Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn doc - Pdf 16

I. Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn
Chỉ tiêu phân tích Công thức tính Năm 2008 Năm 2009
Tỷ số nợ Nợ phải trả/ tổng
tài sản
47,0
289.205
97360
=
39,0
350.192
810.74
=
Tỷ số nợ trên VCH Nợ phải trả/VCSH
9,0
930.107
360.97
=
64,0
540.117
810.74
=
Tỷ suất tự tài trợ Vốn CSH/tổng
nguồn vốn
5,0
289.205
107930
=
61,0
350.192
540.117
=

064.28
=
• Tỷ số nợ phản ánh trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp đầu tư thì có 47
đồng tài sản(2008), 39 đồng (2009) từ vốn vay bên ngoài.Có thể thấy trong
năm 2008 hệ số này khá cao.Tỷ lệ nợ phải trả chiếm gần 50% tổng tài sản.
Nó phản ánh khả năng vay vốn từ bên ngoài nhiều, mức độ rủi ro về tài
chính cao, phụ thuộc vào các chủ nợ bên ngoài. Ngoài ra ta cũng có thể thấy
trong năm 2008, lãi suất đi vay ngân hàng khá cao.Có thời điểm lên đến
15% , trong khi tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp trong
năm 2008 chỉ có 9%. Như vậy doanh nghiệp đi vay càng nhiều thì càng sẽ
càng lỗ nhiều, gây bất lợi cho doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu năm 2008 là 17,8%.Đến năm 2009, tỷ số nợ đã giảm đi 17%, phản
ánh mức độ rủi ro tài chính thấp hơn năm 2009, doanh nghiệp ít phụ thuộc
vào các chủ nợ bên ngoài.Có thể thấy cơ cấu vốn của doanh nghiệp năm
2009 an toàn hơn năm 2008.Thể hiện ở chỗ, năm 2008 tỷ số nợ trên vốn chủ
sở hữu là 0,9 đến năm 2009 còn 0,64. Tỷ suất tự tài trợ đã được cải thiện,
năm 2009 tỷ suất tự tài trợ tăng lên 22%.
Năm 2009 tỷ số nợ giảm do 2 nguyên nhân:
1. đó là do các khoản nợ phải trả giảm đáng kể, giảm 23%
trong đó giảm chủ yếu là các khoản nợ dài hạn.các khoản nợ dài
hạn giảm 90% và nợ ngắn hạn tăng 1%.Có thể thấy trong kỳ
doanh nghiệp đã trả các khoản nợ dài hạn (chủ yếu đi vay ngân
hàng quân đội) Doanh nghiệp trả các khoản nợ dài hạn, trong khi
đó các khoản nợ ngắn hạn thì không được giảm mà còn tăng
thêm. Như vậy trong ngắn hạn doanh nghiệp vẫn chịu rủi ro trong
thnah toán. Các khoản nợ dài hạn được giảm nhiều như vậy cũng
không tốt, bởi lẽ đây là nguồn vốn có tính ổn định, lâu dài. Nó
giúp cho doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, mua sắm các
trang thiết bị đầu tư cho sản xuất, giúp cho doanh nghiệp phát
triển ổn định. Cũng có thể thấy trong năm 2008, tỷ số nợ trê vốn

