TƯ TƯỞNG TÀI MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU - Pdf 17

TƯ TƯỞNG TÀI MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU
Thanh Tâm
Những con sóng bạc trường giang lắng mình, trở về hội ngộ cõi uyên nguyên huyền ảo, cõi ban sơ hoa
hạnh ngân dài. Không gian tĩnh lặng. Hết thảy mọi tinh thể lần lượt hiển hiện như tự thân ban đầu của nó.
Những cánh nhạn vút qua rồi lặng lẽ. Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh. Nhạn quá hàn
đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện. Sự sống trở nên uyên mặc. Những tia nắng bừng lên, hội nhập
từng hạt ánh sáng soi chiếu vào vạn vật. Những chiếc lá với bao nét gân xanh; những cánh chuồn mong
manh rớt từng tia nắng, phô bày một mảnh thiên y tuyệt diễm. Cuộc đời không còn mờ ảo, bí hiểm dâu
bể ngút ngàn. Kiếp người hiện ra đích thực như thị. Ánh sáng nhân duyên trong suốt, soi qua mọi vật thể,
rọi mọi nơi tuyệt mù sương khói mênh mang…
Những vết hằn rõ nét trên đôi mắt chàng lãng tử, năm tháng bôn ba trong cuộc lữ duyên tình. Bao nhiêu
sợ hãi, ước vọng về tình yêu, về cuộc sống hội tụ và trổi nên sức sống phiêu bồng trong dòng chảy mênh
mang của kiếp người, trong cõi nhân gian hòa quyện cùng mưa nắng. Những sợi tơ trời lung linh huyền
ảo thả mình, buông nắng. Con người cất lên tiếng nói chứa chan nỗi niềm dâu bể; một cung đàn phổ
điệu tình ca phóng vút qua muôn sông ngàn suối, vượt quán xá chiều hôm canh khuya gác trọ với những
bóng dáng mờ ảo ngút tận con đường nhận thức cuộc sống.
“Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình”[1]
Con đường truy nguyên thực tại như áng tơ trời băng qua sa mạc trường ca hoang vu, cô tịch. Người lữ
khách bước đi trên mặt đất phất phơ tà áo, vươn tay níu bầu trời, uống giọt sương mờ ảo, thở hiu hắt
từng ngụm khói đá xanh; lòng lắng lòng, từ trong sâu thẳm tiếng nói vọng về như bản hòa tấu dịu êm, du
dương.
Từ đó, bóng dáng con người đích thực hiển hiện rõ ràng như thị giữa chiêm bao mộng mị. Con đường đã
được khai quang thông suốt Tài – Mệnh – Nghiệp, giải tỏa khúc mắc đã bao năm giày vò tâm tư con
người, dày đọa thể xác bé bỏng mong manh. Cánh cửa thời gian mở rộng đưa chúng ta về bầu trời
phong kiến, mở ra trước mắt hiện cảnh phong kiến điêu tàn, mục nát. Chính xã hội ấy mà tinh anh là con
người với nhiều tâm hành ganh tỵ, ghen ghét đã đày đọa, đun đẩy kiếp người hồng nhan đến vực thẳm
linh hồn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại trong dòng chuyển dịch. Như một cổ xe sắp rã mục, nó cố gồng mình để
dìm kiếp người tài hoa vào tuyệt lộ thâm u, rùng rợn.
Chế độ phong kiến trên đà tan rã, nên không dung nỗi tài hoa. Không gian lồng lộng mà tài hoa không có
điểm tựa để tồn tại. Tất cả đều do tâm hồn rộng lớn mà nhỏ bé của con người. Nên Đỗ Thập Nương làm

