Tìm hiểu tác phẩm truyền kỳ mạn lục
TuoiTreQuyNhon.Com|Thế Hệ Trẻ Quy Nhơn Bình Định
Giới thiệu truyền kỳ mạn lục Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề văn xuôi tự sự trong văn
học trung đại Việt Nam, chúng tôi có một số thu hoạch nhỏ xoay quanh một tác phẩm thuộc thể
loại truyện ngắn: tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XVI của tác giả
Nguyễn Tự - 阮 阮 (căn cứ vào những cứ liệu xác đáng về tên tác giả, chúng tôi ủng hộ ý kiến
của PGS.TS Nguyễn Đăng Na và các nhà nghiên cứu đồng quan điểm là phải trả lại đúng tên
gọi cho tác giả, không theo thói quen lâu nay gọi tên ông là Nguyễn Dữ!). Truyền kỳ mạn lục
được mệnh danh là áng “thiên cổ kỳ bút” trong truyện ngắn trung đại Việt Nam, và đây cũng là
tác phẩm văn xuôi chữ Hán thu hút được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu văn học
trung đại. Việc đánh giá về giá trị của tác phẩm này cũng có nhiều xu hướng khác nhau, nhiều
phương pháp tiếp cận tổng thể cũng như phân tích đánh giá sâu vào một tác phẩm. Tìm hiểu
một loạt các tài liệu, chúng tôi đặc biệt tâm đắc với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Na về
Truyền kỳ mạn lục, khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của tác phẩm : “Nếu Lê Thánh Tông
hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản
ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận
mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ đó mà Nguyễn Tự đã mở đầu cho chủ nghĩa
nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại. Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Tự
đi tìm giải pháp xã hội: Con người phải sống ra sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt được
hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở đâu: trên trần gian này hay miền tiên giới, cõi thiên tào hay nơi
thủy cung…? Đối với người đàn ông, hạnh phúc là gì và đối với người phụ nữ, như thế nào là
hạnh phúc? Nguyễn Tự đưa ra nhiều giả thiết bằng những cuộc thử nghiệm, nhưng tất cả đều
bế tắc. Đó là thông điệp cuối cùng ông để lại cho người đọc…” (Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ
so sánh văn học – Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, tr.216). Ý kiến ngắn gọn
nhưng khá đầy đủ này đã gợi hứng và mang tính chất định hướng đúng đắn với những người
đang dạy phổ thông khi tiếp xúc với tác phẩm này. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ
xin nêu những suy nghĩ của bản thân một hướng tiếp cận để giảng dạy tốt hơn phần Truyền kỳ
mạn lục trong trường phổ thông.
Với vai trò là “người mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại”,
Nguyễn Tự cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc. Điều bức xúc nhất hiện
nay là mặc dù tên gọi của ông đã được minh chứng một cách khoa học từ hàng mấy chục năm
hiện nay, nhưng có nên chăng giáo viên cũng cần tự trang bị cho mình những kiến thức nền
tảng này để có thể giải đáp những câu hỏi từ phía học sinh mà không cảm thấy lúng túng khi
các em hỏi về những vấn đề “nhạy cảm” trong Truyền kỳ mạn lục. Hiện tại, ở chương trình lớp
9 chọn lọc đưa vào tác phẩm quen thuộc Chuyện người con gái Nam Xương, chương trình lớp
10 chuẩn và phân ban đều chọn tác phẩm Tản Viên phán sự lục (Chức phán sự đền Tản Viên).
Đây là những tác phẩm hay trong Truyền kỳ mạn lục nhưng nhìn chung vẫn chưa thoả mãn
2
những ai muốn hiểu một cách tương đối khái quát về tư tưởng của Nguyễn Tự trong tác phẩm.
Đặt tác phẩm của Nguyễn Tự vào xu hướng thế tục hoá để nhận thấy vai trò của ông trong việc
hoàn chỉnh thể loại truyện ngắn trung đại Việt Nam. Nguyễn Tự quan tâm đặc biệt đến số phận
của người phụ nữ với những bất hạnh, bi kịch điển hình cho những đau khổ của con người thời
trung đại.Những bất hạnh, bi kịch của con người được đề cập trong tác phẩm không chỉ gói
gọn trong câu chuyện của Vũ Nương với Trương Sinh (Chuyện người con gái Nam Xương) mà
còn là những bi kịch của tình yêu bị ngăn cấm, của duyên phận hẩm hiu, của thói đời đen
bạc…Có đề cập một cách khái quát thì mới có thể phản ánh tư tưởng nhân đạo của Nguyễn
Tự một cách đúng đắn. Do vậy, nên chăng có một sự khái quát về xu hướng thế tục hoá trong
văn xuôi tự sự trung đại và vai trò của Nguyễn Tự trong phạm vi số tiết cho phép của chương
trình văn học phổ thông. Những điểm nổi bật nhất có thể tiếp thu để làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị
của Truyền kỳ mạn lục có thể cô đúc từ những phân tích các truyện cụ thể của tác phẩm trong
giáo trình cao đẳng, đại học, bảo đảm được sự liên thông giữa các cấp học. Đánh giá một cách
khái quát về nội dung hiện thực được phản chiếu trong các tác phẩm, mối quan hệ giữa yếu tố
hiện thực và yếu tố truyền kỳ trong tác phẩm, để tìm ra cốt lõi của những câu chuyện.