Tỷ số nợ dài hạn tăng do 2 nguyên nhân:
1. Nợ dài hạn giảm 90% là do trong năm 2009 Dn đã trả toàn bộ khoản nợ
cũ và nợ mới phát sinh trong kỳ là 36.136 triệu đồng.cuối năm 2009 DN
chỉ còn khoản ký cược, ký quỹ và khoản trích lập dự phòng thất nghiệp.
Khoản vay dài hạn giúp DN đầu tư mới, mở rộng sản xuất.trong năm
2009, Doanh nghiệp đã trả toàn bộ các khoản nợ dài hạn cả nợ cũ lẫn nợ
phát sinh. Điều này phản ánh cơ cấu vốn an toàn cho doanh nghiệp , khả
năng tài chính vững vàng. Nhưng một điều đáng chú ý trong năm
Daonh nghiệp có phát sinh khoản vay dài hạn là 12.122 triệu đồng,
nhưng doanh nghiệp đã trả ngay. Hơn thế nữa, trong kỳ DN còn trả hết
các khoản nợ vay ngắn hạn ngân hàng. Thể hiện uy tín, tín dụng của
công ty đối ngân hàng cao. Vay dài hạn được vay trên 1 năm nhưng
doanh nghiệp đã trả ngay. Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng quá thấp so với
vốn chủ sở hữu cũng không phải là tốt, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn
chưa cao. Doanh nghiệp chưa bết tận dụng đòn bẩy tài chính cho mức
sinh lời tăng lên.
2. Vốn chủ sở hữu
Trong năm 2009 vốn chủ sở hữu tăng lên 9% là do các quỹ đầu tư phát triên tăng
22%, quỹ dự phong tài chính tăng 23,6% trong khi đó lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối giảm 85%. Lợi nhuận sau thuế giảm có thể do trong kỳ DN đã dùng lợi
nhuân sau thuế để trả các khoản vay nợ đến hạn. Điều này cũng là hợp lý bởi lẽ
trong kỳ Dn đã trả các khoản nợ dài hạn và ngắn hạn vay ngân hàng để duy trì cơ
cáu vốn an toàn.Tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu chậm hơn tốc đọ giảm của Nợ dài
hạn khiến cho tỷ số nợ Dài hạn giảm. Điều này thể hiện doanh nghiệp muốn có cơ
cấu kinh doanh an toàn, ít rủi ro, ít phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Nhưng các
quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính tăng nhiều, trong khi đó, tài sản dài
hạn thanh lý nhưng vẫn chưa được mua mới. Thể hiện sự lãng phí vốn, hiệu quả sử
dụng vốn chưa cao. Doanh nghiệp nên giữ một lượng quỹ vừa đủ để còn đầu tư,
mở rộng sản xuất.
• Tỷ số tự tài trợ tài sản dài hạn

giảm 1 tỷ tương ứng với 36% . Điều này càng thể hiện chất lượng sản phẩm của
DN ngày càng được nâng cao.Ngoài ra,giá vốn hàng bán cũng tăng 35.145 triệu
tương ứng với 10%,tốc độ tăng này do 2 nguyên nhân.
- Thứ nhất, đó là do trong kỳ giá nguyên vật liệu tăng cao ảnh hưởng đến giá
vốn hàng bán.Giá bột mì tăng 40% , bột mì chiếm 18% chi phí nguyên vật
liệu đầu vào. Đường chiếm 25% chi phí nguyên vật liệu cũng tăng 22% so
năm 2008.
- Thứ hai, đó là do trong kỳ doanh nghiệp đã tăng sản lượng tiêu thụ nên đòi
hỏi phải nhập nhiều nguyên liệu để sản xuất
Từ những phân tích trên có thể thấy năm 2009 với công tác quản lý tốt, có hiệu quả
các chi phí đầu vào nên doanh nghiệp đã đạt được tốc độ tăng ổn định về lợi
nhuận.
 Chi phí lãi vay trong kỳ giảm là do trong kỳ DN đã thanh toán hết các
khoản nợ dài hạn và một phần các khoản nợ ngắn hạn.chi phí lãi vay
giảm thể hiện rủi ro mất khả năng thnah toán lãi vay thấp.Doanh
nghiệp an toàn về mặt tài chính.
⇒ Như vậy qua phân tích 4 chỉ tiêu về khả năng thanh toán dài
hạn có thể thấy trong năm 2008 DN có cơ cấu về tài chính kém
an toàn, rủi ro tín dụng cao, sử dụng chưa hiệu quả vốn, lãng
phí vốn. Đến năm 2009, tình hình tài chính đã được cải thiện
rõ.Cơ cấu vốn an toàn hơn, Doanh nghiệp phát triển, kinh
doanh có hiệu quả, khả năng tài chính vững vàng. Xét trong
dài ạn thì đây không phải là cơ cấu vốn kinh doanh có hiệu
quả, vì DN sử dụng quá ít vốn vay dai hạn trong khi đó nhu
cầu để đàu tư , mở rộng trang thiết bị thì chưa được đầu tư
đúng mức.
II. Khả năng sinh lời
Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2008 Năm 2009
Khả năng
sinh lời

%4,4
754.462
363.20
=
Khả năng
sinh lời của
tổng tài sản
Lợi nhuận sau
thuế/ tổng tài
sản BQ
%4,9
2
190.197289.205
18993
=
+
%23,10
2
289.205350.192
20363
=
+
Khả năng
sinh lời của
vốn chủ sở
Lợi nhuận sau
thuế/ vốn CSH
BQ
%8,17
2

