§Ò ¸n m«n häc
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
1
Đề tài “Nhượng quyền kinh doanh và vận dụng của
các doanh nghiệp Việt Nam để thâm nhập thị trường
quốc tế”
§Ò ¸n m«n häc
Mục lục
Lời mở đầu 2
Chương I: Thương hiệu và nhượng quyền thương hiệu 3
1.Thương hiệu 4
1.1. Thương hiệu là gì? 4
1.2.Giá trị của tài sản thương hiệu 4
2.Franchise - Nhượng quyền thương hiệu 5
2.1. Khái niệm về nhượng quyền thương hiệu 5
2.2.Lịch sử phát triển nhượng quyền thương hiệu 5
2.3. Ưu điểm của Nhượng quyền thương hiệu 6
2.4.Tỷ lệ thành công của các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền 7
2.5.Sự khác biệt của nhượng quyền thương hiệu với các hình thức kinh doanh
khác 7
3.Các hình thức nhượng quyền thương hiệu 8
3.1.Bán Franchise cho từng cá nhân (SINGLE UNIT FRANCHISE) 8
3.2. Đại lý Franchise độc quyền (Master Franchise) 9
3.3.Franchise phát triển khu vực (Area Development Franchise) 10
3.4.Liên doanh (Joint ventures) 10
4.Nghiệp vụ kinh doanh nhượng quyền thương hiệu 10
4.1.Người bán franchise 10
4.2.Người mua franchise 11
5.Kỹ năng cần thiết để điều hành hiệu quả một cửa hàng franchise và thách
thức của việc mua franchise 15
5.1.Kỹ năng 15
được các doanh nghiệp trong và ngoài nước quan tâm. Do đó, để tìm hiểu thêm, và
làm rõ về vấn đề này, em xin chọn đề tài “Nhượng quyền kinh doanh và vận dụng
của các doanh nghiệp Việt Nam để thâm nhập thị trường quốc tế”. Mục đích
nghiên cứu của đề tài của em là nhằm nâng cao kiến thức về loại hình kinh doanh
mới này, Việt Nam có những thuận lợi, khó khăn gì khi tham gia kinh doanh theo
hình thức nhượng quyền thương mại và đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết
những khó khăn ấy và tăng thêm phần thuận lợi.
Để hoàn thành được đề tài này là nhờ có sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
Th.S Nguyễn Hải Đạt,em xin chân thành cảm ơn thầy rất nhiều!Do sự hiểu biết còn
nhiều hạn chế và thời gian nghiên cứu đề tài không dài nên chắc chắn đề tài của em
còn nhiều thiếu sót, em rất mong được thầy chỉ dẫn và bổ xung những mặt còn hạn
chế.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chương I: Thương hiệu và nhượng quyền thương hiệu
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
3
§Ò ¸n m«n häc
1.Thương hiệu
1.1. Thương hiệu là gì?
Khác với các loại sở hữu hàng hoá thông thường, thương hiệu là một loại
hàng hoá trí tuệ, là tài sản quy nhất của một doanh nghiệp, nó bao gồm biểu trưng
của công ty (logo), biểu tượng , khẩu hiệu (slogan), tông màu (color scheme), địa
chỉ liên lạc, và kể cả mùi vị đặc trưng. Nó thể hiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ
của bạn, là sự cam kết thực hiện lợi ích mà nó đem lại.
Tác giả Richard Moore đã có một định nghĩa khá tượng hình về thương hiệu
trong quyển sách của ông xuất bản năm 2004 tại Việt Nam như sau: “Sự khác biệt
giữa một sản phẩm và một thương hiệu là gì? Một sản phẩm cũng hơi giống một
người bạn mà bạn mới gặp.Cho đến giờ, hẳn bạn đã gặp hàng ngàn người trong
cuộc đời mình, và hầu hết những người bạn này chỉ trao đổi một ánh mắt hay vài
câu nói. Nhưng đối với một số người, bạn thấy mình đã trao đổi câu chuyện với họ
nhượng quyền hay chủ thương hiệu), và một bên gọi là franchisee(bên được nhượng
quyền hay mua franchise).Hai bên đối tác này sẽ ký một hợp đồng, gọi là hợp đồng
franchise.
2.2.Lịch sử phát triển nhượng quyền thương hiệu
Franchise có xuất xứ từ châu Âu cách đây hàng trăm năm và sau đó lan rộng
và bùng nổ tại Mỹ. Từ “franchise” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “franc” có nghĩa
“freedom” (tự do). Vào thời đó, người được nhượng quyền là một người rất quan
trọng, được trao quyền hạn và quyền tự do để thay mặt Nhà nước điều hành, triển
khai các luật lệ tại một số lãnh thổ nhất định, ví dụ như việc ấn định mức thuế và
thu thuế. Khái niệm trao quyền sau đó được áp dụng trong ngành kinh doanh và khu
vực kinh tế tư nhân.