Ngoài những truyện đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ trong tác phẩm như Người nghĩa
phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện nàng Lệ Nương cùng một cảm hứng như
Chuyện người con gái Nam Xương, người viết xin trình bày những cảm nhận xung quanh một
số truyện đặc sắc của Truyền kỳ mạn lục xoay quanh số phận của người phụ nữ, trong đề tài
tình yêu tự do, nhằm góp phần minh hoạ một phương diện tư tưởng của Nguyễn Tự trong
Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Tự đã nhận ra ở những người phụ nữ sống đạo đức tử tế những
nỗi bất hạnh tột cùng, khi phẩm giá của họ không được đền đáp mà lại bị vùi dập khinh khi, hầu
như ai cũng phải tìm đến một cái chết oan uổng, một thực tế phũ phàng. Bởi vậy, ông đã có
NXBĐHSP, 2007, tr.51). Qua đó, cũng bày tỏ được khát vọng trần thế vượt ra những ngăn cấm
khắc nghiệt của xã hội đương thời, dẫu cho những con đường tìm kiếm hạnh phúc mà Nguyễn
Tự vạch ra cuối cùng đều bế tắc, thế nhưng cũng phần nào phản ánh tâm lý con người trong
thời đại muốn phá tung những rào cản cấm đoán vô lý.
Không chỉ miêu tả những mối tình của người phàm, Nguyễn Tự còn chỉ ra cho chúng ta những
tình duyên hết sức éo le. Một nhà sư hiệu Vô Kỷ mà cũng mắc lưới tình với nàng Hàn Than, vì
“Cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm,(…). Hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, chẳng khác
nào con bướm gặp xuân, trận mưa cửu hạn, chẳng còn để ý gì đến kinh kệ nữa” (Nghiệp oan
của Đào Thị), tiên nữ Giáng Hương cũng lụy tình với kẻ phàm trần Từ Thức, cũng vì “bảy tình
chưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền quỳnh
mà lòng theo cõi dục” (Từ Thức lấy vợ tiên). Những câu chuyện tình thắm thiết ấy có khi phải
trả giá như một nghiệp chướng khó thoát, bản thân Nguyễn Tự cũng phải đứng từ phía luân lý
xã hội mà để nhân vật của mình phải gánh chịu hậu quả từ lòng dục vượt những giới hạn đạo
lý: Hàn Than và Vô Kỷ không thể có niềm vui hạnh phúc vì đứa con chính là oan nghiệt, Giáng
Hương và Từ Thức phải vĩnh biệt nhau vì sự khác biệt tiên phàm, cõi tiên không dung nạp tấm
lòng trần thế.
Trong 11 truyện viết về những thân phận phụ nữ, tác giả cũng thể hiện khá rõ lập trường đạo
đức Khổng Mạnh của mình. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng gửi vào trong từng câu chuyện tấm
4
lòng thương cảm của con người với con người. Những chuyện phong tình bị lên án bởi những
giáo điều, những quan niệm xã hội, bởi thế những oan khổ trong kiếp đàn bà vẫn không ngừng
đeo đuổi họ cho đến chết. Mượn yếu tố truyền kỳ, nhà văn muốn an ủi cho những số phận bất
hạnh. Nếu như hiện thực là ly biệt, là mất mát, đổ vỡ, là sự oan ức thiệt thòi, là sự ruồng rẫy rẻ
khinh thì yếu tố truyền kỳ đem lại khoảnh khắc châu về Hợp Phố, sum họp đoàn viên, giải oan,
bất tử hoá nhân vật… Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bản thân nhà văn cũng không thể tìm lời
giải đáp cho nhân vật rằng đâu là hạnh phúc thật sự của con người. Những cảm nhận về một
thời đại loạn ly hiện hình trong từng số phận phụ nữ, đàng sau bức màn huyền ảo là nỗi đau
nhân sinh phản chiếu niềm thương cảm của nhà văn.
