==***==
Chủ nhiệm đề tài: PGS-TS. Trần Minh Hậu
Phó chủ nhiệm: PGS-TS. Phạm Văn Trọng
Th ký đề tài: PGS-TS. Lê Thị Tuyết
Uỷ viên BCN: ThS. Phạm Thảo Diệp
Cán bộ tham gia nghiên cứu chính
T
S. Ninh Văn Minh, P. Trởng Bộ môn Sản
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chức, Trởng Bộ môn Nội
BSCKII. Tô Đình Tân, Trởng Bộ môn Điều dỡng
ThS. Trần Trọng Khuê, Trởng BM. QL&TC y tế
ThS. Đinh Thị Phợng, P.Trởng BM. Sinh Hoá
ThS. Nguyễn Thị Giang, GVC. BM. Giải phẫu bệnh
ThS. Trần Hải Lý, GV. Bộ môn Sinh lý học
ThS. Lã Kim Chi, GV. Bộ môn Sinh lý học
Mục lục
Nội dung Trang
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Phần A: Tự đánh giá tình hình thực hiện đề tài và những đóng góp mới 1
Kết luận 100
1. Đánh giá năng lực sử dụng xét nghiệm của BSLS 100
2. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng xét nghiệm 101
Kiến nghị 102
Tài liệu tham khảo 103
1. Tài liệu tiếng Việt 103
2. Tài liệu tiếng Anh 106
Phụ lục
Phụ lục 1: Bộ công cụ nghiên cứu
Mẫu số 1
Mẫu số 2
Mẫu số 3
Mẫu số 4
Mẫu số 5
Mẫu số 6
Mẫu số 7
Phụ lục 2: Thang phân loại và đánh giá
Phụ lục 3: Đáp án chẩn đoán, xét nghiệm cho case study
Những sản phẩm của đề tài
1. Quyết định hớng dẫn luận án BSCKII
2. Bằng tốt nghiệp BSCKII
3. Toàn văn 3 bài báo khoa học đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành
Báo cáo chi tiết thực hiện đề tài đề nghị quyết toán
dANH Mục BảNG
Tên bảng Trang
Bảng 1: Tỷ lệ BS lâm sàng đợc phỏng vấn phân theo giới, tuổi 34
Bảng 2: Trình độ chuyên môn của BSLS 35
Bảng 3: Thâm niên của BSLS theo trình độ chuyên môn 36
Bảng 4: Đối tợng đợc phỏng vấn sâu và phỏng vấn chuyên về XN 36
Bảng 5: Đối tợng tham gia thảo luận nhóm 37
Bảng 6: Số lợng và tỷ lệ % phiếu nghiên cứu tình huống đợc trả lời 37
Bảng 7: Số bảng kiểm về chỉ định XN tại khoa khám bệnh 38
Bảng 8: Số bệnh án điều trị nội trú 38
Bảng 9: Số bệnh án điều trị nội trú phân bố theo các khoa 38
Bảng 10: Số ngày điều trị trung bình theo các khoa 39
Bảng 11: Số ngày điều trị phân theo 3 nhóm thời gian ở các khoa 39
Bảng 12: Nhận thc về vai trò của XN trong khám chữa bệnh 40
Bảng 13: Kiến thức về chỉ định XN khi khám BN mới 40
Bảng 14: Kiến thức trong việc sử dụng XN quyết định phơng thức điều trị 41
Bảng 15: Kiến thức trong việc chỉ định điều trị cho BN nội trú 41
Bảng 16: Kiến thức về chỉ định XN để theo dõi quá trình điều trị 41
Bảng 17: Kiến thức của BSLS trong việc phân tích kết quả XN 42
Bảng 18: Việc biết, kể đúng tên XN đang đợc làm tại các khoa XN 42
Bảng 19: Thái độ của BSLS đối với kết quả XN 42
Bảng 49: Liên quan giữa ứng dụng XN với kỹ năng chỉ định XN 60
Bảng 50: Liên quan giữa tập huấn với kỹ năng chỉ định XN 60
Bảng 51: Liên quan giữa trình độ chuyên môn với kỹ năng chỉ định XN 61
Bảng 52: Liên quan giữa thâm niên công tác với kỹ năng chỉ định XN 61
Bảng 53: ý kiến của lãnh đạo và quản lý về một số hạn chế của BSLS 62
Bảng 54: ý kiến của lãnh đạo và quản lý về một số hạn chế của XN 63
Bảng 55: ý kiến phản ánh của BSLS 63
Bảng 56: ý kiến của BSLS về một số quy định của BV 64