Hầu hết các tài liệu, sách vở về franchise đều cho rằng hình thức franchise
hiện đại có lẽ bắt đầu từ việc phát triển ồ ạt các trạm xăng dầu và gara buôn bán xe
hơi ngay sau Thế chiến thứ nhất kết thúc. Điều này có đúng có sai. Các đại lý xăng
dầu hay gara xe hơi được cập giấy phép hoạt động dưới tên một thương hiệu nào
đó đều cho rằng mình là đối tác mua franchise, tuy nhiên họ không phải trả một
khoản phí franchise nào như những hợp đồng franchise thông thường. Theo thông
lệ của các ngành kinh doanh loại này thì điều kiện gần như duy nhất để đại lý được
cấp phép hoạt động với tên thương hiệu có sẵn là phải mua sản phẩm độc quyền
cung cấp bởi chủ thương hiệu. Dĩ nhiên, các đại lý sẽ mua từ nhà máy hay chủ
thương hiệu với giá sỉ và bán lại tại cửa hàng của mình với giá bán lẻ. Ngược lại,
đối với các thương hiệu trong ngành nhà hàng chẳng hạn, đối tác mua franchise
không bị bắt buộc phải mua hàng độc quyền từ chủ thương hiệu, trừ một số thành
phần gia vị, nguyên liệu mang tính “bí kíp”
Do đó, sự lớn mạnh của mô hình kinh doanh franchise thật sự chỉ bắt đầu sau
Thế chiến thứ hai khi hàng loạt thương hiệu trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
5
§Ò ¸n m«n häc
khách sạn, nhà hàng thức ăn nhanh ra đời. Mô hình kinh doanh franchise sau đó
tỉ lệ thất bại 90% trong 3 năm đầu, việc bắt đầu một sự nghiệp mới - một thương
hiệu mới là khá nguy hiểm. Việc mua franchise sẽ giảm thiểu những rủi ro mà thực
tế kinh doanh đư ra nhờ lợi thế cạnh tranh của nơi nhượng quyền, tăng hiệu quả của
có với sự hỗ trợ từ phía thương hiệu mạnh và marketing, địa điểm và đào tạo và hơn
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
6
§Ò ¸n m«n häc
thế nữa sẽ khá yên tâm do sẽ có ngay một lượng khách hàng tối thiểu ngay từ ban
đầu
-Được chủ thương hiệu giúp đỡ:. Đây là một lợi thế lớn, đặc biệt đối với những
người mới tự kinh doanh lần đầu. Trong thời gian trước khai trương, đối tác mua
franchise thường được hỗ trợ về đào tạo, thiết kế, chọn địa điểm cửa hàng, nguồn
hàng, tiếp thị, quảng cáo …Sau khai trương, họ tiếp tục được hỗ trợ nhiều mặt,
trong đó nổi bật nhất là khâu quảng cáo và tái đào tạo.
-Dễ vay tiền ngân hàng: Do xác suất thành công cao hơn, nên các ngân hàng thường
tin tưởng hơn trong việc xét duyệt cho các doanh nghiệp mua franchise vay tiền.
-Tự làm chủ: Tuy phải tuân theo nhiều quy định, hướng dẫn chung của hệ thống
franchise xây dựng bởi chủ thương hiệu, nhưng người mua franchise vẫn có thể tự
quyết định rất nhiều trong công việc hàng ngày, cũng giống như một người chủ
doanh nghiệp thực sự.
-Chi phí quảng bá thấp hơn: Các cửa hàng riêng lẻ trong hệ thống franchise không
phải tốn nhiều chi phí quảng cáo cho thương hiệu như đối với trường hợp đứng ra
kinh doanh độc lập
2.4.Tỷ lệ thành công của các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền
Theo một thống kê của Mỹ thì từ 1994 đến 2004 trung bình chỉ có 5% số
doanh nghiệp hình thành theo mô hình franchise tại Mỹ là thất bại, trong khi đó con
số này là 65% cho các doanh nghiệp không theo mô hình franchise. Thật vậy, chưa
có một nghiên cứu nào định nghĩa rõ như thế nào gọi là “thất bại” hay như thế nào
gọi là “thành công”. Trở lại con số thống kê của Mỹ nêu trên thì chỉ có 5% doanh
nghiệp mua franchise thất bại thì 95% còn lại có thể hiểu đồng nghĩa với kinh
quan tâm đến việc phân phối sản phẩm mà không cần phải dính chặt với bất kỳ hệ
thống nào.