Hiểu Nguyễn Tự và tinh thần cơ bản của Truyền kỳ mạn lục, chúng ta có thể tìm thấy một
hướng khai thác vào vẻ đẹp của tinh thần nhân bản thế kỷ XVI, một tiền đề cho sự nở rộ của
cách mạng và mùa xuân do con ngời tạo ra.
3. Giá trị nội dung :
- Bài thơ đã vẻ lên bức tranh thiên nhiên, đất trời xứ Huế thơ mộng ngập tràn sức sống. Đồng thời là
tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nớc, với cuộc đời, thể hiện ớc nguyện chân thành đ-
ợc hoà nhập, đợc cống hiến cho đất nớc, góp một mùa xuân nho nhỏ vào mùa xuân lớn của dân
tộc.
Đề 1. Phân tích khổ thơ thứ nhất của bài
1. Mở bài :- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Giới thiệu khái quát bài thơ, đoạn thơ : Mùa xuân nho nhỏ là bài tiêu biểu cho phong cách sáng
tác của ông. Với giọng thơ trầm lắng và những nét chấm phá đặc sắc, bài thơ đã dựng lên bức tranh
mùa xuân tơi đẹp, thơ mộng và ngập tràn sức sống:
( Chép lại khổ thơ)
6
2. Thân bài :
*Phân tích : Bức tranh mùa xuân ấy mở đầu bằng hình ảnh:
Mọc giữa dòng sông xanh
Tác giả đã khéo léo khi đảo động từ mọc lên đầu câu. Nó không chỉ tạo ngời đọc ấn tợng đột ngột,
bất ngờ mà còn làm cho sự vật sống động nh đang diễn ra trớc mắt.Tởng nh bông hoa kia đang từ từ, lồ lộ
mọc lên, vơn lên xoè nở trên mặt nớc xanh biếc của dòng sông xuân.
Ba tiếng dòng sông xanh đa ngời đọc liên tởng đến dòng sông Hơng Giang con sông huyền thoại
của xứ Huế, con sông với màu xanh biếc đặc trng. Con sông ấy nh biểu tởng của sức sống màu xuân tơi
trẻ. Dòng sông chảy đến đâu, sức xuân lan toả đến đó. Hình ảnh bông hoa tím biếc mọc giữa dòng
sông xanh gợi liên tởng đến sức sống mãnh liệt của mùa xuân đang từ từ trỗi dậy.
Hai câu thơ đã bộc lộ cảm nhận tinh tế và sự phối hợp màu khéo léo của tác giả. Dòng sông xanh
hoa tím biếc, hai gam màu vừa tơng phản lại vừa hài hoà cho bức tranh phản chiếu trên phản chiếu trên
mặt nớc trong tạo nên bảy sắc cầu vồng rực rỡ. Đó là vẻ đẹp dịu dàng, thanh mát và đằm thắm của thiên
nhiên ban tặng cho con ngời. Hơn nữa cách lựa chọn gam màu của tác giả cũng rất tinh tế. Nói đến mùa
xuân là ngời ta thờng nói đến hoa mai và hoa đào, còn mùa xuân trong thơ Thanh Hải lại là hình ảnh bông
hoa tím biếc .Màu tím là màu đặc trng của ngời dân xứ Huế. Chỉ có màu tím mới diễn tả hết đợc vẻ đẹp
kín đáo, đằm thắm của các cô gái Huế.
2 Phân tích đoạn thơ:
Mùa xuân ng ời cầm súng
Cứ đi lên phía trớc
1. Mở bài : Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác :
-Thơ Thanh Hải nhỏ nhẹ, chân thành, đằm thắm.
- Bài thơ đợc sáng tác năm 1980, những năm đất nớc vừa thống nhất và bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Bài thơ không chỉ là lời tâm niệm thiết tha chân thành, là ớc nguyện đợc cống hiến cho đời mà còn là
bản hoà ca về không khí rộn rã, vui tơi của đất nớc và dân tộc trong cuộc đời đổi mới. Không khí náo nớc
ấy đợc tác giả ghi lại trong khổ thơ( Chép lại khổ thơ)
2. Thân bài:
* Khái quát: Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, cảm hứng thơ của Thanh Hải chuyển sang cảm hứng
của mùa xuân đất nớc, của cách mạng một cách tự nhiên.
*Phân tích:
Mùa xuân ngời cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lng
Mùa xuân ngời ra đồng
Lộc trải dài nơng mạ
Trong số hàng nghìn, hàng vạn những con ngời đang hăng say lao động, tác giả chọn hai đối ph-
ơng: Ngời cầm súng và ngời ra đồng. Bởi họ chính là những con ngời đại diện cho hai nhiệm vụ quan
trọng, cơ bản của đất nớc: Chiến đấu - bảo vệ tổ quốc và lao động xây dựng đất nớc. Cấu trúc thơ song
hành đã góp phần thể hiện rõ hai nhiệm vụ cơ bản đó.
