ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
²
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: NGƯỜI KHUYẾT TẬT, CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HÀNH
MÔN: NGƯỜI KHUYẾT TẬT, CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HÀNH
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
( Trường hợp em Lò Văn P, bản Sin Lao Lù, xã Nậm Mạ,
( Trường hợp em Lò Văn P, bản Sin Lao Lù, xã Nậm Mạ,
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu)
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu)
Giáo viên hướng dẫn
: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà
: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Học viên
: Vàng Văn Minh
: Vàng Văn Minh
Lớp
: CTXH 1 -2012
: CTXH 1 -2012
Hà Nội – 04/2014
MỤC LỤC
1
Hiện nay theo điều tra, trên địa bàn xã Nậm Mạ hiện có tổng số người tàn tật tượng đối cao, 67
người so với dân số chiếm 3,8% 9
MỞ ĐẦU
Lù, xã Nậm Mạ, huyện Sìng Hồ, tỉnh Lai Châu)” làm đề tài nghiên cứu của
mình. Bằng cách vận dụng kiến thức CTXH cá nhân để hỗ trợ thân chủ giải
quyết vấn đề của bản thân, vượt qua khó khăn, vươn lên hòa nhập với cộng
đồng.
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
I. Cở sở lý luận
1. Một số khái niệm liên quan
1.1. Khái niệm Công tác xã hội:
Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên môn
có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia. Sự
ra đời và phát triển của công tác xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc ngăn ngừa
và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và sự phát
triển bền vững của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển Công tác xã hội ( 1995): “ Công tác xã hội là một khoa học
xã hội ứng dụng nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã
hội và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con
người”.
Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thì: “ Công tác xã hội là
hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường
hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều
kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Nghề công tác xã hội thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng
năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày
càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ
thống xã hội. Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi
trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của
ngành”.
1.2. Khái niệm khuyết tật:
Trong hệ thống phân loại Quốc tế ICF, WHO định nghĩa khuyết tật như
động xã hội.”
1.4. Khái niệm Người khuyết tật vận động:
Người khuyết tật được hiểu theo nhiều cách, do vậy theo chúng tôi người
khuyết tật vận động là những người bị tổn thương về những chức năng của cơ
thể, nhẹ thì họ bị ảnh hưởng về các bộ phận của cơ thể như tay, chân, nặng thì
họ có thể bị bại não, bại liệt, bị tổn thương cột sống Họ khó khăn trong việc đi
lại hoặc không thể đi lại được.
1.5. Khái niệm Bạo lực gia đình:
4
Khái niệm bạo lực gia đình vẫn thường được hiểu theo nghĩa hẹp của
chuyên ngành chính trị học.Với cách định nghĩa này, bạo lực vẫn thường được
hiểu với tính chất của một phương thức vận động chính trị. “Bạo lực là sức
mạnh dùng để trấn áp lật đổ” [4; 25]. “Bạo lực là dùng sức mạnh để trấn áp,
chống lại lực lượng đối lập hay lật đổ chính quyền” [4; 26]. Do vậy, Bạo lực gia
đình theo nghiên cứu về “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” của Trung
tâm ngiên cứu giới và phát triển: “Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo
lực xã hội. Nó là việc các thành viên trong gia đình vận dụng sức mạnh để quản
lý các vấn đề của gia đình” [4; 27]. Và có nhiều hình thức bạo lực gia đình: bạo
lực thân thể, bạo lực lao động, bạo lực tâm lý và bạo lực tình dục.
1.6. Khái niệm công tác xã hội với người khuyết tật:
Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt động chuyên nghiệp của
nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật tăng cường hay khôi
phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định
những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia đình và cộng đồng triển
khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào
cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công
bằng như những người khác trong xã hội.
2. Phân loại người khuyết tật
Dựa vào các căn cứ khác nhau, người khuyết tật được chia làm một số
nhóm:
thể.
- Ít cơ động: hạn chế mức độ hoạt động.
- Bất động: không thể hoạt động cơ thể được (liệt).
à Tùy theo sự quy thuộc nhóm này hay nhóm khác mà giải quyết các
vấn đề về bố trí công ăn việc làm và tổ chức sinh hoạt đời sống cho người
khuyết tật.
Đối với những người khuyết tật ít cơ động (có khả năng di chuyển chỉ khi
nhờ có xe lăn hay nạng chống) có thể làm việc ở nhà hoặc chuyên chở giúp họ
đến nơi làm việc.