+Người mua franchise chỉ liên hệ với một công ty duy nhất (chủ thương hiệu) trong
khi nhà phân phối sản phẩm có thể liên hệ với nhiều nhà cung cấp ( trừ trường hợp
nhà phân phối độc quyền)
-So sánh giữa franchise và li-xăng
Mặc dù franchise và li-xăng giống nhau ở điểm là cả hai đều liên quan đến
một hợp đồng cấp phép nhưng mối quan hệ giữa người cấp phép và người được cấp
phép trong hợp động franchise gắn chặt với nhau hơn. Ví dụ, trong hợp đồng
franchise người cấp phép (chủ thương hiệu) sẽ có nhiều quyền hạn và kiểm soát hơn
đối với đối tác mua nhượng quyền, và song song đó có nhiều trách nhiệm hơn đối
với hoạt động, điều hành hàng ngày của cửa hàng nhượng quyền. Điều này không
xảy ra đối với người cấp phép trong hợp đồng li-xăng, vì theo mô hình kinh doanh
này, người cấp phép li-xăng chỉ quan tâm chủ yếu đến khoản phí li-xăng mà họ sẽ
thu hàng tháng hoặc hàng năm. Ngoài ra, người cấp li-xăng còn quan tâm đến việc
giám sát liệu giấy phép li-xăng của họ có được sử dụng đúng mục đích của nó hay
không.
3.Các hình thức nhượng quyền thương hiệu
3.1.Bán Franchise cho từng cá nhân (SINGLE UNIT FRANCHISE)
Đây là phương thức mua franchise khá phổ biến khi người mua franchise ký
hợp đồng franchise trực tiếp với người bán franchise, và người bán franchise này có
thể là chủ thượng hiệu hoặc chỉ là một đại lý độc quyền gọi là master franchise. Còn
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
8
§Ò ¸n m«n häc
người mua franchise có thể là một cá nhân hay một công ty nhỏ được chủ thương
hiệu hay đại lý độc quyền của chủ thương hiệu cấp quyền kinh doanh tại một địa
điểm và một thời gian nhất định (3-5 năm hay dài hơn). Sau thời gian này, hợp đồng
có thể gia hạn và người mua franchise sẽ trả một phí nhỏ để gia hạn hợp đồng. Lý
do hợp đồng franchise phải có thời hạn là để người bán có thể rút quyền kinh doanh
còn phải có tiềm lực vững chắc về tài chính và quản trị để có thể xây dựng cả một
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
9
§Ò ¸n m«n häc
hệ thống để phục vụ cho tất cả các cửa hàng trong khu vực độc quyền kinh doanh
của mình.
3.3.Franchise phát triển khu vực (Area Development Franchise)
Đây là hình thức franchise nằm ở giữa hai hình thức single unit franchise và
master franchise, nghĩa là người mua franchise trong trường hợp này được cấp độc
quyền cho một khu vực hay một thành phố nhỏ trong một thời gian nhất định, tuy
nhiên không được phép bán franchise cho bất cứ ai. Dưới hình thức này, ít chủ
thương hiệu nào chịu bán franchise cho một tỉnh, lãnh thổ hay một quốc gia. Người
mua area development franchise cũng bị ràng buộc trong hợp đồng là phải mở bao
nhiêu cửa hàng trong vòng mấy năm, nếu không sẽ bị chủ thương hiệu cắt hợp đồng
và rút quyền. Trong một số trường hợp, sau một thời gian kinh doanh và rút quyền .
Trong một số trường hợp, sau một thời gian kinh doanh tốt người mua area
development franchise có thể xin chuyển hợp đồng thành master franchise nếu
muốn bán franchise lại cho người thứ ba
3.4.Liên doanh (Joint ventures)
Với hình thức này, chủ thương hiệu hợp tác với một doanh nghiệp địa
phương thành lập công ty liên doanh. Công ty liên doanh này trở thành công ty thay
mặt cho chủ thương hiệu toàn quyền kinh doanh tại một thành phố, một quốc gia
hay một khu vực nào đó. Cả hai đối tác trong công ty liên doanh sẽ đàm phán về số
cổ phần của mình và cách thức huy động vốn. Thông thường, doanh nghiệp địa
phương sẽ đóng góp bằng tiền và kiến thức địa phương, còn chủ thương hiệu sẽ
đóng góp chủ yếu bằng bí quyết kinh doanh, thương hiệu, cộng thêm một số tiền
mặt. Đây là hình thức mà chủ thương hiệu không mấy ưu tiên do sẽ phải chấp nhận
rủi ro tài chính một khi liên doanh thất bại (do cũng phải góp vốn bằng tiềm mặt).