8
Tất cả những ngời cầm súng và ngời ra đồng đều đem theo một hình ảnh quen thuộc: lộc. Đó là
hình ảnh mang nhiều tầng ý nghĩa. Lộc là chồi non, cành biếc đâm những điều may mắn, hạnh phúc.
Ngời lính khoác trên lng màu lá nguỵ trang xanh biếc mang theo sức sống màu xuân, sức mạnh của dân
tộc để ra trận. Ngời nông dân đem mồ hôi và sự cần cù của mình để làm nên màu xanh cho ruộng đồng.
Có thể nói, con ngời đi đến đâu thì mùa xuân, sức xuân trải dài đến đó. ý thơ vô cùng sâu sắc: Máu và mồ
hôi của con ngời đã tô điểm cho mùa xuân, để giữ lấy mùa xuân mãi mãi. Những con ngời lao động và
chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra mặt trận của mình để gặt hái mùa xuân cho đất nớc.
quyết tâm, ào ạt và mãnh liệt Tất cả đã góp phần dệt nên một màu toàn thắng cho mùa xuân lớn cảu đất
nớc, của dân tộc.
3.Kết bài
*Đề 3. Phân tích đoạn thơ:
Ta làm con chim hót
. . . .
Dù là khi tóc bạc
1. Mở bài
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Bài thơ thể hiện tình cảm thiết tha và niềm tin vững chắc của nhà thơ với đất nớc và tâm niệm đợc
hiến dâng cuộc đời mình cho dân tộc. ớc nguyện chân thành ấy làm xúc động biết bao bạn đọc
suốt 30 năm qua.
( Chép lại khổ thơ)
2. Thân bài :
Khái quát : Mùa xuân của thiên nhiên, đất nớc thờng gợi lên ở mỗi ngời niềm khao khát và hi
vọng. Với Thanh Hải, đây là thời điểm nhà thơ nhìn lại cuộc đời mình và bộc bạch những điều tâm niệm
tha thiết của ngời chiến sĩ cách mạng, một nhà thơ gắn bó trọn đời mình cho đất nớ, cho nhân dân.
Phân tích : Trong sức xuân mạnh mẽ của đất trời, trong khi thế bừng bừng của đất nớc vào xuân,
nhà thơ cảm nhận mùa xuân dâng lên từ đáy tâm hồn mình. Đó là mùa xuân của lòng ngời, mùa xuân của
sức sống tuổi trẻ, mùa xuân của cống hiến và hi sinh.
Thật đáng yêu, bởi ớc nguyện của nhà thơ nhỏ bé khiêm nhờng quá:
Ta làm xao xuyến
Nhà thơ chỉ mong mình làm một cành hoa trong muôn ngàn cành cành hoa, làm tiếng chim trong
muôn ngàn tiếng chim để tô điểm cho mùa xuân tơi đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ chỉ mong mình là một
nốt nhạc trầm trong bản đàn mùa xuân rộn rã, vui tơi. Tuy không cao lắm nhng làm xao xuyến lòng ngời.
Nếu ở khổ thơ đầu, mùa xuân của thiên nhiên đất trời đợc tạo nên bởi một cành hoa, một tiếng
chim thì trong khổ thơ này, hình ảnh thơ đợc lặp lại. Nhà thơ đã mợn để nói lên ớc nguyện của mình :
Đem cuộc đời mình hoà nhập, cống hiến để làm lên mùa xuân lớn cho đất nớc. Hình ảnh thơ giản dị kết
hợp với một số từ một diễn tả ớc nguyện khiêm nhờng của nhà thơ.
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Và Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi, rợu bầu.
Còn với ngời chiến sĩ cách mạng thì cống hiến tất cả những gì nhỏ bé nhất, cống hiến trong lặng
lẽ, âm thầm và bền bỉ suốt cả cuộc đời.
Đánh giá nâng cao: Hai khổ thơ ngắn gọn nhng chứa đựng một triết lí, một nhân sinh quan sâu
sắc:Vấn đề sống đẹp và sống ý nghĩa. Triết lí sống ấy đợc gửi gắm trong lời thơ nhỏ nhẹ nh lời tâm niệm
chân thành, qua hình ảnh thơ đơn sơ mà mang nhiều cảm xúc. Chính vì vậy hình ảnh Mùa xuân nho
11
nhỏ cuối bài thơ nh ánh lên, toả sáng. Đó là ánh sáng của một tâm hồn muốn sống một cuộc đời đẹp nh
những xuân.