2009 là -653.Điều này là do doanh thu từ h/đ tài chính năm 2009 tăng 637 triệu
đồng tương ứng với 91%. Điều này có thể do năm 2009 nền kinh tế đang thoát dần
ra khỏi giai đoạn khủng hoảng nên DN đã làm hiệu quả hơn. Chi phí từ hoạt động
tài chính cũng giảm đáng kể, giảm 70% là do năm 2009 DN đã thanh toán 90
%khoản nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Chi phí bán hàng tăng do số lượng tiêu thụ sản
phẩm tăng lên làm cho chi phí bán hàng tăng lên 14% tốc độ tăng nhnah hơn tốc
độ tăng của DTT. Điều đó thể hiện DN quản lý chưa hiệu quả công tác bàn hàng.
Chi phí quản lý DN tăng 1,4 % tốc độ tăng chậm hơn tốc đọ tăng của DTT hươn
nữa tỷ trọng chi phí QLDN đã giảm thể hiện công tác quản lý chi phí QLDN có
hiệu quả.
 Tỷ suất LNT trên tổng doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 tổng dthu có 4.5 đồng lợi nhuận (2008) có 4,4
đồng năm 2009.chỉ tiêu này phản ánh khả năng sih lời từ các hoạt đọng của DN.
Tuy nhiên so với mức trung bình ngành thì mức sinh lời của Dn cũng không phải
là cao.chỉ tiêu này năm 2009 giảm do tổng lợi nhuận tăng 7% tăng chậm hơn tốc
độ tăng của tổng thu nhập, tổng thu nhập tăng 10%. Tổng chi phí tăng lên 10%
nên làm cho lợi nhuận chỉ tăng có 7%. Trong kỳ có chi phí khác giảm 45% tương
ứng 1000 triệu đồng trong khi đó thu nhập khác giảm 39% tương ứng 1800 triệu
đồng. giảm chi phí này là hợp lý vì doanh thu giảm. Tổng chi phí tăng do chi phí
bán hàng tăng 14%, giá vốn tăng 10%, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 1%.chi
phí bán hàng tăngdo số lượng hàng hóa tiêu thụ trong kỳ tăng thêm vào đó là trong
năm vừa qua DN đầu tư nhiều cho công tác Maketing, quảng cáo sản phẩm để cnhj
tranh với các đối thủ trên thị trường nên cũng lam cho chi phí bán hàng tăng. Chi
phí bán hàng vẫn nằm trong khả năng chấp nhận được. Vì trong năm 2008, tỷ trọng
chi phí bán hàng so doanh thu là 5,6 đến năm 209 tỷ trọng này là 5,8. chi phí quản
lý doanh nghiệp tăng 1% nhưng tỷ trọng chi phí quản lý doanh ghiệp so DTT năm
2009 đã giảm từ 4,8% xuống 4,7% phản ánh công tác quản lý chi phí tốt, có hiệu
quả. Giá vốn hàng bán tăng do giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và số lượng
nguyên vật liệu đầu vào tăng nên giá vốn tăng 10% cũng có thể chấp nhận
được.tổng chi phí tăng ngang cùng tốc độ tăng của doanh thu đã làm cho lợi nhuận