Bảng 57: Một số ý kiến đề xuất của BSLS 66
Bảng 58: Một số ý kiến đề xuất của cán bộ lãnh đạo, quản lý 67
Bảng 59: Một số ý kiến đề xuất của BSLS về hệ thống XN 68
Bảng 60: Một số ý kiến đề xuất của cán bộ lãnh đạo và quản lý 68
Bảng 61: Một số ý kiến đề xuất khác 70 1
Phần A
tự đánh giá tình hình thực hiện đề tài
và những đóng góp mới
1. Tên đề tài
Đánh giá năng lực của bác sỹ lâm sàng tại bệnh viện tuyến huyện và
tuyến tinh trong việc sử dụng xét nghiệm phục vụ chẩn đoán và điều trị
2. Thuộc chơng trình: Không
3. Chủ nhiệm đề tài: PGS-TS. Trần Minh Hậu
4. Cơ quan chủ trì: Trờng Đại học Y Thái Bình
5. Thời gian thực hiện: Từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 7 năm 2010
6. Tổng kinh phí thực hiện đề tài đợc duyệt: 495 triệu đồng
(từ ngân sách Nhà nớc)
việc lựa chọn phơng pháp đánh giá đã đợc phân tích và tìm giải pháp thích hợp
có tính khách quan thông qua 2 lĩnh vực: Kiến thức và Thực hành, và đợc thu
thập từ 2 nguồn thông tin: Chủ quan của ngời đợc đánh giá và Khách quan từ
phía các nhà lãnh đạo và quản lý trực tiếp để phân tích.
- Để đánh giá kiến thức, đề tài đã kết hợp phỏng vấn trực tiếp bác sỹ lâm
sàng về nhu cầu và khả năng sử dụng xét nghiệm trong công việc khám chữa
bệnh hàng ngày, đồng thời sử dụng phiếu nghiên cứu trờng hợp để kiểm tra kiến
thức trong việc chỉ định xét nghiệm trớc những tình huống cụ thể. Phối hợp 2
nhóm thông tin trên, đánh giá đợc kiến thức thực của bác sỹ trong việc sử dụng
xét nghiệm phục vụ chuyên môn một cách khách quan và khoa học.
- Để đánh giá kỹ năng thực hành sử dụng xét nghiệm của bác sỹ lâm sàng,
đề tài đã phối hợp việc thống kê bệnh án điều trị nội trú đã xuất viện với bảng
kiểm về quy trình khám, chỉ định xét nghiệm của bác sỹ khi tiếp xúc bệnh nhân
mới. Đây là những số liệu hoàn toàn thực tế mang tính khách quan đã đợc bác
sỹ lâm sàng thực hiện trong công tác chuyên môn hàng ngày.
- Trên cơ sở những số liệu thu thập từ phỏng vấn trực tiếp, chỉ định xét
nghiệm khi khám bệnh nhân mới, xét nghiệm đã sử dụng trong bệnh án với kết
quả chỉ định xét nghiệm khi phân tích case study chúng tôi đã tìm ra những yếu
tố liên quan và những hạn chế làm ảnh hởng đến kỹ năng chỉ định và sử dụng
xét nghiệm của BSLS. Bên cạnh những số liệu thu thập đợc từ các phơng pháp
trên, đồng thời với ý kiến trả lời phỏng vấn của cán bộ lãnh đạo, quản lý khoa
3
lâm sàng, phòng chức năng kết hợp với ý kiến thảo luận nhóm để đánh giá một
cách khách quan năng lực của bác sỹ lâm sàng đang làm việc dới sự kiểm soát
của họ từ đó có cơ sở đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao
năng lực và hiệu quả sử dụng xét nghiệm của bác sỹ lâm sàng tại bệnh viện tuyến
tỉnh và huyện.
Qua phơng pháp nghiên cứu trên cho phép kết quả thu đợc trong nghiên
cứu là hoàn toàn khách quan, khoa học và có độ tin cậy cao. Kết quả này góp phần
nghiệm phục vụ chuyên môn. Từ kết quả nghiên cứu, có những đề xuất cụ thể,
thiết thực một cách khoa học nhằm góp phần nâng cao năng lực sử dụng xét
nghiệm của bác sỹ lâm sàng tại các bệnh viện.