Do đó, chủ thương hiệu thường chỉ đồng ý với hình thức liên doanh này khi quá
mong muốn xâm nhập vào một thị trường nào đó mà không có đối tác mua
bên bán franchise nên có khuynh hướng bảo vệ chủ thương hiệu. Người mua
franchise nên thông qua một văn phòng luật sư để tư vấn hoặc hỗ trợ đàm phán các
hạng mục trong hợp đồng trước khi quyết định ký.
-hỗ trợ huấn luyện, giám sát thực hiện
Người mua franchise sẽ được nhận được từ người bán những bản hướng dẫn
về kỹ thuật, như công thức,quy chế sản xuất kinh doanh và bên cạnh đó cũng có
những bản chi tiết về phương án quản trị theo mô hình mà bên bán lựa chọn. Người
bán sẽ hỗ trợ người mua bằng chương trình huấn luyện trước khai trương và sau
khai trương. Ngoài ra, người bán còn phải hỗ trợ hệ thống francise bằng các chương
trình nghiên cứu sản phẩm mới, đào tạo tại chỗ, tư vấn tại chỗ thông qua các chuyên
gia đại diện quảng cáo khuyến mãi và mua hàng sỉ rá giẻ. Ngoài đội ngũ chuyên gia
hỗ trợ công khai, chủ thương hiệu có thể sử dụng thêm đội ngũ cộng tác viên bí mật
và kiểm tra đột xuất về chất lượng sản phẩm, cách thức kinh doanh của đối tác để
phát hiện những sai sót cơ bản ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu.
4.2.Người mua franchise
-Xác định nguồn mua :
Thông thường, người mua franchise hay tìm đến gõ cửa trực tiếp các doanh
nghiệp hoặc cá nhân sở hữu thương hiệu và mô hình kinh doanh mà mình cho là
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
11
§Ò ¸n m«n häc
đang thành công và muốn mua nhượng quyền. Đây có lẽ là cách phổ biến mà các
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang áp dụng vì thị trường
chưa có nhiều thương hiệu bán franchise để lựa chọn. Tuy nhiên, nếu chỉ làm theo
phương thức này sẽ giới hạn rất nhiều sự lựa chọn.
Thông tin về các sản phẩm và thương hiệu có bán franchise trên thế giới có
thể tìm thấy trên nhiều tài liệu in ấn chuyên đề về franchise tại các nước, ví dụ như
sổ niên giám franchise (tương tự sổ niên giám điện thoại), sách báo, tạp chí…
-Điều tra, đánh giá hoạt động của hệ thống:
Việc điều tra, đánh giá năng lực, uy tín và tiềm năng của các hệ thống
phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Về pháp nhân, doanh nghiệp
có một số lựa chọn phổ biến khi thành lập doanh nghiệp. Đó là : Hộ kinh doanh cá
thể, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.
Mỗi mô hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm riêng thích hợp với các
loại hình kinh doanh khác nhau; nhu cầu góp vốn và huy động góp vốn khác nhau,
quyền hạn và trách nhiệm khác nhau, và một yếu tố khá quan trọng nữa là cách tính
thuế có khác nhau
+Chọn vị trí mặt bằng kinh doanh
Cho dù mô hình kinh doanh của hệ thống franchise có tuyệt vời đến đâu, nếu
chọn sai vị trí để mở cửa hàng franchise thì gần như chắc chắn sẽ nắm phần thất bại,
vì vậy chúng ta phải lựa chọn thật kỹ lưỡng một vị trí kinh doanh tạo thành lợi thế
kinh doanh. Vị trí mặt bằng đảm bảo những yêu cầu sau:
Dễ thấy, dễ tìm: Tạo điều kiện cho khách hàng tìm đến với doanh nghiệp
mình dễ dàng hơn
Thuận tiện: Thuận tiện cho giao thông, vận chuyển cũng là một lợi thế. Bãi
đậu xe hợp lý cũng là một yếu tố quyết định
Hàng xóm tốt và phù hợp: sản phẩm, dịch vụ của công ty phải phù hợp với
mặt bằng chung về kinh tế và trình độ của khu dân cư. Tránh gần các cơ quan chức
năng hay cộng đồng như công an phường, phường đội, toà án, uỷ ban, bệnh viện,
nhà trẻ….
-Ký hợp đồng thuê nhà : Sau khi chọn được một mặt bằng lý tưởng,bước kế tiếp là
làm thế nào để thuê mặt bằng đó với những điều kiện tốt nhất cho phép.
Sau đây là một số hạng mục quan trọng trong một hợp đồng thuê nhà :
+Thời gian thuê : ít nhất là 5 năm, càng lâu càng tốt.
+Tiền đặt cọc: trung bình từ 3-6 tháng và được trừ vào 3-6 tháng cuối của hợp đồng
thuê nhà. Hạn chế đặt cọc 1 năm trở lên vì sẽ là gánh nặng cho quỹ tiền mặt và vốn
lưu động của chủ cửa hàng franchise
+Phương thức thanh toán: thường trả bằng mặt và bằng USD (đa số). Thanh toán
theo từng quý hoặc 6 tháng 1 lần.
