ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===***===
Môn: Người khuyết tật -
chính sách và thực hành
ỨNG DỤNG CÁC KIẾN THỨC, KỸ NĂNG CỦA CÔNG
TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG CAN
THIỆP TRỢ GIÚP CHO THÂN CHỦ HẢI
Giảng viên: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Học viên: Đinh Thị Gấm - CTXH - QH 2012
STT: 07
HÀ NỘI, NĂM 2014
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
LỜI MỞ ĐẦU
Theo thống kê trên thế giới cho biết “Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một
người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn
thấy ánh sáng”. Người khuyết tật có lẽ là người mà luôn phải trải nghiệm các
trạng thái, cảm xúc không mong muốn trong những tình huống bị loại trừ
khỏi các hoạt động của đời sống hàng ngày. Trong những năm qua, Đảng bộ
và nhân dân các cấp từ Trung ương tới địa phương ở Việt Nam vẫn luôn có rất
nhiều nỗ lực trong công cuộc giúp đỡ người khuyết tật được bình đẳng hơn
trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục, việc làm, cũng như các chính
sách liên quan đến người khuyết tật. Đã có rất nhiều chương trình và chính
sách trợ giúp trong việc hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật, tuy nhiên
trong công tác hỗ trợ vẫn còn nhiều bất cập và thiếu sót, một số đối tượng là
người khuyết tật vẫn phải sống cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về cả vật chất
và tinh thần, sống phụ thuộc vào gia đình trong khi họ rất muốn có việc làm
tạo thu nhập để giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy chúng ta
cần quan tâm hơn nữa tới những người khuyết tật đặc biệt là quan tâm đến
việc giúp người khuyết tật vơi đi phần nào sự mặc cảm tự ti về số phận, tăng
Dưới góc độ chuyên môn của Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh Xã hội thì hai
Bộ này lại dựa vào định nghĩa của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới)
Khiếm khuyết: (ở cấp độ bộ phận cơ thể): là tình trạng bị mất hay bị bất thường một trong
các bộ phận của cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lí. Khiếm khuyết có thể là hậu quả bệnh
tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh.
Giảm khả năng: (ở cấp độ cá nhân) là bị giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết
gây ra, hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nghe hoặc giao tiếp).
Tàn tật: (ở cấp độ xã hội): là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật. Hậu
quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào
cản trong trong môi trường xã hội, văn hóa hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể
tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống chung trong cộng đồng hay hoàn thành vai trò
của mình một cách bình thường.
Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại
của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia làm 7 nhóm chính:
khuyết tật thể chất, vận động: như cụt tay, chân, tê liệt hay bại liệt, tật bẩm sinh ở chân hay
những dị tật bẩm sinh khác; khuyết tật nghe - nói: khả năng giao tiếp; khuyết tật nhìn, khả
năng quan sát; khuyết tật về khả năng nhận thức hay trí tuệ; hành vi lạ: do bệnh về tâm
thần như trầm cảm và tâm thần phân liệt gây ra; động kinh và những khuyết tật do bệnh
4
hay do nguyên nhân khác: như bệnh phong. . .
Tuy nhiên việc phân loại này không được sử dụng một cách thống nhất vì ở các tài
liệu khác nhau thì định nghĩa về các loại khuyết tật cũng khác nhau (theo Kane- 1999).
1.2. Phân loại người khuyết tật
Điều 3 của bộ Luật NKT Việt Nam đã phân loại khuyết tật thành 6 dạng
tật như sau:
a) Khuyết tật vận động;
b) Khuyết tật nghe, nói;
c) Khuyết tật nhìn;
d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
b) Khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một
số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
c) Khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản này.
Chính phủ quy định chi tiết về dạng tật và mức độ khuyết tật quy định tại điều
này.