Đối với những người khuyết tật bất động không di chuyển được nếu
không có người khác giúp đỡ họ có thể làm những công việc về trí óc như:
nghiên cứu khoa học, viết sách báo, sáng tác văn học nghệ thuật…
Đối với những người bị mù nhưng vẫn đi lại được thì những người làm
Công tác xã hội hay các tổ chức xã hội cần trực tiếp giúp đỡ họ…
3. Đặc điểm sinh lý, tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật
Người tàn tật là người không bình thường, có khuyết tật do thiếu, hỏng
hoặc không bình thường về thể lực, trí lực làm cho các chức năng của họ bị
giảm sút. Nếu bị khuyết tật các chức năng giác quan, thần kinh thì khả năng tiếp
6
nhận các thông tin của người tàn tật bị hạn chế. Nếu bị tật vận động thì việc đi
lại, giao tiếp, quan hệ xã hội, xung quanh bị thu hẹp.
Do có sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của
người khuyết tật có thể bị suy giảm; ở người khuyết tật có cơ chế bù trừ chức
năng các cơ qua cảm giác.
Họ là thường có tâm lý bi quan, chán nản, tự ti, mặc cảm, tủi phận, cho
mình là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, người thân, ngại giao tiếp với
mọi người, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường
khác.
Họ là người rất giàu nghị lực để vượt qua những khó khăn, tật nguyền để
đạt thành tích trong lao động, học tập nếu có sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và
khuyết tật cũng như trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc
bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.
Đặc biệt, gần đây nhất: vào ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật (số 51/2010/ QH12)
Gồm có 10 chương, 53 điều, Luật Người khuyết tật sẽ có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/1/2011.Có giá trị thay thế Pháp Lệnh về người tàn tật năm 1998, với
những nội dung mở rộng hơn về quyền của người khuyết tật, việc chăm sóc sức
khỏe, giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật; bảo trợ xã hội
đối với người khuyết tật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về công tác
người khuyết tật… Luật Người khuyết tật được kỳ vọng sẽ phát huy được vai
trò, trách nhiệm của cộng đồng, gia đình và xã hội đối với những đối tượng thiệt
thòi là người khuyết tật. Giao trách nhiệm cho các cơ quan Nhà nước trong việc
xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chính sách trợ giúp người tàn tật.
2. Vài nét sơ lược về xã Nậm Mạ - Sìn Hồ - Lai Châu
Xã Nậm Mạ là một xã nghèo của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Xã nằm ở
độ cao hơn 22°9′49″B 103°22′22″Đ so với mực nước biển, nằm ở khu vực ngã
ba suối Nậm Mạ và Sông Đà, cách trung tâm huyện 114 km tính theo đường bộ,
gồm các đơn vị hành chính sau: Các bản Nậm Mạ I; Nậm Mạ II; Co Kẹ, Co Sọ;
Huổi Ca; Sin Lao Lù; Tả Van; Co Đớ; Co Hát. Diện tích tự nhiên của xã là
3034,11 ha. Cơ cấu kinh tế của xã là nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và dịch vụ
nhỏ lẻ.
Dân số trung bình tính đến thời điểm 31/12/2014 là: 1780 người (Nữ
888. Nam 892). Trên địa bàn xã chỉ có 06 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc
Thái chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 89,2%, dân tộc Kinh chiếm 8,4%, còn lại là
các dân tộc Mường, Phù Lá, Tày, Lào. Số hộ nghèo là 102 hộ, chiê,s tỷ lệ
27,7%.
Xã Nậm Mạ thuộc khu vực tái định cư của thủy điện Sông Đà (Sơn La).
Từ khi được nhà nước hỗ trợ di dời và quan tâm đầu tư để phát triển về kinh tế,
xã hội. Đời sống, trình độ dân trí, y tế… của nhân dân đã được nâng cao hơn so
với trước kia. Tuy nhiên, vấn đề an sinh xã hội và công bằng xã hội vẫn còn tồn
đối tượng khuyết tật tại xã còn được thực hiện chưa được đầy đủ, đúng đối
tượng, chưa kịp thời cũng như chưa thể đáp ứng được nhu cầu của người khuyết
tật tại địa bàn.