+Thời gian miễn phí: yêu cầu chủ nhà hỗ trợ cho ít nhất là một tháng phí tiền nhà
-Huấn luyện nhân viên :
Mục tiêu của các chương trình huấn luyện là để hướng dẫn đối tác mua
franchise cách thức để vận hành một cửa hàng franchise thành công giống như các
cửa hàng của chủ thương hiệu. Thông thường các lĩnh vực sau đây sẽ được bao gồm
trong chương trình huấn luyện : Hoạt động hàng ngày của cửa hàng, kế toán sổ
sách, kinh doanh tiếp thị, cung cách phục vụ, quy trình sản xuất, quản trị nhân sự…
-Chuẩn bị khai trương.
Công tác chuẩn bị khai trương thường được hỗ trợ bởi chủ thương hiệu hay
người bán franchise, ít nhất là về mặt kinh nghiệm.Nhiều hệ thống franchise tổ chức
ngày khai trương nội bộ (soft opening) trước ngày khai trương chính thức (grand
opening) từ vài ngày đến vài tuần để chạy thử. Để có một ngày khai trương thành
công đòi hỏi một sự chuẩn bị chu đáo từ khâu tổ chức đến khâu quảng cáo, quảng
bá và tiếp thị.
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
14
§Ò ¸n m«n häc
5.Kỹ năng cần thiết để điều hành hiệu quả một cửa hàng franchise và thách
thức của việc mua franchise
5.1.Kỹ năng
Để điều hành hiệu quả một doanh nghiệp dịch vụ, người mua franchise cần
phải chuẩn bị cho mình những kỹ năng kiến thức bài bản về quản trị kinh doanh.
Sau đây là một số kỹ năng tối thiểu :
-Kỹ năng kinh doanh: Là khả năng ứng dụng những kiến thức tổng quát về thị
trường, quảng bá, quảng cáo, quản trị, pháp lý, kết toán, tài chính…Người mua
franchise nên đầu tư thời gian cho việc thu thập những kiến thức nêu trên càng sớm
càng tốt để có thể thấu hiểu được mô hình kinh doanh franchise, mở một cửa hàng
mới và điều hành quản lý nó như thế nào.
-Kỹ năng điều hành : Là khả năng điều hành các hoạt động hàng ngày của cửa hàng.
Một kỹ sư về công trình dân dụng cần phải biết cách làm đường, xây nhà, xây cầu
trong khi một kế toán thuế phải hiểu rõ cách tính thuế hay khai thuế.Người mua
năm. Trong đó, Café Trung Nguyên là người đầu tiên áp dụng mô hình Franchise
tại Việt Nam và có thể nói đã đạt được những thành tựu to lớn trong những giai
đoạn đầu tiên xây dựng và phát triển mô hình mới mẻ này và đang mở rộng ra nước
ngoài (Nhật Bản, Singapore, Thái Lan…). Các thương hiệu khác, như: Trà Qualitea,
Phở 24, Kinh Đô… cũng đang xây dựng hệ thống Franchise trong nước, từng bước
mở rộng ra nước ngoài. Trên thực tế, hoạt động Franchise diễn ra mạnh mẽ hơn
nhiều nhưng không chính thức, như: các cơ sở bảo dưỡng ôtô, xe gắn máy do
Honda, Suzuki, Yamaha … ủy quyền; các cơ sở đào tạo tin học, công nghệ thông
tin được cấp bằng quốc tế, như: Oracle, Aptech … tại Việt Nam; các cơ sở chăm
sóc sắc đẹp TIGI …
Mặc dù hoạt động Franchise đã thâm nhập Việt Nam gần 15 năm nhưng chỉ
đến gần đây Chính phủ mới có Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy
định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Trong đó, có đề cập đến hoạt động “cấp
phép đặc quyền kinh doanh, theo đó Bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu
hàng hóa và bí quyết của Bên giao để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực dịch vụ thương mại. Thời hạn Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh do hai
Bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật” là “một trong những nội dung chuyển
giao công nghệ”. Như vậy, theo quy định đầu tiên và hiện hành của pháp luật Việt
Nam thì hoạt động Franchise được gọi chính thức là cấp phép đặc quyền kinh doanh
thuộc hoạt động chuyển giao công nghệ có đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn
hiệu hàng hóa) nên có người gọi đây là nhượng quyền thương hiệu, Cũng theo quy
định hiện hành, hoạt động nhượng quyền này vừa phải đăng ký Hợp đồng chuyển
giao công nghệ (bắt buộc đăng ký: +khi chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam;
+Từ Việt Nam ra nước ngoài;+Chuyển giao trong nước có gía trị từ 500.000.000
đồng trở lên, nếu dưới 500.000.000 đ thì tự nguyện đăng ký), vừa phải đăng ký (bắt
buộc mới có hiệu lực) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng (Hợp
đồng license) các đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định pháp luật về sở hữu
công nghịêp mà cả 2 loại Hợp đồng này đều do cơ quan thuộc Bộ Khoa học & Công
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
16
Bên nhận quyền tự mình tiến hành mua bán, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện:
1.Theo cách thức tổ chức kinh doanh do Bên nhượng quyền quy định và được gắn
với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền.