( Hiểu được các mức độ khuyết tật ở người khuyết tật sẽ giúp cho việc đánh giá tình hình
cũng như có các hỗ trợ cần thiết cho người khuyết tật một cách thuận lợi hơn
1.4. Thực trạng về người khuyết tật ở Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê năm 2009, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật
trên tổng số 85,5 triệu dân, tương đương 7,8% dân số.
Số NKT và tỷ lệ người khuyết tật trên đây căn cứ theo các tiêu chí cũ cho 4 dạng tật đầu
(thể lý, khiếm thính, khiếm thị và một phần của chậm phát triển trí não).Tuy nhiên, nhiều
tổ chức đánh giá của chính phủ cũng như phi chính phủ lại đưa ra những con số và tỷ lệ rất
khác nhau và đa dạng, lý do là vì các tổ chức đó dựa vào các tiêu chí khác nhau.
Theo tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, hiện nay ước tính cả nước có
khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết
6
tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật. Bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17%
tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng
tật khác. Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân hậu quả chiến
tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích
Theo các tài liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu của Bộ Y tế, Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Ðào tạo và một số tổ chức
quốc tế về thực trạng người khuyết tật ở Việt Nam cho thấy: Người tàn tật cơ
quan vận động chiếm 35,46%, thị giác 15,70%, thần kinh 13,93% Tỷ lệ
người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số người tàn tật. Phần lớn
người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỷ lệ: 95,85%; số người tàn tật
những con người không còn làm chủ được tinh thần mình. Chúng ta có thể
đọc thêm những tài liệu nghiên cứu của khoa Cận Tâm lý, Đại học
KHXH&NV Hà Nội, hiện tượng khám phá hơn 10.000 ngàn ngôi mộ vô danh
của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và nhiều nhà ngoại cảm khác…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Có tới 80% người
khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người
thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung
cùng thời điểm), 24% ở nhà tạm. Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận
dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn
trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng.
Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến người khuyết tật
cũng còn hạn chế. Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008,
mới chỉ có 22,9% người biết Pháp lệnh về người khuyết tật, còn tới 77,1% số người không
biết. Trong số biết chỉ có 6,4% biết rõ, 16,5% mới chỉ nghe và biết tên. Hiểu biết ít nên các
hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật ở cộng đồng chưa được thực hiện tốt. Người
khuyết tật thường tự ti trong cuộc sống, chưa thấy được quyền và trách nhiệm của mình.
ð Đánh giá chung: Chính sách chế độ hỗ trợ người khuyết tật ban hành trong 10 năm
qua đã tạo khung pháp lý về chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các cơ
quan chức năng từ Trung ương đến cơ sở cũng như tạo môi trường thuận lợi cho người
khuyết tật tiếp cận học nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhờ vậy, những năm
qua đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã hội được cải thiện
một bước. Tuy nhiên quá trình thực hiện cho thấy hệ thống các văn bản chưa thật sự đồng
8
bộ, tính khả thi của một số chính sách chưa cao, công tác tuyên truyền, kiểm tra giám sát
thực hiện chưa thường xuyên, nguồn lực về tài chính và nhân lực cũng chưa đáp ứng đòi
hỏi của thực tiễn.
2. Công tác xã hội với người khuyết tật
2.1. Khái niệm
Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): "Công tác
2.2. Mục đích của công tác xã hội với người khuyết tật
Dựa trên cách hiểu về cong tác xã hội với người khuyết tật ở trên ta có thể hiểu mục
đích của công tác xã hội với người khuyết tật bao gồm:
- Hỗ trợ cá nhân và gia đình người khuyết tật
- Quản lý ca (quản lý trường hợp) với người khuyết tật
- Hỗ trợ xây dựng tổ chức của người khuyết tật
- Tham gia vào việc xây dựng, phản biện chính sách, luật pháp đối với người khuyết tật
- Biện hộ cho quyền và lợi ích của người khuyết tật
2.3. Vai trò của công tác xã hội với người khuyết tật
Theo cách hểu ủa công tác xã hội tai nhiều nước trên thế giới, vị trí của nhân viên
công tác xẫ hội được xác định và thể hiện vai trò một cách rõ nét trong đời biến và rộng
khắp trên nhiều lĩnh vực, địa bàn từ thành thị đến nông thôn. Nhân viên công tác xã hội đã
đảm trách nhiệm vụ chuyên môn, phát huy vai trò, chức năng của mình trong việc trợ giúp
các đối tượng yếu thế, thiệt thòi và giải quyết các vấn đề xã hội. Các vai trò đó được phân
chia thàn hai loại vai trò chính là vai trò gián tiếp và vai trò trực tiếp.