định nhưng đầu tư mua mới các trang thiết bị này ít hơn so phấn thanh lý. Điều này
là do doanh nghiệp trong năm 2009, đã thanh toán 90% các khoản nợ dài hạn và
không có nhu cầu vay thêm vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất.Tuy nhiên lý do chưa
mở rộng, đầu tư phát triển dài hạn cũng là chiến lược phát triển của doanh
nghiệp.Bỏi vì ta cũng có thể thấy Hải Hà sản xuất những bánh kẹo phổ biến phục
vụ chủ yếu cho người có thu nhập thấp nên mức sinh lời không cao nhưng hiệu
suất sử dụng tài sản lớn. ta cũng có thể thấy Bibica cũng là doanh nghiệp sản xuất
những sản phẩm thường có hiệu suất sử dụng tổng tài sản trên 5 nhưng tỷ suất sinh
lời doah thu là 3.6% thấp hơn so Hải Hà.
Từ phân tích khả năng sinh lời tổng tài sản ta có thể thấy được chính sách thwuong
mại của doanh nghiệp, bán những mặt hàng thông thường để tăng hiệu suất sử
dụng tài sản và chấp nhận mức sinh lời thấp. Tuy nhiên ta cũng tháy hiệu suất sử
dụng tài sản tăng mà lại do tổng tài sản giảm chủ yếu do tài sản cố định giảm thì
điều này không tốt, phản ánh năng lực quản lý chưa có hiệu quả của doanh nghiệp.
Hơn nữa trong kỳ có những tài sản đã trích hết khấu hao nhưng vẫn được đưa vào
sử dụng, doanh nghiệp mua sắm những tài sản cố định mới ít điều này càng thể
hiện năng lực quản lý của doanh nghiệp chưa cao.Để phát triển dài hạn ổn định thì
doanh nghiệp cần đầu tư, mở rộng sản xuất, sản xuất những loại sản phẩm có tính
khác biệt hóa, nâng cao năng lực quản lý, tiết kiệm chi phí để tăng hiệu suất sử
dụng vốn, tăng khả năng sinh lời.
3. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 17,8 đồng lợi
nhuận năm 2008, và 18 đồng năm 2009. Thể hiện lợi nhuận cuối cùng dành cho
vốn chủ sở hữu tăng nhưng không đáng kể.
Tỷ suất sinh lời tăng do lợi nhuận tăng 10% và vốn chủ sở hữu tăng 7%. Điều này
phản ánh khả năng sinh lời tốt của doanh nghiệp, doanh nghiệp hoạt đọng kinh
doanh tôt hơn năm 2008
Trong năm 2009 vốn chủ sở hữu tăng lên là do các quỹ đầu tư phát triên tăng
22%, quỹ dự phong tài chính tăng 23,6% trong khi đó lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối giảm 85%. Lợi nhuận sau thuế giảm có thể do trong kỳ DN đã dùng lợi

0,9 đến năm 2009 còn 0,64. Tỷ suất tự tài trợ đã được cải thiện,
năm 2009 tỷ suất tự tài trợ tăng lên 22%. do các khoản nợ phải
trả giảm đáng kể, giảm 23% trong đó giảm chủ yếu là các khoản
nợ dài hạn.các khoản nợ dài hạn giảm 90% và nợ ngắn hạn tăng
1%.Có thể thấy trong kỳ doanh nghiệp đã trả các khoản nợ dài
hạn (chủ yếu đi vay ngân hàng quân đội) Doanh nghiệp trả các
khoản nợ dài hạn, trong khi đó các khoản nợ ngắn hạn thì không
được giảm mà còn tăng thêm. Như vậy trong ngắn hạn doanh
nghiệp vẫn chịu rủi ro trong thnah toán. Các khoản nợ dài hạn
được giảm nhiều như vậy cũng không tốt, bởi lẽ đây là nguồn
vốn có tính ổn định, lâu dài. Nó giúp cho doanh nghiệp đầu tư,
mở rộng sản xuất, mua sắm các trang thiết bị đầu tư cho sản xuất,
giúp cho doanh nghiệp phát triển ổn định. Cũng có thể thấy trong
năm 2008, tỷ số nợ trê vốn chủ sở hữu quá cao. Đây cũng là lý do
mà đến năm 2009, các khoản nợ dài hạn không tăng thêm, khă
năng huy động vốn của DN từ bên ngoài giảm.
Trong năm 2009, phản ánh cơ cấu vốn an toàn hơn năm 2008 nhưng hiệu quả sử
dụng vốn chưa được cải thiện.trong năm 2008, doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn
dài hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn và 1 phần cho tài sản ngắn hạn (55143),
nguồn dài hạn chủ yếu là đi vay dài hạn. Năm 2009, doanh nghiệp đã dùng vốn dài
hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn (52942), nguồn vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu.
Nếu như năm 2009, doanh nghiệp biết sử dụng đòn bẩy tài chính thì sẽ có tỷ suất
sinh lời cao hơn.Bởi vì trong năm 2009, tỷ suất sinh lời tổng tài sản của DN đạt
10,23%, trong khi đó lãi suất vay bình quân khoảng 9-10% thì khi đó tỷ suất sinh
lời trên vốn chủ sở hữu sẽ không dừng lại ở mức 18%.
⇒ Tóm lại trong năm 2009, doanh nghiệp đã tăng mức sinh lời của vốn chủ sở
hữu nhưng chưa hiệu quả , cơ cấu tài chính an toàn .bởi vì doanh nghiệp sử
dụng chính sách thương mại là sản xuất những mặt hàng thông thường có
giá trị thấp trong khi đó không mở rộng đầu tư quy mô sản xuất, nên làm
cho mức sinh lời không cao. Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status