Nh vậy đề tài đợc coi là một luận chứng khoa học với những dữ liệu cụ
thể giúp các Nhà hoạch định chính sách y tế vĩ mô có cơ sở khoa học trong chính
sách đầu t trang thiết bị và nâng cấp bệnh viện, cũng nh chính sách đào tạo
nguồn nhân lực y tế cân đối phù hợp đáp ứng đúng nhu cầu của xã hội làm cơ sở
để thúc đẩy sự phát triển về chất trong công tác y tế hiện nay.
8.3. Về ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất những vấn đề hết sức cụ thể, có
khả năng thực hiện tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng xét nghiệm và phát huy hiệu quả sử dụng trang thiết bị y tế nói
chung đợc đầu t cho các bệnh viện nhằm góp phần giảm tải cho các bệnh viện
tuyến trên, chống tình trạng nơi quá tải, nơi trống trải.
Với chính sách đầu t từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và các nguồn
vốn khác nâng cấp hệ thống y tế tuyến huyện cả về cơ sở hạ tầng, thiết bị y tế và
nguồn nhân lực phù hợp nhằm nâng cao chất lợng khám chữa bệnh tại các tuyến
y tế gần dân vừa góp phần giảm tải cho tuyến trên vừa tạo điều kiện cho ngời
dân có nhiều cơ hội đợc tiếp cận và thừa hởng thành tựu của nền khoa học y
học tiên tiến, hiện đại trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Thái Bình, ngày 20 tháng 10 năm 2010
Chủ nhiệm đề tài PGS-TS. Trần Minh Hậu 5
Phần B
nghiệp cao và sự quan tâm, tin tởng vào kết quả xét nghiệm thì mới có thể phân
tích đọc đợc các kết quả từ những kỹ thuật ngày càng hiện đại với số lợng
6
ngày càng tăng, chủng loại ngày càng đa dạng và mức độ ngày càng phức tạp.
Tuy nhiên, thực trạng việc sử dụng xét nghiệm hiện nay tại các cơ sở y tế đang
có những bất cập, nó ít nhiều ảnh hởng đến chất lợng khám chữa bệnh tại các
cơ sở y tế, nhất là các tuyến dới nh: Tình trạng ít hoặc không quan tâm đến xét
nghiệm của một số bác sỹ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị do chủ quan hay
do chủ yếu dựa vào kinh nghiệm; Vấn đề thiếu và yếu về trang thiết bị xét
nghiệm; Về nhân lực làm công tác xét nghiệm; Về sự không đồng bộ giữa việc
nâng cấp trang thiết bị máy móc với nhân lực sử dụng các thiết bị đó cả về số
lợng và chất lợng; Vấn đề quá tải tại những cơ sở y tế tuyến trên; Vấn đề cơ
chế thị trờng với các loại hình khám chữa bệnh trên cơ sở xã hội hoá y tế Tất
cả những bất cập đó chính là những vấn đề đang đặt ra cho ngành y tế hiện nay là
phải làm thế nào để nâng cao khả năng sử dụng xét nghiệm, phát huy hết khả
năng và vai trò của xét nghiệm trong công tác khám và chữa bệnh đợc tốt nhằm
ngày càng nâng cao chất lợng phục vụ của ngành y tế trong giai đoạn hiện nay.
Trớc thực trạng đó, đồng thời để có dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho việc xây
dựng chiến lợc tổ chức, quản lý hệ thống xét nghiệm cũng nh việc nâng cao
năng lực sử dụng xét nghiệm phục vụ khám chữa bệnh, góp phần nâng cao chất
lợng phục vụ tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện là một vấn đề rất cần
thiết và cấp bách của ngành y tế nớc ta hiện nay. Chính vì vậy, Trờng Đại học
Y Thái Bình đợc Bộ Y tế giao nhiệm vụ và cho phép triển khai nghiên cứu đề
tài này nhằm giải quyết 2 mục tiêu sau:
Mục tiêu của đề tài
1. Đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành chỉ định, sử dụng xét
nghiệm phục vụ chẩn đoán và điều trị của bác sỹ lâm sàng tại bệnh viện tuyến
huyện, tuyến tỉnh và một số yếu tố liên quan.