Chương II. Tiến trình công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật
(
Trường hợp ông Lò Văn Phái – Xã Nậm Mạ - huyện Sìn Hồ - tỉnh Lai hâu)
9
I. Sơ lược về thân chủ và hoàn cảnh gia đình
Em Lò Văn P, 15 tuổi, bản Sin Lao Lù, xã Nậm Mạ, Sìn Hồ, Lai Châu, bị
khuyết tật vận động (cụt chân phải) đi lại rất khó khăn. Hiện nay P đang sống
cùng gia đình gồm 6 thành viên gồm: Bố, mẹ, và 3 đứa em (02 gái, 01 trai) và P
là con cả trong gia đình, hoàn cảnh gia đình P rất khó khăn, bố mẹ P chủ yếu
làm nông nghiệp nương dãy. Trước đây, P phát triển bình thường nên cũng
được bố mẹ, gia đình chiều chuộng thương yêu, nhưng đến năm 13 tuổi, sau
một lần tai nạn giao thông cùng người chú hàng xóm, P không may bị mất 1
chân phải, vết thương đã lành nhưng P đi lại rất khó khăn. Không những thế,
với hình dạng cơ thể thay đổi, các bạn cùng lứa lại thường xuyên trêu chọc và
không còn thích chơi cùng P. Ở trường các thầy cô giáo cũng ít quan tâm đến P.
Ở nhà, P thường xuyên bị bố, mẹ mắng chửi, đánh đập và bị coi là đồ bỏ đi. Sau
những lần như thế, rất may P được bác họ bên cạnh nhà can ngăn và nói đỡ. Sau
tết Nguyên Đán 2014, P đã không đi học nữa mặc dù em vẫn muốn được đi học.
Hiện nay, em đang được hưởng chế độ trợ cấp người tần tật
(180.000đ/tháng), nhưng với số tiền ít ỏi, không đủ để em giúp đỡ gia đình vượt
qua khó khăn, P đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cả về thể chất và
tinh thần, P đang rơi vào trạng thái khủng hoảng trầm trọng về tâm lý, em rất
chán nản, tự ti, khó hòa nhập với cộng đồng, đang rất cần được sự giúp đỡ của
nhân viên công tác xã hội.
II. Tiến trình trợ giúp
1. Bước 1: Tiếp cận thông tin và đánh giá sơ bộ về thân chủ
Sau khi tìm hiểu địa bàn và nghe chia sẻ của người dân địa phương cũng
đình
khó
khăn
Thiếu
tinh yêu
thương
của cha
mẹ
Bố mẹ
hay
đánh và
mắng
chửi
Cô giáo
chưa
quan
tâm,
giúp đỡ
Bạn
bè hay
trêu
chọc
Chính
quyền xã
chưa hỗ trợ
nghèo cho
gđ P, chưa
can thiệp
giúp P
Bố mẹ làm
bị
cụt
chân
Chưa có
dịch vụ
can thiệp
P bị tai nạn
giao thông,
cụt chân
* Sơ đồ phả hệ gia đình P:
Hình 4: Biểu đồ gia đình em P
Kí hiệu mối quan hệ:
Quan hệ mật thiết 2 chiều
Quan hệ một chiều
Quan hệ mâu thuẫn
Kết hôn
Đã chết
Phụ nữ Đàn ông
14
Em
P
Bố P
P
Em
trai
Bác
P
Em
P
g học
Kí hiệu: Mối quan hệ rời rạc
Quan hệ hai chiều
Quan hệ xa cách
Quan hệ một chiều
Nhìn vào biểu đồ nhân viên CTXH có thể thấy rõ được mối quan hệ giữa
các hệ thống tác động đến P và gia đình P, hầu hết các hệ thống đều có mối
quan hệ rất rời rạc, chỉ có hàng xóm là có mối quan hệ thân thiết với P, bảo vệ P
mỗi lần em bị gia đình bạo hành, đây là yếu tố mà nhân viên CTXH cần phát
huy và tiếp tục vận động các hệ thống khác tham gia hỗ trợ cho P. P là người
khuyết tật vận động nặng, bản thân p cần được sự giúp đỡ từ các dịch vụ hỗ trợ
về mặt vật chất cũng như tinh thần, hơn hết đó là sự giúp đỡ của gia đình và
cộng đồng xã hội.
* Điểm mạnh, điểm yếu của P:
Điểm mạnh Điểm yếu
- P và các em thương yêu nhau, có
bác ngay cạnh nhà thương và che
chở.