- Vai trò trực tiếp gồm: người thu thạp thông tin, người lập kế hoạch hỗ trợ, người thực
hiện kế hoạch, người giám sát, người lượng giá.
- Vi trò gián tiếp: người trung gian; người hòa giải, thương thuyết; người tư vấn, tham
vấn; người hoạch định chính sách; người quản lý, điều phối các hoạt động; người
ngiên cứu
ð Các vai trò của nhân viên công tác xã hội cũng được áp dụng một cách đầy đủ và linh
hoạt khi làm việc với đối tượng thân chủ là người khuyết tật.
II. ỨNG DỤNG CÁC KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
VÀO CAN THIỆP TRỢ GIÚP CHO THÂN CHỦ HẢI
1. Tình huống
Em Hải sinh năm 1995 tại xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương, tỉnhThái Bình trong
một gia đình có 5 người gồm bố mẹ, chị gái, Hải và em trai. Gia đình Hải thuộc diện hộ
10
nghèo của xã và cũng nằm trong diện nạn nhân cả chất độc da cam. Hiện tại Hải là đối
nguyên nhân bẩm sinh.
Đặc điểm: bại não, liệt 2 chi dưới, lực cơ và rom khớp yếu, chậm phát triển trí tuệ và khó
khăn về nói.
11
Khả năng tự phục vụ trong sinh hoạt của Hải: có thể di chuyển trong nhà bằng xe lăn nhỏ,
có thể tự xúc ăn, có thể nghe hiểu và thực hiện một số giao tiếp cơ bản. Tuy nhiên do lực
cơ và rom khớp yếu nên một số vận động gặp nhiều khó khăn như xúc ăn, lên giường
ngủ
Hiện trạng thể chất và tinh thần Hải: 20 tuổi nhưng Hải chỉ nặng 25 kg, sức khỏe hạn chế,
hay bị lên cợ động kinh co giật, sống vui vẻ với mọi người trong gia đình, ít giao thiệp với
bên bạn bè bên ngoài và cộng đồng xung quanh.
Các dịch vụ và chăm sóc người khuyết tật đã và đang được thụ hưởng: Hải đang được nhận
chế độ BTXH cho người khuyết tật đặc biệt nặng với trợ cấp hàng tháng là 410.000VNĐ.
2.2. Tình trạng gia đình thân chủ Hải
Gia đình có tất cả 5 thành viên gồm: bố, mẹ, chị gái (chậm chạp trong mọi vấn đề từ vận
động đến tư duy, chưa lấy chồng), thân chủ và em trai (cũng bị khuyết tật thể nặng và đang
được hưởng chế độ BTXH cho người khuyết tật nặng 360.000VNĐ)
Thuộc diện gia đình nạn nhân của chất độc da cam.
Bố: anh Thắng - làm ruộng và đi làm thuê tự do ở nhà.
Mẹ: chị Hoa - không đi làm, ở nhà chăm mấy con gà vịt và chăm sóc 2 con khuyết tật.