2. Kết bài : Khẳng định giá trị bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ nhng ý nghĩa không nhỏ. Đó là bài thơ
hay mà Thanh Hải để lại cho đời trớc lúc đi xa
Viếng lăng Bác
I. Tác giả
- Viễn Phơng tên thật là Phan Thanh Viễn, quê ở Chợ mới An Giang.
12
- Trong k/c chống Pháp, ông hoạt động ở Nam Bộ.
- Là một trong những cây bút có mặt sớm nhất trong lực lợng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì
chống Mĩ cứu nớc.
- Thơ Viễn Phơng nhỏ nhẹ, chân thành, tình cảm.
II. Tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ đợc sáng tác tháng 4 1976, khi đó lăng Chủ tịch vừa đợc khánh thành và
Viễn Phơng theo dòng ngời vào viếng Bác.
2. Giá trị nghệ thuật:
- Giọng thơ trầm lắng, tha thiết, trang nghiêm
- Sáng tác nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp, vừa sâu sắc, vừa mang ý nghĩa khái quát và giá trị biểu đạt cao.
- Cảm xúc chân thành, sâu lắng.
- Ngôn ngữ bình dị, cô đúc.
vẫn đau đáu một khát vọng đến thăm và ngời dân cũng khao khát mong ngày độc lập để đón Bác, để giờ
đây, khát vọng ấy mãi mãi không thực hiện đợc.
Đến đây, vào viếng lăng Bác, nhà thơ đã nói tránh đi là thăm. Cách điễn đạt này không chỉ làm
giảm bớt đi sự đau buồn mà càng khẳng định tình cảm của nhà thơ với Bác. Đối với nhà thơ, Bác không hề
đi xa, mà Ngời vẫn nh còn sống, còn hiển hiện trong ngôi nhà sàn giản dị. Và VP - đứa con vợt ngàn trùng
xa cách về thăm ngời cha già kính yêu đang ngày đêm theo dõi bớc chân của những đứa con xa.
Nhng dù có nói tránh đi nh vậy, dù VP có cố gắng không nghĩ đến sự ra đi của Bác thì giữa con
với Bác vẫn là âm dơng cách trở. Hai đại từ Con Bác đợc đặt ở đầu câu nh kéo dài thêm khoảng cách
đó.
Tình cảm cha con trào dâng để rồi lại lắng xuống khi nhà thơ nhìn thấy:
Đã thấy trong sơng hàng tre bát ngát.
Từ miền nam, sau bao năm khỏi lửa chiến tranh, đây là lần đầu tiên nhà thơ đặt chân lên mảnh đất
Ba Đình lịch sử. Theo dòng ngời vào viếng lăng Bác, nhà thơ bắt gặp một hình ảnh quen thuộc mà bao
năm đã in hằn vào tiềm thức: Hàng tre xanh bát ngát. Bát ngát của tre và bát ngát của sơng. Một tình cảm
vừa thân quen, vừa thơng xót, tự hào:
Ôi, hàng tre xanh Việt Nam
Từ thế giới cổ tích cho đến cuộc sống hiện tại, tra luôn là biểu tợng của ngời dân Việt Nam, của
dân tộc VN. Hình ảnh tre mang tính chất tợng trng và giàu liên tởng. Hàng tre xanh màu dân tộc, xanh
màu xứ sở tợng trng cho cốt cách, phẩm chất, dáng đứng của ngời VN, của dt VN: kiên cờng, bất khuất,
ngay thẳng, thanh cao, mộc mạc. Có thể nói, hàng tre là nhân chứng suốt chiều dài lịch sử, chứng kiến boa
thăng trầm của đất nớc VN.
Hàng tre xanh bát ngát, trải dài nh vô tận, tợng trng cho ngời dân VN vối đủ những phẩm chất cao
quý. Tất cả đã xếp thành hàng ngũ chỉnh tề để giữ yên giấc ngủ cho Ngời. Ngắm nhì hàng tre, nhà thơ liên
tởng đến những nét đẹp của tre VN:
Bão táp ma sa đứng thẳng hàng
Báo táp ma sa là thành ngữ chỉ khó khăn gian khổ, những cam go ác liệt mà dân tộc ta đang phải
đơng đầu. Câu thơ lại một lần nữa khẳng định tấm lòng thuỷ chung son sắt của ngời dân VN với Bác. Dù
có phải trải qua bao nhiêu khó khăn ác liệt của cuộc trờng trinh thì tấm lòng ngời dân VN với Bác vẫn
14
không hề thay đổi. Từ hình ảnh hàng tre bên lăng, nhà thơ liên tởng đến dân tộc VN, đến bẳn lĩnh, sức
Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng
Đêm tàn bay chập choạng dới chân Ngời.