2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng xét
nghiệm phục vụ chẩn đoàn và điều trị của các thầy thuốc lâm sàng [37], [41].
Qua đó cho thấy trang thiết bị y tế nói chung và xét nghiệm nói riêng đang gắn
kết ngày càng chặt chẽ và bền vừng hơn với đội ngũ thày thuốc lâm sàng trong
công tác y tế, thiếu một trong hai lĩnh vực đó đều không đáp ứng đợc nhu cầu
phát triển xã hội và phục vụ con ngời. Trơng Văn Việt - Giám đốc bệnh viện
Chợ Rẫy từng nói: Thầy thuốc giỏi mà thiếu thiết bị là thầy thuốc lạc hậu. Thiết
bị y tế hiện đại mà thiếu con ngời là một đống sắt vụn [35].
1.1. Tầm quan trọng của xét nghiệm tại bệnh viện
Cùng với sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại trên
thế giới hiện nay thì các kỹ thuật phục vụ y học trong chẩn đoán và điều trị cũng
ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực giúp cho nền y học thế giới có những
bớc tiến nhẩy vọt trong khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân,
8
phòng ngừa và dự báo các dịch bệnh xảy ra. Với những thành tựu đó, các thiết bị
phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh trong các bệnh viện cũng không ngừng đợc
cải tiến, hiện đại và chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực cả các kỹ thuật giúp chẩn
đoán bệnh và chẩn đoán sớm, kỹ thuật can thiệp điều trị, cả trong dự phòng.
Xét nghiệm trong y học đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công
tác khám chữa bệnh, nó chỉ ra một cách khách quan những thông số sinh học của
con ngời trong thời điểm xác định hiện tại, qua đó giúp các thầy thuốc có cơ sở
để chẩn đoán xác định, chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh cũng nh phân biệt
đợc những thay đổi khác nhau của những biểu hiện bệnh lý lâm sàng giống
nhau của các bệnh lý khác nhau, từ đó có chỉ định đúng đắn trong điều trị nhằm
lập lại sự cân bằng sinh học vốn có cho cơ thể đang bị mất cân bằng. Xét nghiệm
ngày nay đã và đang ngày càng hiện đại với những thiết bị máy móc ngày càng
tinh vi và có độ chính xác ngày càng cao. Xét nghiệm không chỉ để giúp thầy
thuốc có cơ sở khoa học trong chẩn đoán bệnh thông thờng mà xét nghiệm với
những thiết bị y học hiện đại nó đã góp phần quan trọng giúp thầy thuốc lâm
sàng thăm dò và chẩn đoán những bệnh hiểm nghèo, bệnh nguy hiểm từ rất sớm
kết quả với độ tin cậy và chính xác cao [37]. Về lĩnh vực truyền máu hiện nay đã
có rất nhiều phơng pháp tiên tiến hiện đại đợc ứng dụng trong truyền máu nhằm
đảm bảo tính khoa học, an toàn hiệu quả và chính xác trong việc lấy máu, lọc bạch
cầu, tách các loại tế bào máu, tách các thành phần và các yếu tố cần thiết trong
huyết tơng, phơng tiện lu trữ và bảo quản, và vận chuyển máu phục vụ cấp cứu
và điều trị tại chỗ Bên cạnh đó còn nhiều xét nghiệm sàng lọc trớc khi lấy máu
đảm bảo chất lợng và độ an toàn, tin cậy cao.
Nhiều loại máy móc hiện đại ra đời kèm theo các loại kỹ thuật mới. Các
thế hệ máy móc mới có thể tự động đếm các tế bào máu, có thể tiến hành hàng
loạt các xét nghiệm máu trong một thời gian ngắn, có thể vẽ biểu đồ diễn tả các
thành phần và phân bố tế bào máu bình thờng và phân biệt các thành phần bất
thờng trong máu một cách tự động, nhanh và chính xác.