Hoàn cảnh kinh tế gia đình: nghèo
Cả bố và mẹ đều ít khi tham gia vào các hoạt động của cộng đồng nên các tiếp cận với
những dịch vụ cộng đồng còn thấp
Về thu nhập:
-Lao động chính là bố - làm nông 7 sào ruộng và nghề lao động phổ thông tự do (cày, cuốc
mướn, phun thuốc sâu mướn);
- Trợ cấp từ họ hàng và bạn bè thân hữu: không
- Trợ cấp xã hội: thuộc diện hộ nghèo của xã Bình Nguyên
Điều kiện chỗ ở:
mạnh và điểm yếu trong bản thân họ cũng như từ môi trường. NVXH cần giúp
thân chủ nhận diện, phân tích được các điểm mạnh, điểm yếu này để vận dụng
vào quá trình lên kế hoạch và can thiệp giải quyết vấn đề.
2.4. Chủ thể
- Hệ thống thân chủ: Thân chủ được xác định là em Hải và gia đình Hải;
- Hệ thống mục tiêu: mẹ Hải, bố Hải, chính quyền địa phương, cộng đồng nơi Hải
và gia đình sinh sống,
- Hệ thống tác nhân thay đổi: Nhân viên xã hội, bác sỹ, cán bộ chính sách, hệ
thống chính quyền địa phương;
- Hệ thống hành động: Hải, bố mẹ Hải, bác sỹ, chính quyền địa phương;
3. Đánh giá toàn diện nhu cầu của thân chủ Hải
13
Mục đích đánh giá nhằm nhận diện vấn đề chính của Hải cũng như các mặt mạnh và
hạn chế của Hải, gia đình Hải để nhân viên xã hội có một báo cáo chính xác với cơ quan từ
đó có thể lên kế hoạch hỗ trợ cho Hải và gia đình một cách thiết thực và cụ thể nhất.
Để đánh giá được vấn đề của thân chủ và gia đình, nhân viên quản lý trường
hợp tiến hành các phương pháp:
• Vấn đàm;
• Phỏng vấn sâu;
• Quan sát;
• Vẽ và phân tích sơ đồ;
• Nghiên cứu tài liệu thứ cấp;
Nguồn thu thập thông tin:
• Thân chủ và gia đình;
• Cán bộ địa phương;
• Người dân;
• Hồ sơ lưu;
3.1. Sơ đồ sinh thái
Qua hồ sơ thân chủ Hải ta có thể vẽ Sơ đồ sinh thái như sau:
CSXH cho
NKT
Họ hàng
nội, ngoại
Hội
NNCĐD
C
Dự án DSP
cho người
khuyết tật
tại thành
phố
Ghi chú:
Quan hệ một chiều
Quan hệ hai chiều
Quan hệ thấp
Xa cách, yếu
3.2. Câu hỏi vấn đề:
Về chăm sóc sức khỏe và y tế
- Tình trạng sức khỏe của Hải hiện tại thế nào?
- Vấn đề chăm sóc sức khỏe và y tế của Hải ra sao?
- Hải đã và đang đối phó với vấn đề sức khỏe của mình như thế nào?
- Hải có cần hỗ trợ gì về chăm sóc sức khỏe và y tế?
- Hỗ trợ như thế nào?
Về các kỹ năng sống độc lập
- Hải có những kỹ năng sống độc lập nào?
- Các kỹ năng sống độc lập đó tác động ra sao tới Hải?
- Hải có cần hỗ trợ gì về kỹ năng sống độc lập?
- Nếu cần hỗ trợ thì sẽ hỗ trợ như thế nào?