- Hàng xóm yêu thương và lên tiếng
bảo vệ em khi bị bố mẹ đánh, mắng.
- P đang được hưởng các chính sách
trợ cấp xã hội (180.000đ/tháng), thẻ
bảo hiểm y tế.
- P là người con hiếu thảo, không hề
trách mọc bố mẹ.
- P là người biết chia sẻ và có ước
mơ, em vẫn muốn được đi học.
- P hiểu được hoàn cảnh của mình,
- Gia đình P khó khăn, em hay bị bố,
mẹ đánh mắng, không quan tâm.
cho thân chủ, giúp thân
chủ và gia đình hàn gắn
mối quan hệ.
- Giúp thân chủ cũng
như gia đình tìm ra được
hướng giải quyết vấn đề
của mình. Bố, mẹ hiểu
và thương P hơn
- Nhân viên
CTXH
- Thân chủ
- Các thành viên
trong Gia đình
thân chủ (Bố,
mẹ)
Tuần 3
2.Can thiệp liệu
pháp tâm lý bằng
kỹ năng: “Chiếc
ghế trống” ;
- Thân chủ tham gia tự
tin, tích cực và vấn đề
được giải quyết hiệu
quả.
- Nhân viên
CTXH
- Thân chủ
Kết hợp
tuần 3,4
17
Đồng thời, vận động
chính quyền xã quan
tâm và chú ý can thiệp
sớm khi P bị đối xử
không tốt.
Nhà trường: Nhờ sự
giúp đỡ của các thầy cô
giáo đến động viên bố
mệ P cho P được trở lại
học: Các thầy cô quan
tâm hơn nữa đến việc
học tập của P. và cho P
được tham gia các hoạt
động hòa nhập với bạn
bè trong trường.
- Chính quyền
xã (Đoàn TN;
Hội PN…)
- Gia đình
- Nhà trường
- Thân chủ
- Nhân viên
CTXH
Tuần 4, 5, 6.
18
- Hàng xóm: Tiếp tục
động viên, an ủi và che
chở, giúp đỡ P vượt qua
khó khăn, đặc biệt là gia
đình bác họ, nên thường
hàng xóm và bạn bè
thân chủ
* Nói chuyện bằng
các kỹ năng:
- Chiếc ghế trống
*Kể về tấm gương
người khuyết tật vượt
khó.
*Vãng gia: (Tham
vấn)
Thân chủ
Bố mẹ
thân chủ
Hinh 6: Mô hình can thiệp của nhân viên CTXH
Đầu tiên, sau khi đã hiểu được hoàn cảnh vấn đề thân chủ nhân viên
CTXH đã sử dụng cách can thiệp với thân chủ bằng cách sử dụng kỹ năng tham
vấn. Trong quá trình trợ giúp tâm lý trong đó, nhân viên CTXH sử dụng kiến
thức kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương
tác tích cực với thân chủ nhằm giúp thân chủ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề
để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và tự tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của
mình.
Ngoài ra để kết quả trị liệu mang lại kết quả hơn nữa nhân viên CTXH đã
lồng ghép việc kể về tấm gương người khuyết tật gặp khó khăn trong cuộc sống
trong tiến trình này: Cho P xem clíp những nghị lực vượt khó… Kể về tấm
gương của Lê Vinh - người khuyết tật gặp khó khăn vượt qua khó khăn vươn
lên trong cuộc sống… để thân chủ hiểu được ý nghĩa của câu chuyện, giúp thân
chủ tự tin hơn, có nghị lực hơn để vượt qua hoàn cảnh của mình, từ đó thân chủ
có suy nghĩ, biểu hiện hành vi tích cực hơn.
Thông qua các hoạt động vui chơi và sinh hoạt nhóm, động viên P và lôi
kéo P cùng tham gia, giúp em tự tin hơn và sãn sàng hòa nhập với mọi người.
Nhà
trường
Nguồn lực hỗ trợ
Bạn bè
- Gia đình:
Đối với gia đình em thì sự góp mặt của tất cả các thành viên từ bố, mẹ, và
các em P luôn là nguồn động viên đối với em mà đặc biệt là bố, mẹ P, giúp P
nhận được tình yêu thương thực sự từ gia đình. Nhân viên CTXH tiếp xúc và
tác động với các thành viên này để mọi người đóng góp là nguồn lực tinh thần
chính gúp em thay đổi nhận thức và tâm lý.
