ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
BÀI HẾT MÔN
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Đề tài : Công tác xã hội với người khuyết tật vận động
Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
Học viên : STT: 41.Hoàng Thị Ngọc Yến
Lớp : CTXH 1
Khóa : QH - 2012 – X
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
MỤC LỤC
Mở đầu 2
Nội dung 4
Chương 1. Cơ sở lý luận về người khuyết tật 4
1.1. Các khái niệm liên quan 4
1.1.1. Khái niệm về người khuyết tật 4
1.1.2. Khái niệm Công tác xã hội với người khuyết tật 4
1.2. Phân loại người khuyết tật 5
1.3. Các mức độ 5
1.4. Nguyên nhân gây nên khuyết tật 5
Chương 2. Ứng dụng công tác xã hội trong quá trình can thiệp với người
khuyết tật 7
2.1. Mô tả ca 7
2.2. Kế hoạch can thiệp 8
Bước 1: Tiếp nhận thông tin và đánh giá sơ bộ 8
Bước 2: Đặt mục tiêu 12
Bước 3: Thực hiện kế hoạch 13
Bước 4: Lượng giá và kết thúc 17
KẾT LUẬN
sống, chưa thấy được quyền và trách nhiệm của mình.
Vẫn biết, Thế giới đã có rất nhiều nỗ lực để giúp người khuyết tật được bình
đẳng hơn trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục và việc làm, cũng như hỗ trợ
người khuyết tật nhận được các dịch vụ liên quan đến khuyết tật mà họ yêu cầu.
Nhưng chúng ta vẫn luôn thấy rằng người khuyết tật tại mọi hoàn cảnh xã hội luôn
là nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương và nhận được ít thành quả kinh tế xã hội
hơn nhóm không bị khuyết tật. Vì lẽ đó, tiếp cận công tác xã hội trong hỗ trợ cho
người khuyết tật hiện nay đang được xem là một hoạt động phù hợp hướng đến
việc xây dựng một xã hội hòa nhập và chấp nhận sự khác biệt. Vì lý do đó trong
phạm vi bài này tôi sẽ áp dụng những kiến thức phương pháp công tác xã hội nói
chung và công tác xã hội với người khuyết tật nói riêng trong việc trợ giúp một đối
tượng khuyết tật cụ thể. Qua quá trình can thiệp này, tôi muốn góp phần nói lên vai
trò và tầm quan trọng của công tác xã hội trong việc trợ giúp những đối tượng yếu
thế mà ở đây là đối với người khuyết tật. Đảm bảo cho sự phát triển hài hòa đem
lại cơ hội phát triển cho mọi cá nhân trong xã hội.
NỘI DUNG
4
Chương 1. Cơ sở lý luận về người khuyết tật
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm về người khuyết tật
Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ chỉ cùng một
khái niệm.Từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng cả 2 từ trên phương tiện
truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Trong các pháp lệnh trước đây
của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng. Ngày 17- 6-
2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay
cho người tàn tật trong bộ Luật Người Khuyết Tật cũng như trong các bộ luật ban
hành có liên quan.
Theo Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam ban hành 1/11/1998 định nghĩa
rằng: “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm
khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng
b) Khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện
một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
c) Khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản này.
1.4. Nguyên nhân gây nên khuyết tật
Những nguyên nhân do môi trường sống:
- Đói nghèo, suy dinh dưỡng, tật bệnh không phát hiện và chữa trị, phục hồi
chức năng kịp thời.
- Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh.
- Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai.
6
- Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi dẫn đến nhiễm độc
- Chấn thương do tai nạn, rủi ro (giao thông, trong lao động, ttrong gia đình
và trong thể thao)
- Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống.
- Lão hóa và các tai biến, đột quỵ.
- Chiến tranh và bạo lực
Những nguyên nhân do xã hội:
- Mù chữ và thiếu thông tin về các dịch vụ y tế sắn có, do không theo dõi
hay thiếu hiểu biết
- Sự bất lực của y học và khoa học kỹ thuật
- Căng thẳng và áp lực trong cuộc sống và công việc hàng ngày dẫn đến
sang chấn tâm lý hoặc trầm cảm kéo dài
- Thái độ của xã hội, đô thị hóa, dân số gia tăng, di cư
- Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống).
Những nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh:
- Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh, hoặc rối loạn do
nhiều yếu tố.
- Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubella, giang mai, HIV, do nhiễm
độc rượu, chất độc màu da cam…
gặp khó khăn về kinh tế do trong quá trình điều trị tại bệnh viện rất tốn kém, ngoài
ra các con đang tuổi ăn học. Trường hợp của anh M được chính quyền địa phương
quan tâm, tuy nhiên hiện tại ở địa phương không có mô hình việc làm cho người
khuyết tật tham gia lao động. Mọi khoản chi tiêu trong gia đình giờ trở thành trách
nhiệm của chị N. Gia đình anh đang rất cần sự giúp đỡ của các nguồn lực xung
quanh và bản thân anh M đang cần đến sự hỗ trợ giải tỏa về mặt tâm lý, tình cảm,
xây dựng niềm tin trong cuộc sống.
Trước thực tế đó, được sự giới thiệu của chị Gấm là chủ tịch Hội phụ nữ xã
tôi đã tiến hành các hoạt động tiếp cận và tạo lập mối quan hệ với anh M và gia
đình anh.
2.2. Kế hoạch can thiệp
Sau khi có được những thông tin sơ bộ về trường hợp của thân chủ là anh M.
Tôi đã tiến hành kế hoạch hỗ trợ anh M và gia đình anh. Kế hoạch hỗ trợ được tiến
hành dựa trên các bước của công tác xã hội nói chung và kế hoạch làm việc với
người khuyết tật nói riêng. Kế hoạch đó được cụ thể qua các bước như sau:
Bước 1: Tiếp nhận thông tin và đánh giá sơ bộ
Ở trong bước này công việc đầu tiên là nhân viên xã hội tiến hành hoạt động
vãng gia, tạo lập mối quan hệ và thu thập thông tin từ anh M và các thành viên
trong gia đình anh M.
Sau quá trình tạo lập mối quan hệ với thân chủ, nhân viên xã hội cùng với
thân chủ và gia đình anh M (ở đây là cùng với vợ anh M là chị N) đánh giá các yếu
tố như:
- Vấn đề hiện tại của bản thân anh M và gia đình đang gặp phải là gì? Đối
với câu hỏi này nhân viên xã hội để anh M và chị N tự nói ra những suy nghĩ của
mình. Nhân viên xã hội lắng nghe và ghi chép lại những thông tin một cách đầy đủ.
Sau khi lắng nghe thân chủ, nhân viên xã hội xác định được thân chủ bộc lộ vấn đề
9
của mình đang gặp phải là: “bản thân anh M gặp khủng hoảng về mặt tâm lý sau
tai nạn và nhất là việc anh biết mình sẽ phải ngồi xe lăn,anh trở thành gánh nặng
cho vợ, con. Anh cảm thấy bất lực, bế tắc, cảm thấy mình là người thừa trong gia
+ Gia đình anh M là một gia đình theo đạo Thiên Chúa giáo, và ở địa
phương số gia đình theo đạo Thiên chúa rất đông (chiếm 40%) dân số toàn xã. Các
hoạt động tôn giáo rất phát triển. Nhà thờ, và các Cha thường xuyên có các hoạt
động quyên góp từ thiện để giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong địa
phương.
Ngoài ra trong quá trình can thiệp với anh M và gia đình, nhân viên xã hội
cũng đã tìm hiểu một số nguồn lực sẵn có đang hoạt động tại địa phương để tham
gia vào việc hỗ trợ anh M và gia đình trong giai đoạn khó khăn như:
+ Hội khuyến học đang hoạt động trên địa bàn, hàng năm hội khuyến học
luôn có các hoạt động hỗ trợ học phí và tặng quà cho các em học sinh có thành tích
học tập tốt. Vì vậy, nhân viên xã hội đã liên hệ với Hội trong việc hỗ trợ chi phí
học tập cho hai con của anh M.
- Nhân viên xã hội cùng thân chủ xem xét các mối quan hệ của anh M với
môi trường xung quanh
Ở bước này nhân viên xã hội sử dụng công cụ vẽ sơ đồ sinh thái các mối
quan hệ của anh M với môi trường xung quanh
11
12
- Xác định điểm mạnh và khó khăn của anh M:
+ Điểm mạnh:
* Anh M là một người hiền lành, chăm chỉ và rất yêu thương vợ con.
* Gia đình đều quan tâm chăm sóc anh M.
* Anh M có mối quan hệ tốt với những người xung quanh.
* Anh M có được sự quan tâm của chính quyền địa phương.
+ Khó khăn:
* Bị suy giảm sức khỏe sau tai nạn
* Đang gặp khủng hoảng về tâm lý
* Gia đình anh M đang gặp khó khăn về kinh tế.