Về tham gia sinh hoạt cộng đồng
(1,2,3)
1
Chăm sóc SK
và y tế
Hải bị sốt và co giật
thường xuyên
Mẹ theo dõi sức
khỏe của Hải
thường xuyên,
luôn ở nhà chăm
sóc Hải
1. Khám và điều
trị động kinh
1
2 Các kỹ năng
sống độc lập
- Hải di chuyển
trong và quanh nhà
gặp một số hạn chế
- Hải gặp khó khăn
khi tự xúc thức ăn
vào miệng
- Hải chỉ bị liệt 2
chi dưới, tay vẫn
hoạt động được
tuy hơi yếu
- Hải có thể di
chyển bằng xe lăn
nhỏ
- Hải có thể tự xúc
lăn
5. Cung cấp xe lăn
2
4
Giáo dục, học
nghề và việc
làm sinh kế
- Gia đình 5 người
nhưng chỉ có một
lao động chính là
bố
- Thu nhập nông
nghiệp thấp
- Công việc cày
thuê cuốc mướn,
phun thuốc sâu
mướn không
thường xuyên
- Mẹ - người chăm
sóc chính cho hai
con khuyết tật
không có thời gian
tham gia các công
việc bên ngoài khác
- Cả bố và mẹ đều
có sức khỏe
- Chị gái tuy
không nhanh nhẹn
nhưng vẫn biết
phụ giúp những
tiếp cận người
khuyết tật và có
tinh thần hợp tác
7. Cải tạo nhà vệ
sinh thân thiện với
người khuyết tật
8. Xây dựng 2 ram
dốc trước ngõ và
trong sân
9. Hướng dẫn thủ
tục BTXH với
người khuyết tật
cho người chăm
1
17
hưởng chế độ bảo
trợ của người chăm
sóc chính
sóc chính
4. Lập kế hoạch can thiệp, hỗ trợ cụ thể
4.1. Mục tiêu cụ thể cần đạt được
TT Lĩnh vực đánh giá
Mức ưu
tiên
Mục tiêu cụ thể cần đạt
1
Chăm sóc sức khỏe
và y tế
1
- Mẹ - người chăm sóc chính cho 2 trẻ khuyết tật
được nhận BTXH àng tháng theo quy định
4.2. Đề xuất kế hoạch hỗ trợ cá nhân và gia đình
Mục
tiêu
số
Hoạt động
can thiệp
Cơ sở CCDV
Thời
gian
Nguồn
Người thực
hiện
Cấp giải
quyết
1 Khám và điều
trị thần kinh
Bệnh viện tâm
thần T.P Thái
Bình
5/2014
trở đi
Chuyển tuyến
theo BHYT
Nhân viên
QLTH, y bác
sỹ bệnh viện
các tuyến,
Hải và người
Huyện
4 Cung cấp
dụng cụ hỗ
trợ tăng
cường kỹ
năng sống
độc lập ( bàn
ăn cá nhân,
khung tập đi
song song)
Cơ sở sản xuất
mộc tại địa
phương
5/2014 Dự án DSP tài
trợ và tư vấn
Nhân viên
QLTH, thợ
mộc địa
phương, Hải
Xã
5 Cải tạo nhà
vệ sinh và
xây ram dốc
tăng cường
khả năng tiếp
cận của người
khuyết tật
Thợ xây, thợ
mộc địa
phương
Nhân viên
QLTH, đại
diện Hội
nông dân,
Hội phụ nữ,
Đoàn thanh
niên, bố mẹ
Hải
Thành
phố, xã
19
7 Hướng dẫn
thủ tục tiếp
cận BTXH
cho mẹ -
người chăm
sóc chính
Chính sách về
người khuyết
tật và người
chăm sóc chính
cho người
khuyết tật
6/2014 Hội DAVA và
chính quyền
chuyên trách
xã
Nhân viên
QLTH, đại
20
- Các kỹ năng chuyên môn về Công tác xã hội: tham vấn, lắng nghe, thấu cảm,
giải quyết vấn đề, truyền thông, giao tiếp, lượng giá, giáo dục, tác động thay
đổi…
- Kỹ năng sống trong môi trường, kinh nghiệm, trải nghiệm…
4.4. Ngày xem xét và điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ cá nhân đình và gia tiếp theo (tối thiểu 6
tháng)
Lần 1 (15/4/2014) Lần 2 (15/10/2014) Lần 3 (15/4/2015)
Thân chủ
(Đại diện gia đình)
Nhân viên QLTH UBND xã/phường
4.5. Phê duyệt kế hoạch cuối cùng
5. Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch
Nhân viên quản lý trường hợp xúc tiến triển khai kế hoạch đã được phê duyệt theo từng
mức độ ưu tiên và khung thời gian ấn định
Cụ thể:
5.1. Chăm sóc sức khỏe và y tế:
- Nhân viên QLTH hỗ trợ cùng Hải và gia đình thực hiện việc chuyển tuyến khám chữa
bệnh động kinh cho Hải: hỗ trợ làm thủ tục, lập hồ sơ bệnh án, kết nối trung gian bác
sỹ và gia đình,
- Cùng gia đình lên kế hoạch thăm khám định kỳ cho Hải để em có thể được theo dõi,
kiểm soát một cách toàn diện tình trạng bệnh của mình.