Có nhiều lời thơ so sánh Bác với mặt trời, nhng so sánh Bác nằm trong lăng nh mặt trời đỏ trong
cái nhìn chiêm ngỡng hàng ngày của mặt trời tự nhiên là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ. Bởi nàh thơ nhận
15
ra rằng: Ngay cả khi nằm trong lăng, Ngời vẫn là mặt trời đỏ sóng đôi, trờng tồn cùng với mặt trời tự
nhiên.
Đặc biệt, trong khổ thơ này nhà thơ đã sử dụng điệp từ ngày ngày để thể hiện một hiện tợng đã
thành quy luật bình thờng, đều đặn của cuộc sống. Đó là vòng quay vô tận, khép kín của thòi gian. Điệp từ
ngày ngày cùng với hình ảnh mặt trời đã góp phần
vĩnh viễn hoá, bất tử hoá hình tợng Bác Hồ trong lòng mọi ngời, giữa thiên nhiên, vũ trụ. Mặt khác ca
ngợi sự vĩ đại, công lao trời biển của Bác với các thế hệ con ngời VN.
ở câu thơ thứ 3 điệp từ ngày ngày đợc lặp lại, nhng lại mang một ý nghĩa khác:
Ngày ngày dòng ngời đi trong thơng nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân
Từ hình ảnh dòng ngời nối nhau vào lăng viếng Bác, nhà thơ liên tởng đến những tràng hoa. Đó là
cách nhìn rất thơ. Tục ngữ có câu: Ngời ta là hoa đất. Đó là những con ngời mà cuộc đời đã nở hoa dới
ánh sáng của bác. Những con ngời ấy, hàng ngày đi trong một không gian đặc biệt: đi trong thơng nhớ
để vào lăng viếng Bác. Tình cảm của nhân dân ta với bác cũng tự nhiên, gần gũi nh đất trời, cũng vĩnh
hằng nh quy luật vận động của vũ trụ, của thời gian. Tất cả những con ngời VN đang dâng lên cho ngời
những gì tốt đẹp nhất. Bởi con ngời 79 mùa xuân ấy đã sống một cuộc đời đẹp nh những mùa xuân và làm
ra mùa xuân vĩnh hằng cho đất nớc, cho dân tộc.
* Khổ 3: Theo dòng ngời vào viếng lăng Bác, nhà thơ đã xúc động nghẹn ngào khi đứng trớc di hài
của ngời:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Nếu ở khổ thơ trên, hình ảnh Bác đợc cảm nhận từ phơng diện tình cảm, tâm hồn của một ngời cha
rất đỗi thân thơng, gần gũi.
Hai câu thơ mang ý nghĩa tả thực nhng gợi sự liên tởng: Nhìn Bác nằm trong lăng, nhà thơ ngỡ Bác
đang nằm ngủ một giấc ngủ bình yên sau bao năm sóng gió của cuộc đời. Nhà thơ Hải Nh cúng đã
Bác. Câu thơ nh một tiếng khóc nghẹn ngào
c. Đánh giá nâng cao: Hình tợng Bác trong bài thơ đợc VP cảm nhận và thể hiện một cách toàn diện, đa
chiều. Nhà thơ đã nhận ra sự thống nhất hài hoà vốn có trong con ngời Bác: Vừa cao cả, vĩ đại vừa bình dị,
hiền hoà.
3. Kết bài
Đề 3: Phân tích khổ 4 của bài thơ
1. Mở bài:
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác
- Khái quát nghệ thuật và nội dung: Bằng phép điệp ngữ và sử dụng những hình ảnh giản dị, VP không chỉ
nói lên tấm lòng kính yêu và sự tiếc thơng vô hạn với Bác mà còn nói lên khát vọng đợc ở mãi bên Bác.
2. Thân bài:
a. Khái quát: Từ miền nam xa xôi, đứa con của Nam Bộ đã vợt ngàn trùng xa cách về thăm ngời cha già
kính yêu. Khi đứng trớc di hài của Ngời, VP không khỏi bòi hồi xúc động. Một tình cảm yêu thơng sâu
sắc, một sự tiếc nuối vô cùng cứ trào dâng. Nhà thơ mong muốn thời gian nh ngừng lại để mình đứng mãi
17
bên Bác. Những cuộc gặp gỡ nào cũng đến lúc phải chia li. Tuy còn đứng trong lăng nhng nghĩ đến lúc
phải xa Bác, VP thấy bịn rịn tiếc nuối vô cùng.
Mai về Miền Nam thơng trào nớc mắt
Tình cảm của VP trong suốt thời gian trên luôn cứ sâu lắng, đau lặng lẽ nhng đến giây phút này,
Vp không thể nào ngăn đợc nữa. Ngày mai VP phải xa khỏi nơi đây, xa ngời cha kính yêu của mình.