2.Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho Bên nhận quyền trong việc
điều hành công việc kinh doanh.
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
17
§Ò ¸n m«n häc
Như vậy, theo Luật thương mại (2005) có hiệu lực từ 01/01/2006 thì trước
khi nhượng quyền thương mại, Bên dự kiến nhượng quyền phải đăng ký với Bộ
Thương mại. Điều này nghĩa là, việc đăng ký hợp đồng nhượng quyền thương mại
sẽ về đúng nơi, phù hợp với bản chất của nó là Bộ Thương mại thay cho việc đăng
ký tại Cục Sở hữu Trí tuệ trước đây, còn việc sử dụng license về nhãn hiệu hàng
hóa cũng không còn bắt buộc phải đăng ký hợp đồng license như quy định hiện
hành mà là tự nguyện của hai Bên (vấn đề này sẽ càng được làm rõ hơn trong Luật
sở hữu trí tuệ mà Quốc hội sắp ban hành).
Kết quả thực tiễn tại nhiều nước trên thế giới chứng minh franchise đã và
đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cả một nền kinh tế. Đối với
Việt Nam, thông qua hình thức franchise bí quyết kinh doanh của những doanh
nghiệp thành công sẽ được chuyển giao và nhân rộng cho nhiều doanh nghiệp khác
và như thế sẽ hạn chế nhiều thiệt hại rủi ro cho nên kinh tế nói chung.
Hoạt động nhượng quyền được coi là khởi nguồn tại Mỹ vào giữa thế kỷ 19,
lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer kỹ cho thực hiện hợp đồng
nhượng quyền kinh doanh. Hiện này , hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại hơn
160 nước trên thế giới với tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000.
Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại VIệt Nam.
Khởi đầu từ những năm 1990, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài
nước, các hoạt động đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD
vào năm 1998, và từ đó đến này liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo
hiệu để tránh chồng chéo và cũn trùng khớp với pháp luật về thương mại của nhiều
nước trên thế giới. Cũng thoe các quan chức cao cấp của Vụ pháp chế thuộc Bộ
Thương mại thì do mô hình kinh doanh nhượng quyền còn quá mới mẻ tại Việt
Nam nên việc xây dựng một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cũng không
phải là chuyện đơn giản. Trước mắt, các doanh nghiệp trong và ngoài nước muốn
ký hợp đồng franchise phải đăng ký với Bộ Thương Mại nơi có đầy đủ nhất các
thông tin cập nhật về hợp đồng gồm quyền sử dụng các bí quyết nghề nghiệp, tổ
chức bán hàng, cung cấp dịch vụ, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, biểu
tượng…
1.2.Thực trạng phát triển nhượng quyền tại Việt Nam
Trên thị trường Việt Nam, hiện chỉ có vài doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh
vực này như Trung Nguyên, Phở 24…
Sau đây chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của
từng doanh nghiệp để thấy được thực trạng phát triển nhượng quyền tại Việt Nam
Trung Nguyên:
Trung Nguyên có lẽ là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng hình thức
franchise ở quy mô lớn. Nói tới nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam người ta
hay nghĩ ngay đến thương hiệu cà phê Trung Nguyên. Tính đến thời điểm giữa năm
2002, đã có hàng trăm quán cà phê mang thương hiệu cà phê Trung Nguyên mọc ra
trên khắp 61 tỉnh thành của Việt Nam, chủ yếu kinh doanh nhượng quyền. Thực vậy
trong số hàng trăm quán cà phê này chỉ có duy nhật một vài quản là thuộc quyền sở
hữu 100% của Trung Nguyên. Nói khác đi, hầu như toàn bộ các quán cà phê mang
nhãn hiêu Trung Nguyên đều là các quán cà phê nhượng quyền, do nhiều chủ riêng
biệt khác nhau bỏ tiền ra đầu tư và tự kinh doanh giống như hình thức các đại lý.