Truyền máu là phơng pháp bổ sung mới một khối lợng máu cho cơ thể
ngời bệnh: để cấp máu cho bệnh nhân, truyền máu chỉ có giá trị thực sự khi
máu ngời cho không gây những nguy hiểm cho ngời nhận máu đó vì hiện
t
ợng tan máu, ngng kết hồng cầu có thể xảy. Năm 1901, Kald Landsteiner
phát hiện ra hệ nhóm máu ABO và đợc ứng dụng cho đến hiện nay. ở ngời
hiện có 4 nhóm máu chính thuộc hệ ABO đó là [2], [21], [27]: Nhóm A(): hồng
cầu mang kháng nguyên A, huyết thanh có kháng thể tơng kị với kháng
nguyên B. Nhóm B(): Hồng cầu mang kháng nguyên B, huyết tơng có kháng
thể tơng kị với kháng nguyên A. Nhóm O(,): Hồng cầu không mang kháng
nguyên A và B, huyết thanh có kháng thể và . Nhóm AB(0): Hồng cầu mang
cả hai kháng nguyên A và B, nhng huyết thanh lại không có kháng thể và .
10
Nh vậy, nhóm AB(0) là nhóm nhận phổ thông, ngời thuộc nhóm máu
này có thể nhận bất cứ nhóm máu nào cho họ. Nhóm máu O(,) là nhóm cho
phổ thông, nhóm này có thể cho tất cả những ngời có các nhóm máu khác mà
không gây nguy hiểm cho ngời nhận. Việc phát hiện ra bốn nhóm máu cơ bản
11
xét nghiệm trên một bệnh phẩm với một thời gian ngắn nhất, độ chính xác cao
nhất với một nồng độ chất cần xác định ở mức phân tử [35], [41]. Nhiều hãng sản
xuất máy và thiết bị y tế nổi tiếng thế giới nh: Bayerat, Abbot, Sysmex, Kubota,
Fukuda đã không ngừng đổi mới công nghệ cung cấp cho thị trờng những loại
thế hệ máy và thiết bị y tế ngày càng hoàn thiện và hiện đại. Chính vì vậy, hiện
nay tại hầu hết các bệnh viện trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và
đang áp dụng những thành tựu khoa học y học trong khám chữa bệnh và nghiên
cứu khoa học, góp phần không ngừng cải thiện chất lợng chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ cho ngời dân trong cộng đồng.
Hiện nay với nhiều loại máy móc phân tích các chỉ số hoá sinh máu, nớc
tiểu và các dịch khác trong cơ thể phục vụ chẩn đoán và điều trị ngày càng tinh
vi hiện đại với độ chính xác rất cao, đo đợc những chất trong cơ thể có nồng độ
ở mức nano, pico [50], [52], [54], những xét nghiệm xác định nồng độ và thành
phần khí trong máu, thành phần các ion ngay trong quá trình điều trị (trong phẫu
thuật lớn nh cấy ghép tổ chức cơ quan, mở lồng ngực, phẫu thuật nội sọ, chạy
thận nhân tạo ). Điều này cho thấy với các kỹ thuật xét nghiệm có ý nghĩa cực
kỳ to lớn, không những có tác dụng giúp cho công tác chẩn đoán bệnh mà còn có
tác dụng theo dõi, can thiệp trong quá trình điều trị, góp phần cùng với các kỹ
năng lâm sàng thúc đẩy và làm cho nền y học thế giới phát triển mạnh mẽ cả về
bề rộng cũng nh bề sâu [25]. Rất nhiều xét nghiệm hoá sinh mới, hiện đại nhằm
phát hiện bệnh ngay từ khi cha có biểu hiện đã đợc triển khai có ý nghĩa lâm
sàng to lớn góp phần nâng cao chất lợng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
1.2.3. Xét nghiệm miễn dịch học
Cùng với sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật công nghệ, các kỹ thuật
đợc ứng dụng trong y học nh xét nghiệm miễn dịch trong huyết học truyền
máu, trong xét nghiệm hoá sinh, xét nghiệm vi sinh và ký sinh trùng cũng đã
và đang không ngừng đợc hoàn thiện và phát triển. Ngoài ra còn một số loại xét
nghiệm thông thờng khác nh giải phẫu bệnh lý, pháp y, vi sinh, ký sinh trùng
cũng đã có rất nhiều tiến bộ trong các chuyên ngành phục vụ chẩn đoán và điều
Ngày nay miễn dịch học chẩn đoán đang là một lĩnh vực đợc chú ý nhiều
với tính đặc hiệu trong liên kết giữa kháng thể với kháng nguyên đợc ứng dụng
thành một ph
ơng tiện tầm soát các chất trong nhiều kỹ thuật chẩn đoán. Các
kháng thể đặc hiệu đối với một kháng nguyên mong đợi có thể đợc gắn phóng
xạ hay huỳnh quang hoặc enzym tạo màu, từ đó có thể sử dụng nh một đầu
dò để tìm kiếm kháng nguyên [55]. Với các ứng dụng đa dạng bao gồm
immunoblot, ELISA và nhuộm hoá mô miễn dịch các tiêu bản, tốc độ, độ chính
xác, sự đơn giản của các xét nghiệm này đã thúc đẩy sự phát triển của kỹ thuật
chẩn đoán nhanh các bệnh in vitro, vi khuẩn, và các chất ma tuý [45], [55],
[57] Nh vậy, miễn dịch học đang ngày càng chứng minh vai trò và tầm quan
13
trọng của nó không chỉ trong chẩn đoán, điều trị mà cả trong tầm soát, dự báo
dịch và phòng bệnh dịch.