- Bạn bè:
Nhân viên CTXH tiếp xúc và tìm hiểu thêm về bạn bè của P, tổ chức
cho các em chơi cùng nhau và tham vấn để các em hiểu và chia sẻ về hoàn cảnh
của P và chấp nhận P, không trêu chọc P, an ủi và động viên giúp đỡ P vượt qua
khó khăn, thoát khỏi những mặc cảm tự ti trước đât, bạn bè P không xa lánh, kỳ
thị với P nữa (Bao gồm cả các bạn cùng xóm và trong nhà trường).
- Nhà trường:
Nhân viên xã hội làm việc trực tiếp với nhà trường, đề nghị nhà trường
giúp đỡ, động viên P và bố mẹ P để P được tiếp tục đi học như mong muốn của
em, đồng thời nhà trường cũng chú ý đến P hơn, và tổ chức các hoạt động để P
được tham gia và các bạn có thể gần gũi, chia sẻ với P, giúp đỡ cho P. Việc giáo
dục, học tập cho em P là một vấn đề lớn song sự quan tâm giữa nhà trường và
em P không chỉ thể hiện trong việc tổ chức các hoạt động mà sự liên hệ giữa các
dịch vụ hỗ trợ, giữa các thầy cô giáo đối với em, sự liên hệ, trao đổi giữa nhà
trường với gia đình em P cũng rất quan trọng trong việc giúp đỡ P về sau này.
- Hàng xóm – Nơi gia đình P sinh sống:
Tiếp tục vận động sự quan sát, giúp đỡ của hàng xóm với P, đặc biệt là
ông bác của P. Hàng xóm là đơn vị gần nhất, kịp thời nhất, sẵn sàng giúp đỡ P
bất cứ lúc nào. Vận động hàng xóm động viên P và cùng gia đình P thương yêu,
chăm sóc cho P, đồng thời cũng động viên, khuyên giải cho bố mẹ P có những
- Sự thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng tốt của P. Đã đạt được một
số mục tiêu đề ra.
5.1.2. Đánh giá sự thay đổi của thân chủ và kinh nghiệm của nhân
viên CTXH
* Sự thay đổi phía thân chủ:
Thân chủ tuy có bi quan chán nản, mặc cảm về bản thân nhưng sau quá
trình tham vấn của nhân viên CTXH, P đã lấy lại được sự tự tin, vui vẻ và hòa
đồng cùng các bạn.
Thân chủ được chấp nhận đi học lại tại trường, bạn bè không còn xa lánh.
24
Chính quyền xã đã vào cuộc để giúp đỡ cho P và gia đình P.
Bản thân P đã vui vẻ trở lại với gia đình, bố mẹ P hiểu được tâm lý của P
hơn và có cam kết không có hành vi bào lực với con cái, đặc biệt là với P.
=> P không thấy tự ti, chán nản như trước, em vui vẻ trở lại và sẵn sàng
vượt qua khó khăn để vươn lên trong cuộc sống.
* Kinh nghiệm của NVCTXH trong quá trình can thiệp cá nhân:
Sau quá trình can thiệp đối với thân chủ là NKT bị BLGĐ nhân viên
CTXH đã rút ra được một số kinh nghiệm quý giá như sau: Nhân viên CTXH
ứng dụng phương pháp CTXH cá nhân nên có sự linh hoạt, phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh của thân chủ, quan trọng là phải phù hợp với nhu cầu và nguyện
vọng của thân chủ. Luôn luôn tôn trọng nguyên tắc tự quyết trong quá trình làm
việc.
Nhân viên CTXH luôn chú trọng cách làm việc, tổ chức, quản lý thời gian
cũng như lựa chọn các kỹ năng dễ thực hiện, đảm bảo trị liêu phù hợp với thân
chủ và thực hiện một cách chuyên nghiệp và có kế hoạch rõ ràng.
Trong quá trình can thiệp thì cần đưa ra mục tiêu cụ thể của từng giai
đoạn để không bị bối rối, quan sát thái độ của thân chủ, nếu thân chủ không hài
lòng với cách làm việc của mình thì cần điều chỉnh, bổ sung và thay đổi ngay.
Như vậy, qua thời gian can thiệp trực tiếp với quá trình trợ giúp cho thân
chủ, nhân viên CTXH trên thực tế đã đạt được nhiều thành công nhất định: