Y học cổ truyền với bệnh nuy chứng
Gân mạch con người mềm nhũn ra vì lâu ngày không vận động theo ý muốn được mà dẫn
đến teo cơ, Đông y còn gọi là nuy chứng. Trên lâm sàng thường gặp tình trạng này ở hai
chi dưới. Nuy chứng chủ yếu do nguyên khí tổn thương, thì tinh hư không rải khắp, huyết
hư không được bồi dưỡng dẫn đến gân cốt mềm yếu cho nên cách chữa chủ yếu của bệnh
này là bồi dưỡng tinh huyết, bổ ích tỳ vị là chính. Thường gặp trong viêm thần kinh,
viêm tủy não cấp tính, bệnh teo cơ, bệnh nhũn cơ bắp, di chứng bại liệt
Nguyên nhân dẫn đến nuy chứng vừa do ngoại cảm, vừa do nội thương. Ôn nhiệt độc tà
và ở nơi thấp lâu ngày dẫn đến bệnh về ngoại cảm, tỳ vị hư nhược và thận hư tổn là
nguyên nhân nội thương nhưng ngoại cảm gây bệnh lâu ngày không khỏi cũng ảnh
hưởng đến công năng của tạng phủ, nó có quan hệ với nhau. Cho dù lúc mới phát bệnh là
ngoại cảm nhưng chính khí thiếu vẫn là nguyên nhân bên trong là chủ yếu.
Phế nhiệt thương tân: Do chính khí thiếu, nhiễm ôn nhiệt độc tà, sốt cao không lui hoặc
ốm xong dư tà chưa hết, sốt nhẹ không giải nên phế bị nhiệt nung nấu, tâm dịch hư hao,
gân mạch không nhu nhuận nên xuất hiện nuy chứng.
Thấp nhiệt náu ở gân mạch: Ở nơi ẩm thấp lâu nhiễm thấp tà, tích lưu lại, uất quá hóa
nhiệt. Hoặc do ăn uống không điều độ, ăn nhiều chất béo ngọt, hoặc uống nhiều rượu tổn
thương tỳ vị, thấp tụ sinh, hoặc ăn nhiều chất cay, thấp nung nhiệt tích ở gân mạch, ảnh
hưởng đến vận hành của khí huyết khiến gân mạch không co duỗi được dẫn đến nuy.
Tỳ vị hư nhược: Tỳ vị vốn hư nhược hoặc do bệnh bị hư, công năng thụ nạp vận hóa mất
bình thường, nguồn tân dịch khí huyết thiếu, gân mạch cơ bắp không được nuôi dưỡng
nên sinh nuy chứng.
Can thận hư khuy: Ốm lâu người yếu, thận tinh không đủ, can huyết hư đốn, gân cốt mất
dinh dưỡng, kinh mạch không như nhuận gây nên nuy chứng.
Các bài thuốc điều trị
Phế nhiệt thương tân: Bệnh nhân bắt đầu phát sốt, tự nhiên các chi mềm oặt, da khô, tâm
phiền, miệng khát, ho, họng khô, tiểu tiện vàng sẻn, đại tiện táo, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch
tế sác.
Cách chữa: Thanh nhiệt nhuận táo, dưỡng phế ích vị.
Bài thuốc: Tang diệp 12g, thạch cao 12g, hạnh nhân 9g, cam thảo 4g, mạch môn 9g, nhân
Cách chữa: Bổ ích can thận, tư âm thanh nhiệt.
Bài thuốc: Dùng các vị quy bản 9g, hoàng bá 9g, tri mẫu 9g, thục địa 12g, đương quy
12g, bạch thược 9g, tỏa dương 4g, trần bì 4g, hổ cốt 4g, ngưu tất 9g. Sắc uống.
Nếu sắc mặt nhợt hoặc vàng vọt, đầu choáng, tim hồi hộp, lưỡi đỏ nhạt, mạch tế nhược
gia hoàng kỳ, đẳng sâm, hà thủ ô, kê huyết đằng để bổ dưỡng khí huyết. Nếu bệnh lâu âm
dương đều tổn thương, sợ lạnh, lưỡi nhạt, mạch trầm tế, dương nuy (liệt dương) gầy mà
xanh thì gia sừng hươu, bổ cốt chỉ, dâm dương hoắc, ba kích, phụ tử, nhục quế là những
vị thuốc ôn thận trợ dương.
Bệnh này còn dùng bột nhau thai hoặc dùng tủy lợn (bò) sao khô nghiền ra trộn với bột
gạo và đường mà uống. Có thể ninh xương tủy với đậu vàng mà ăn. Nuy chứng ngoài
việc uống thuốc, còn kết hợp châm cứu bấm huyệt và phải tập luyện với vận động xoa
bóp mới ngăn ngừa cơ bắp bị teo.