* Hiện tại anh M không có cơ hội tiếp cận với dịch vụ việc làm tại địa
phương.
Mục tiêu Các hoạt động Người
thực
hiện/
Nguồn
lực hỗ
trợ
Kết quả mong
muốn
Ghi chú
Thực
hiện
trong
2 tuần
Giải tỏa
về tâm lý
cho thân
chủ
- Nhân viên xã hội
tiến hành các hoạt
động tham vấn cho
thân chủ và gia đình
thân chủ.
- Gia đình quan tâm,
- Nhân
viên xã
hội
- Thân
chủ
Giúp thân chủ
lấy lại thăng
động
cần
nhiều
thời
gian
nên sẽ
được
tiến
hành
lồng
ghép
trong
suốt
quá
trình
làm
việc
Hỗ trợ
về sức
khỏe,
phục hồi
chức
năng cho
thân chủ
- Nhân viên xã hội
cung cấp cho thân
chủ và gia đình các
kiến thức trong chăm
sóc sức khỏe cho thân
chủ
sức khỏe thể
chất và tinh
thần cho thân
chủ.
- Tăng cường
chức năng
vận động cho
thân chủ, giúp
thân chủ có
thể thực hiện
những hoạt
động cơ bản
phục vụ bản
thân và các
công việc nhỏ
trong gia
đình.
Nhân viên
xã hội và gia
đình thường
xuyên động
viên, khích
lệ thân chủ
trong quá
trình tập
luyện, tăng
cường sức
khỏe.
15
cùng
thân
chủ
- Ngân
hàng
chính
sách xã
hội
- Tổ
chức
Thiên
chúa
giáo
- Hội
khuyến
học tại
địa
Giúp thân chủ
và gia đình
thân chủ giảm
bớt áp lực về
kinh tế.
Tạo điều kiện
cho hai con
của thân chủ
tiếp tục có
điều kiện học
tập bình
thường.
Nhân viên
xã hội hỗ trợ
Huyện.
Ngoài ra tại địa bàn
xã mà thân chủ đang
sinh sống có câu lạc
bộ những người chơi
cờ được diễn ra vào
các buổi chiều tối.
Nhân viên xã hội và
gia đình thông tin tới
các thành viên trong
câu lạc bộ để mọi
người tới gặp gỡ
động viên và thu hút
sự tham gia của thân
chủ
- Nhân
viên xã
hội.
- Thân
chủ
- Gia
đình
thân
chủ
Giúp thân chủ
có thêm động
lực để vượt
qua khó khăn
hiện tại của
bản thân
thời gian mà
nhân viên xã
hội can thiệp
với thân chủ
Bước 4: Lượng giá và kết thúc
17
Sau khi cùng thân chủ và gia đình thân chủ đạt được những kết quả cơ bản
so với mục tiêu đã đề ra, nhân viên xã hội tiến hành hoạt động lượng giá và kết
thúc quá trình làm việc cùng thân chủ và gia đình. Qúa trình can thiệp với thân
chủ, nhân viên xã hội và gia đình thân chủ nhận thấy thân chủ đã làm chủ được
trạng thái tâm lý của mình. Thân chủ tỏ ra tích cực trong các hoạt động hàng ngày,
và không còn nổi nóng với vợ con. Bên cạnh đó thân chủ và gia đình cũng nhận
được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các tổ chức xã
hội trong cộng đồng.
Tuy nhiên so với mục tiêu đề ra, thì một số kết quả không đạt được như
mong đợi. Đó là việc hỗ trợ thân chủ tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp với tình
hình hiện tại của mình.
KẾT LUẬN
18
Thực tế nhiều người khuyết tật có cuộc sống khó khăn, chưa được đào tạo
nghề và có việc làm ổn định. Hơn nữa, việc tiếp cận với các vấn đề trợ giúp như
chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giáo dục, đào tạo, giao thông còn nhiều
bất cập. Cơ quan thông tin truyền thông cũng chưa thật sự đẩy mạnh tuyên truyền
chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước để người khuyết tật biết và thụ
hưởng các chế độ, chính sách ban hành. Vượt qua mặc cảm và khó khăn của tật
nguyền nhiều người khuyết tật ở ta đang vươn lên với ý thức “tàn mà không phế”
để có cuộc sống tự lập về kinh tế và hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên để làm
được điều này, họ cần nhiều hơn sự quan tâm hỗ trợ của các ban, ngành, đoàn thể
và tinh thần của cộng đồng.
Chúng ta luôn phải quan tâm tới việc phục hồi và hoà nhập cho người