minh là bản chất là sự hiển nhiên nhưng trong thế giới thực tại không thể chỉ ra”[5]. Trong thế giới nghệ
thuật Truyện Kiều, sự tồn tại và hiệu lực của Số mệnh không hiển hiện được, ngay sự hiển hiện của Đạm
Tiên cũng không ngoài “trận gió cuốn cờ” và “những dấu giày in rêu”. Sự chi phối của Số mệnh không thể
không thể hiện một cách gián tiếp thông qua những nguyên nhân trực tiếp và thực tại. Trong thế giới hình
tượng Truyện Kiều, lần lượt xuất hiện bọn quan lại, bọn buôn người,…những thủ phạm trực tiếp gây ra
số kiếp long đong của nàng Kiều. Hiện thân của họ là những đồi phong bại tục. Đây là thực tại của
những thiết chế trong xã hội phong kiến suy tàn. Nên mâu thuẫn giữa chế độ phong kiến và bản chất con
người là ý nghĩa đích thực, là bản chất của thế giới hiện tượng được mô tả bằng nội dung Truyện Kiều.
Nhưng tác giả lại nhận thức với một ý nghĩa siêu hình: bản chất của nó là mâu thuẫn giữa Tài và Mệnh.
Tài mệnh tương đố là niềm tin sâu sắc của tác giả.
Thi sĩ đã suy nghĩ bằng chính trái tim của mình, ông giải thích cuộc đời bằng số mệnh, đồng thời đứng về
phía con người để oán hờn số mệnh. Nhưng cuộc sống thì cụ thể, phong phú, đa dạng, còn chủ nghĩa
thiên định có tính cách siêu hình, nên có những lúc ông tỏ ra không nhất quán. Với Nguyễn Du triết luận
là suy nghĩ về cuộc đời, cảm khái về cuộc đời, về những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Do gắn bó với
con người, với cuộc sống qua kinh nghiệm những năm lang thang và gian truân của mình. Ông đặc biệt
thương xót người có tài có tình. Ấy là những nhà thơ nổi tiếng trác tuyệt mà cuộc đời trải qua muôn vàn
bất hạnh; là những bậc anh hùng hào kiệt mà thất thế; là những người phụ nữ sắc đẹp khuynh thành mà
phải chịu số phận buồn thảm. Trong tư tưởng ông, những lực lượng tàn phá cái hay cái đẹp ông khái
quát thành số mệnh. Khi đi thẳng vào vấn đề, Nguyễn Du trở nên lúng túng:
“Bạt sơn giang đỉnh nại thiên hà?
Túc hận du du kí thiển sa”[6]
(Sức mạnh dời núi, trời giúp chăng?
Nghìn đời mối hận vùi cát mỏng)
hay số mệnh vùi dập Tiểu Thanh:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)[7]
Thật vậy, mâu thuẫn này nó lồng qua tác phẩm, đôi khi não lòng giữa tình cảm của một nghệ sĩ với trái
tim rung động sâu sắc cùng thực tế của kiếp người phù du, của xã hội khắc nghiệt; và sự suy nghĩ vô

nhiều” nhưng không thành đành phải ẩn nhẫn: “Kiếp này nợ trả chưa xong – Làm chi thêm một nợ chồng
kiếp sau” hay “Kiếp xưa đã vụng đường tu – Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”. Nàng lấy Thúc Sinh
để thoát nợ lửa nồng, rứa mà bị hành hạ ở nhà Hoạn Thư, nàng đành ”túc trái tiền oan” mà chịu khổ. Rồi
trốn Quan âm Các lại rơi vào lầu xanh, thực là, “chạy chẳng khỏi trời”, thôi “phải liều má phấn cho rồi
ngày xanh”. Có khi nàng nghiến răng quyền rủa: “Chém cha cái số má đào - Gở ra rồi lại buộc vào như
không!”. Cuộc đời nàng như trò đùa dai của số mệnh, trước sau chỉ “…nhắm mắt đưa chân – Mà xem
con tạo xoay vần đến đâu?”…
Do bế tắc trong tư tưởng Tài – Mệnh, ông đành mở một lối thoát bằng cách dùng đến chữ Nghiệp trong
Phật giáo:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần đất xa”
Sở dĩ Thúy Kiều có số phận mong manh như vậy; cái bỉ sắc tư phong chỉ là nhận xét bên ngoài; thực ra
cái tiềm ẩn bên trong chính là những kết quả, những nghiệp duyên mà nàng đã vun tạo. Nàng đã có cái
nghiệp tiềm ẩn bên trong nên từ lời nói cho đến tiếng đàn đều mang âm hưởng khổ đau. Người có cái
nghiệp như vậy nên rất đa tình đa cảm; hai cái đó là cái mối vô hình, sợi dây vô tướng để đi vào con
đường mà mình đã họa nên:
“Nàng rằng: Nhân quả dở dang
Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao.
Số còn nặng nợ má đào,
Người đà muốn chết, trời nào có cho?”
Dưới ánh sáng nhân - duyên học, các quan điểm Thiên mệnh, Định mệnh đều bị ngã quỵ, không thể tồn
tại mà xưng hùng xưng bá để đày đọa kiếp người. “Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới
được phần thanh cao.” Con người trôi lăn là do bởi chính hành vi thất niệm của mình. Con người có tự
do trong việc tạo y báo và chánh báo, nhưng với điều kiện là phải có chánh niệm; còn không thì mãi mãi
sẽ loanh quanh luẫn quẫn trong vòng mâu thuẫn đố kị, trôi lăn trong quỹ đạo của vòng tròn nhân quả.
Chính thi sĩ Tố Như từ những mâu thuẫn trong nội tâm mà phải lênh đênh, “ở không yên ổn – ngồi không
vững vàng”. Rốt cùng, ông phải thốt lên “tu là cội phúc”, tức là chuyển hóa các tâm hành để thăng hoa
đời sống của mình. Đó là lối thoát duy nhất trong tư tưởng Tài - Mệnh của Nguyễn Du.
T.T.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status