1.2.4. Xét nghiệm giải phẫu bệnh và mô bệnh học
Chẩn đoán mô bệnh học là khoa học ứng dụng của tế bào học nói chung
và tế bào bệnh học nói riêng trong xác định bệnh vừa ở môi trờng bệnh viện vừa
ở cộng đồng [36].
Xét nghiệm giải phẫu bệnh - mô bệnh học là xét nghiệm thông dụng dễ
làm mà tất cả các cơ sở y tế đều có thể làm đợc, đây là một xét nghiệm đợc Tổ
chức Y tế thế giới đánh giá cao. Xét nghiệm mô bệnh học đáp ứng đầy đủ 5 yêu
cầu của một xét nghiệm tốt là: đơn giản, nhậy, đáng tin cậy, có hiệu suất, tiết
kiệm [36].
Việc lấy đợc các mô bệnh học để tiến hành chẩn đoán tế bào là một việc
rất quan trọng, ngời ta có thể chọc hút lấy bệnh phẩm, làm phiến đồ tế bào học
ở các dịch cổ tử cung âm đạo, hoặc lấy các bệnh phẩm sau khi phẫu thuật để làm
tế bào học để chẩn đoán tính chất của khối u. Trong u vú, sau khi mổ phân tích
làm tế bào học hay gặp là u xơ tuyến lành tính chiếm 56,2%, thứ hai là nang
dịch lành tính chiếm 36,2%, còn ung th biểu mô tuyến ít gặp chiếm 1,9% [17].
điều trị cũng nh phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Hơn nữa, trong công tác
phòng bệnh, phát hiện và tìm nguyên nhân gây bệnh trong các vụ dịch thì những
kỹ thuật vi sinh học cũng đóng góp phần cơ bản và quyết định, nó chỉ ra thủ
phạm chính là nguyên nhân của các vụ dịch Từ những kỹ thuật đơn giản, thô sơ
nh test nhanh phát hiện viêm da tiếp xúc, soi tơi hoặc nhuộm xác định vi
khuẩn thông thờng đến những kỹ thuật nuôi cấy, phân lập nấm và vi khuẩn,
kháng sinh đồ đã góp phần giúp cho các nhà lâm sàng chẩn đoán xác định,
nguyên nhân gây bệnh, từ đó giúp các bác sỹ lâm sàng có những biện pháp và
cách thức điều trị đặc hiệu với nguyên nhân gây bệnh mang lại hiệu quả rõ rệt.