Bp la
I. Nh th Bng Vit
- Bng Vit tờn tht l Nguyn Vit Bng. Sinh nm 1944 ti Hu.
- Quờ gc: Thch Tht, h Tõy.
- L nh th trng thnh trong cuc khỏng chin chng M.
- Th Bng Vit cú cm xỳc tinh t, ging iu tõm tỡnh, trm lng giu suy t trit lớ.
II. Tỏc phm
1. Hon cnh sỏng tỏc: Sỏng tỏc nm 1963 khi BV ang hc H Phỏp Lớ Ki - ộp.
2. ti: Bp la - gn gi, quen thuc v bỡnh d.
3. Ni dung: Vit v tỡnh b chỏu
………………… còn cay…
Khổ thơ mang âm hưởng da diết, trĩu nặng cảm xúc đau thương qua 1 loạt hình ảnh gợi tả: đói
mòn đói mỏi, khô rạc ngựa gầy,… Đó là tuổi thơ bị ám ảnh bởi nạn đói ghê rợn năm 1945.
Hồi tưởng về những năm sống với bà trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp:
Năm giặc đốt làng
19
…………….lầm lụi.
Kí ức đã đưa nhà thơ trở về với những năm tháng kháng chiến hào hùng chống td Pháp. Đó là thời
kì mà:
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Còn cháu và bà: Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Trong suốt 8 năm ấy, cháu đã gắn bó với bà, với bếp lửa để mỗi sớm mai thức dậy cháu bắt gặp bà
đang ấp iu từng ngọn lửa mong manh.
Cháu nhớ về những ngày mẹ cha đi công tác, bà trở thành người nuôi nấng, dạy dỗ chăm chút
cháu.
Cháu ở cùng bà
Bà… cháu học
Câu thơ với nhịp thơ da diết, với cấu trúc bà cháu song hành được lặp đi lặp lại nhiều lần. Sự gắn
bó bà cháu. Tình cảm bà cháu ngày một gắn bó. bà bảo cháu học hành, còn cháu ngoan ngoãn nghe lời và
đặc biệt biết đỡ đần và sớm chịu chung những gian khổ, khó khăn. Suốt quãng thời gian ấy cháu sống
trong tình yêu thương và sự chở che của bà. Dã bao năm trôi qua, xa cách về thời gian và không gian
cũng không xóa nhòa được kí ức tuổi thơ đó. Cũng trong suốt thời gian ấy, chấu cùng bà gắn với bếp lửa.
Bếp lửa hiện diện như tình thương cưu mang ấm áp của bà với đứa cháu bé nhỏ. Bà như một phần của
cuộc đời đầy gian truân của chính bà.
- Cả cuộc đời bà vất vả lo toan, đến khi về già vẫn còn lo toan vất vả. Cuộc sống khó khăn với bao thăng
trầm nhưng bà vẫn luôn là chỗ dựa cho con cháu:
" Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Làng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
mang của bà, cháu đã khôn lớn trưởng thành. Cháu được sống với niềm vui rộng mở, được đi xa, được
sống trong tiện nghi hiện đại. Nhưng dù ở bất cứ đâu, dù được sống trong cuộc sống đầy đủ thế nào thì
cháu vẫn luôn nhớ về bà, nhớ bếp lửa. Cháu không quên được cội nguồn, gia đình, quê hương xứ sở. Để
rồi sớm mai thức dậy, cháu từ hiểu mình:
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Hình ảnh bà và bếp lửa đã trở thành kí ức thiêng liêng, làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên mọi bước đường
đời.
Đề 2: Phân tích hình ảnh "bếp lửa" trong bài thơ "Bếp lửa"
I. Mở bài
- Thời gian, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ đã thể hiện lòng kính yêu trân trọng
và biết ơn của cháu đối với bà. Hình ảnh bà luôn gắn bó hình ảnh bếp lửa. "Bếp lửa" đã trở thành hình
ảnh xuyên suốt, là linh hồn của bài thơ đã tạo nên ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
II. Thân bài
21
1. Khái quát: "Bếp lửa" là bài thơ thành công về tình bà cháu. Đặc biệt thể hiện trong chi tiết bình dị "bếp
lửa"
2. Phân tích
* Nhớ về bếp lửa, nhà thơ nhớ về người bà lam lũ, tần tảo khi xưa. Có thể nói bếp lửa gắn bó máu
thịt với cuộc đời của bà. Vì thế khi nhăncs đến "bếp lửa" là cháu nghĩ đến bà. Cũng như khi cháu nhớ về
bà là cháu nghĩ về "bếp lửa". Bởi vì chính từ bếp lửa ấy, cháu đã được sưởi ấm trong lòng bà, được sống
trong tình bà cháu thiêng liêng. Cũng chính từ "bếp lửa" ấy, bà đã nhóm lên cho cháu bao nhiêu niềm yêu
thương, bao ước mơ hoài bão và khát vọng về tương lai. Hình ảnh "bếp lửa" - người bà đã trở thành
nguồn sáng thiêng liêng, nâng đỡ cháu trên suốt bước đường đời.