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
19
§Ò ¸n m«n häc
Tuy Trung Nguyên có yêu cầu các đối tác mua franchise phải tuân thủ cách bài trí
và phương thức pha chế cà phê cũng như cách quản lý đồng bộ với hình ảnh chung
của cả hệ thống nhưng trên thực tế điều kiện tiên quyết nhất là phải mua cà phê do
kinh doanh đặc thù dễ nhân rộng. Chiến lược đường dài của công ty là sẽ tiếp tục
nhân rộng mô hình quán phở tại Việt Nam và nước ngoài thông qua hình thức bán
franchise và hợp tác kinh doanh.
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
20
§Ò ¸n m«n häc
Trong 2 năm đầu, thông qua các quán phở đầu tiên, Phở 24 tập trung mạnh
vào xây dựng tính đồng bộ xuyên suốt tất cả các khâu của hoạt động kinh doanh
Phở 24 với mục đích tạo nền tảng vững mạnh cho chiến lược franchise dài hạn sau
này. Nói khác đi, Phở 24 chọn hướng đi tập trung vào chất lượng và chiều sâu của
mô hình kinh doanh nói chung và mô hình nhượng quyền kinh doanh nói riêng
trước khi bành trướng ra theo chiều rộng.
Để đảm bảo các thủ tục pháp lý được chặt chẽ ngay từ đầu, Phở 24 đã đầu tư
đáng kể vào các khâu đăng ký nhãn hiệu trong và ngoài nước, nhở luật sư tư vấn
soạn thảo hợp đồng nhượng quyền mẫu… Các khâu về tổ chức, đào tạo, huấn luyện
cũng được chuẩn bị từng bước để có thể chuyển giao và hỗ trợ đắc lực cho phía đối
tác mua franchise. Phở 24 quyết định áp dụng hình thức nhượng quyền công thức
kinh doanh, trong đó phía đối tác mua franchise được nhượng quyền sử dụng
thương hiệu và hướng dẫn và đào tạo chi tiết cách thức tổ chức, điều hành và quản
lý mô hình quán Phở 24 đã được chứng minh thành công trong 2 năm qua.
Chương trình đào tạo cho đối tác mua franchise Phở 24 bao gồm thời gian 2-
3 tuần huấn luyện tại trung tâm đào tạo của tập đoàn dưới hình thức lớp học lý
thuyết và thực hành ngay tại các cửa hàng phở đang hoạt động. Phía đối tác mua
franchise được yêu cầu gửi ít nhất một nhân viên quản lý, một nhân viên bếp và một
nhân đại diện chủ đến trung tâm để được huấn luyện miễn phí. Các nhân viên này
sau đó sẽ cùng với đội ngũ chuyên gia của tập đoàn huấn luyện toàn thể nhân viên
còn lại của cửa hàng franchise. Đội ngũ chuyên gia của tập đoàn này sẽ có mặt tại
cửa hàng franchise trước và sau ngày khai trương ít nhất 3 ngày.
Để được cấp quyền sử dụng thương hiệu và công thức vận hành một quán
Phở 24 với những tiêu chuẩn đồng bộ, đối tác mua franchise phải trả cho chủ
chỗ chính đối tác mua franchise- người chủ điều hành của quán phở nhượng quyền.
Thật vậy, cho dù mọi thứ trong quán phở nhượng quyền đều tuân thủ các tiêu chuẩn
của Phở 24 nhưng nếu chủ quán không quan tâm hay thiếu kinh nghiệm vì chỉ là
một nhà đầu tư đơn thuần thì khó có thể cho ra những quyết định đúng đắn và như
thế mô hình kinh doanh nhượng quyền sẽ không đạt kết quả tối ưu, ảnh hưởng ít
nhiều đến hình ảnh chung của thương hiệu. Ngược lại, trong một số trường hợp
khác nếu đối tác mua franchise có quá nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nhà hàng
thì lại có xu hướng tự làm theo cách của mình vì nghĩ mình đã quá rành.
Đào tạo nhân viên hay cán bộ quản lý không khó những đào tạo và hướng
dẫn chủ quản phở nhượng quyền mới thật sự là một khó khăn lớn vì họ vừa là chủ
đầu tư, vừa là đối tác và thường không có nhiều thời gian như nhân viên. Và đối với
ngành kinh doanh ẩm thực, chủ quán đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Do đó,
việc nghiên cứu hồ sơ, phỏng vấn để “ chọn mặt gửi vàng” đối tác mua franchise
phải được đặt lên hàng đầu. Những cũng như việc tuyển chọn nhân viên, cho dù đã
qua nhiều cuộc sát hạch rất kỹ lưỡng nhưng công ty vẫn có thể chọn “ nhầm “
người. Và đây là một rủi ro, một cái giá phải trả đối với chủ thương hiệu khi bán
franchise.