Không những thế, nó còn đóng góp một phần to lớn và quan trọng trong công tác
phòng và phát hiện dịch, trong công tác vệ sinh an toàn thực phẩm Ngày nay,
với nhiều kỹ thuật ngày càng tiên tiến hiện đại đã càng làm cho khả năng phát
hiện chính xác, sớm nhiều loại bệnh ngay từ khi còn tiềm ẩn nhằm làm cho công
tác điều trị có hiệu quả hơn nh: nuôi cấy và định danh vi khuẩn, miễn dịch chẩn
đoán dangue xuất huyết hay kỹ thuật real-time PCR trong định lợng HIV-1
RNA, phát hiện sớm bệnh lao, phong, HIV [23], [29], [33], [44] đã làm cho
ngành vi khuẩn học có những bớc tiến vợt bậc góp phần giúp cho công tác
phát hiện sớm bệnh, ngăn ngừa sự lây lan bệnh thành dịch, điển hình trong
những vụ dịch gần đây nh viêm hô hấp cấp tính, cúm H5N1, H1N1
15
Các xét nghiệm ký sinh trùng cũng đã và đang có những bớc tiến dài
trong hệ thống xét nghiệm tại bệnh viện nói riêng cũng nh trong điều trị và
phòng bệnh nói chung. Ngày nay bằng các kỹ thuật tiên tiến nh ELISA, PCR,
miễn dịch huỳnh quang đã ứng dụng nhiều kỹ thuật miễn dịch trong chẩn đoán
sớm, chẩn đoán nhanh và hàng loạt các bệnh ký sinh trùng ở ngời, bệnh ký sinh
trùng súc vật lạc vật chủ truyền sang ngời [13], [19], [58] Nhờ những kỹ thuật
đó mà ngời ta còn xác định rõ chu kỳ phát triển, nguồn lây, vật chủ trung gian
của nhiều loại kỹ sinh trùng, qua đó đã góp phần quan trọng trong công tác
phòng bệnh nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Các chơng trình
ngân hàng mô ra đời hoặc ứng dụng những kỹ thuật y học hiện đại nh định
lợng nồng độ hormone, monoamin, chất truyền đạt thần kinh, phòng ngừa và
phát hiện sớm nhiều bệnh cho ngời cao tuổi góp phần nâng cao chất lợng sống
cho cộng đồng nh bệnh loãng xơng, parkinson, alzheimer [49] hoặc phát
hiện sớm các tình trạng nhiễm hoá chất độc hại trong nông nghiệp, trong công
nghiệp, đặc biệt chất độc dioxin [12], [17], [46], [49] góp phần làm sạch môi
trờng.
Trong khi những xét nghiệm thiết yếu đang đợc sử dụng thờng ngày phục
vụ cho công tác chẩn đoán bệnh thông thờng tại các bệnh viện vẫn đang đợc
phát huy thì nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các kỹ thuật tiên tiến hiện đại
cũng đợc ứng dụng trong y học ngày một rộng rãi góp phần thúc đẩy nền y học
thế giới ngày một hiện đại trong công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Nh vậy, vai trò của xét nghiệm là vô cùng to lớn, nó giúp cho các thày thuốc
lâm sàng trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi và tiên lợng bệnh cũng nh trong công
tác nghiên cứu khoa học và công nghệ cao nh cấy ghép tổ chức, thay thế phủ tạng,
cơ quan, nuôi cấy tế bào nguồn, tạo nguyên liệu trong điều trị một số bệnh từ tế bào
gốc và phòng bệnh đạt hiệu quả cao mà hiện nay đang nhân rộng không chỉ tại
những nớc phát triển mà ngay cả các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Chính vì vậy, việc sử dụng và phát huy hiệu quả của xét nghiệm là hết sức cần thiết
giúp các thầy thuốc lâm sàng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh góp phần
nâng cao chất lợng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ ngời dân.
1.3. ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm y tế tại việt nam
Tại Việt Nam, hiện nay trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển, đất
nớc ta đang trong thời kỳ hội nhập, do đó các kỹ thuật tiên tiến ứng dụng trong
y học cũng đã và đang ngày một chiếm lĩnh và thay thế nhiều vị trí trong lĩnh vực
chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh đạt hiệu quả cao. Tại một số cơ sở y tế lớn của
nớc ta nh: bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Việt Đức, Bửnh viện nhi trung ơng,
bệnh viện Hữu Nghị, bệnh viện Thống Nhất, bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Từ
Dũ, bệnh viện Huyết học - Truyền Máu TP. Hồ Chí Minh đã áp dụng nhiều kỹ
chuyên môn ch
a cao, cha đáp ứng đợc nhu cầu đợc phục vụ và chăm sóc sức
khoẻ của ngời dân trong cộng đồng và nhu cầu phát triển tất yếu của xã hội,
thậm chí cả những máy móc phục vụ các kỹ thuật thông thờng tại nhiều bệnh
viện cũng cha đợc trang bị đầy đủ [18]. Hiện nay tại nhiều bệnh viện huyện,
nhất là tại các vùng sâu vùng xa vẫn còn những trang thiết bị xét nghiệm thô sơ