- Thực hiện vãng gia định kỳ và không định kỳ nhằm theo dõi, kiểm soát tiến độ can
thiệp, trợ giúp
5.2. Tập phục hồi chức năng tại nhà:
- Nhân viên QLTH làm việc với nhà tài trợ, cùng mẹ Hải phối hợp với bệnh viện điều
dưỡng PHCN/Trung tâm y tế Kiến Xương về phương pháp, cách thức, kế hoạch triển
khai giáo dục, hướng dẫn, tập PHCN cho Hải và người thân tại nhà;
- Thực hiện vãng gia định kỳ và không định kỳ nhằm theo dõi, kiểm soát tiến độ can
thiệp, trợ giúp;
chính sách cho người khuyết tật và nhận được trợ cấp hàng tháng;
- Hỗ trợ mẹ Hải làm các thủ tục tiếp cận cần thiết
ð ghi chú:
- Trong quá trình thực hiện kế hoạch, nhân viên QLTH cần có sự bao quát tốt các hoạt
động can thiệp, điều phối chúng một cách hợp lý, linh hoạt, có sự theo dõi giám sát
chặt chẽ để đảm bảo tiến độ và hiệu quả can thiệp.
22
- Có sự phân công công việc và trách nhệm, vai trò, quyền lợi cụ thể của các bên tham
gia, đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia hiểu được công việc đang làm của mình.
- Có ghi chép tiến độ và đánh giá sơ bộ tiến độ thường xuyên
6. Giám sát và đánh giá kết thúc
- Việc giám sát được thực hiện trong suốt tiến trình thực hiện nhằm đảm bảo tiến trình
thực hiện đâng đi đúng hướng, đúng quy chuẩn và cho biết mức độ thực hiện của tến
trình;
- Việc đánh giá được thực hiện trong mọi hoạt động của tiến trình nhằm đảm bảo các
hoạt động đều được thực hiện, kết quả và hiệu quả thực hiện, có cần chỉnh sửa, bổ
sung kế hoạch, hoạt động hay không;
- Căn cứ trên các mục tiêu đưa ra của kế hoạch can thiệp
- Căn cứ trên các kết quả của quá trình thực hiện giúp đỡ
- Đánh giá các thuận lợi/khó khăn trong tiến trình thực hiện kế hoạch
- Các đề xuất, kiến nghị cho các hoạt động, hỗ trợ tiếp theo (nếu có)
KẾT LUẬN
Công tác xã hội với người khuyết tật là một công tác chuyên ngiệp đòi hỏi
người nhân viên công tác xã hội phải có kiến thức chuyên môn nhất định cũng như
sự hiểu biết về người khuyết tật nói chung và từng đối tượng khuyết tật cụ thể nói
riêng. Đất nước càng phát triển, sức ép của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng
tạo ra nhiều đối tượng khuyết tật với những mức độ và dạng tật khác nhau. Cần lắm
những nhân viên công tác xã hội trong các hoạt động, chương trình can thiệp trợ
giúp cho người khuyết tật để họ có được một công bằng và bình đẳng hơn trong xã