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
22
§Ò ¸n m«n häc
2. Đánh giá chung về nhượng quyền ở VN
2.1. Đặc điểm
Mặc dù đã xuất hiện và phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới hơn 6 thập kỷ
qua nhưng nhìn chung nhượng quyền thương hiệu vẫn là một hình thức kinh doanh
hết sức mới mẻ với người làm luật và các doanh nghiệp Việt Nam. Nhượng quyền
thương hiệu xuất hiện ở Việt Nam cùng với sự phát triển của các công ty đi đầu
trong kinh doanh nhượng quyền như Trung Nguyên, Kinh Đô, Phở 24…Để có
được những thành công của mình như ngày hôm nay, các công ty trên đã rất táo bạo
và đầu tư rất nhiều tiền bạc, công sức, trí lực để có thể đứng vững và phát triển
được mô hình kinh doanh được coi là rất mới mẻ này.
nhiều doanh nghiệp tiếp cận phương thức này và đây chính là thời điểm thuận lợi
cho mô hình nhượng quyền thương mại bùng nổ với hàng chuỗi thương hiệu Việt
Nam xuất hiện trên thị trường quốc tế.
Tại Việt Nam các hình thức kinh doanh franchise còn hạn chế ở một số
ngành, lẻ tẻ và không chuyên nghiệp vì trên thực tế, không nhiều các doanh nghiệp
Việt Nam có đủ khả năng và tự tin để kinh doanh một mô hình kinh doanh mới mẻ
này.
Việt Nam là thị trường trẻ, năng động đang được các chuyên gia nước ngoài
đánh giá là một thị trường lý tưởng của hoạt động bán lẻ và trong vài năm tới, hoạt
động này sẽ bùng nổ với sự đổ bộ của nhiều nhãn hiệu trong và ngoài nước thông
qua phương thức nhượng quyền thương mại. Việt Nam được xem là thị trường tiềm
ẩn, chưa được khai phá. Với những ưu thế như chính trị ổn định, tỷ lệ người biết
chữ cao, thị trường trẻ với 70% dân số dưới 30 tuổi, sức mua ngày càng tăng, Việt
Nam đang có nhiều lợi thế để thực hiện các hoạt động nhượng quyền thương mại`
Hình thức kinh doanh mới mẻ này còn thích hợp đặc điểm người Việt Nam
là thích làm chủ khi chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh, và các nguồn lực về tài
chính và nhân lực tương đối khiêm tốn.
2.2.Các loại sản phẩm
Mô hình nhượng quyền trên thế giới đã được áp dụng rất phổ biến trên nhiều
loại hình kinh doanh và nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay, dù rằng ở Việt Nam,
hoạt động nhượng quyền vẫn đang phát triển với tốc độ tương đối cao, nhưng theo
đánh giá, sự phát triển này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của thị
trường này. Các sản phẩm, dịch vụ tham gia nhượng quyền chủ yếu vẫn chỉ tập
trung vào các ngành nghề về thực phẩm, thủ công và may mặc…
Doanh nghiệp đi tiên phong trong việc áp dụng thành công phương thức kinh doanh
nhượng quyền thương mại chính là Công ty Cà phê Trung Nguyên. Một hệ thống
quán nhượng quyền Trung Nguyên đã phát triển khắp đất nước và lan tỏa ra ngoài
thế giới, góp phần giới thiệu rộng rãi hương vị cà phê Trung Nguyên đến với mọi
người. Hình thức kinh doanh này rất phù hợp với các nước đang phát triển như Việt
Nam. Trên thế giới, nhiều thương hiệu nổi tiếng như McDonald’s, 7-Eleven Inc,
Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều điều trở ngại khác cho doanh nghiệp Việt Nam
áp dụng phương thức kinh doanh này. Đó là khung pháp lý chưa rõ ràng. Chỉ riêng
khái niệm franchise trong tiếng Việt, Bộ Thương Mại thì gọi là “nhượng quyền
thương mại”, trong khi Bộ Khoa học và Công nghệ gọi là “cấp quyền kinh doanh”.
Các loại giấy tờ xin phép cũng mỗi nơi mỗi khác. Luật về bảo hộ tác quyền cũng
chưa đủ mạnh, thủ tục khiếu nại cũng rất phiền hà. Hơn nữa hiện nay rất ít công ty
luật Việt Nam đủ am hiểu để tư vấn cho doanh nghiệp về lĩnh vực này. Tuy nhiên,
với tình hình thực tế hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của
WTO thì chắc chắn rằng, franchise sẽ phát triển rất mạnh trong thời gian tới, bởi
những thế mạnh kể trên sẽ kéo theo sự phát triển đồng thời cho nhiều lĩnh vực khác
như tư vấn luật, quảng cáo, dịch vụ…
NguyÔn Huy Toµn Líp TMQT 45
25