Cả cuộc đời bà gắn bó máu thịt với bếp lửa:
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi.
Không chỉ gắn bó máu thịt, không chỉ là hiện thân của người bà mà "bếp lửa" đã trở thành một tứ
vậy dù có đi bất cứ đâu, dù có "lửa trăm nhà", "niềm vui trăm ngả" thì cháu vẫn luôn nhớ về "bếp lửa".
Nơi ấy có người bà luôn chăm sóc, nâng đỡ suốt những ngày ấu thơ.
III. Kết bài:
- Giọng thơ chân thành, sâu lắng
- Bài thơ là tiếng lòng của đứa cháu xa bà
- Cảm ơn bằng Việt cho ta bài thơ hay viết về tình cảm con người
- Giáo dục chúng ta chân trọng tình cảm gia đình, quê hương, đất nước.
Đề 3: Phân tích hình ảnh "người bà" trong bài thơ "Bếp lửa"
I. Mở bài
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Qua việc sáng tạo hình ảnh bếp lửa, nhà thơ đã bày tỏ thái độ kính yêu và biết ơn vô hạn đối vối người
bà của mình. Đó là người bà tần tảo, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh.
II. Thân bài
1. Khái quát: Bếp lửa là bài thơ thành công viết về tình bà cháu. Trên đất nước bạn xa xôi, nhà thơ bất
chợt bắt gặp hình ảnh bếp lửa. Đó là bếp lửa thật nhưng cũng có thể là bếp lửa hiện lên trong trí tưởng
tượng. Nghĩ đến bếp lửa, nhà thơ nghĩ về bà.
2. Phân tích
* Là người chịu thương chịu khó, tần tảo hi sinh
Tuy giờ đây được sống trong điều kiện vật chất đầy đủ với tiện nghi hiện đại, nhưng mỗi lần nhớ
về bếp lửa, cháu lại nhớ về bà - người bà với cuộc đời biết bao vất vả, lam lũ.
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Cụm từ "biết mấy nắng mưa" diễn tả vòng tuần hoàn khép kín của thời gian. Tình cảm mà cháu giành cho
bà vượt qua thời gian, năm tháng. Hình ảnh "nắng mưa" là ẩn dụ đặc sắc cho cuộc đời lận đận lắm đắng
cay, cơ cực của bà.
23
Kí ức còn đưa nhà thơ trở về với nạn đói rùng rợn năm 1945. Cái đói chỉ là cái cớ để tác giả gợi
nhớ về 1 tuổi thơ nhiều đắng cay cơ cực, thiếu thốn về vật chất nhưng không thiếu thốn nghĩa tình. Vượt
lên trên gian khổ, thiếu thốn, vượt lên trên cái "đói mòn đói mỏi", với sự chịu thương chịu khó, tần tảo
lam lũ, bà đã cùng mọi người vượt qua những năm tháng cơ cực ấy.
Trong những năm đói khổ tuổi thơ của tác giả vẫn luôn tươi sáng bởi bên nhà thơ luôn có bà. Nhà
24
Chính bà đã nhóm lên ngọn lửa - ngọn lửa của tình yêu thương, niềm tin bất diệt. Bởi đó là ngọn lửa - trái
tim, tình cảm và tâm hồn bà. Bà đã truyền cho cháu nghị lực, niềm tin một cách tự nhiên như người
truyền lửa cho thế hệ sau. Một ngọn lửa thổi bùng lên mơ ước, khát vọng về ngày mới thanh bình.
* Bà đã nhóm lên trong cháu tình yêu thương, mơ ước và khát vọng về tương lai
Từ thuở ấu thơ, cháu đã được sống trong sự trở che, ôm ấp nâng niu của bà. Cháu đã lớn lên bên
bếp lửa ấp iu nồng đượm. Rồi những năm:
Mẹ cùng cha công tác bận chưa về
Cháu đã sống: Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Cấu trúc song hành góp phần khẳng định vai trò của bà với cuộc đời cháu. Đồng thời còn nói lên
tình yêu thương vô bờ mà bà đã dành cho đứa cháu bé bỏng. Không chỉ chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ cháu
khôn lớn trưởng thành mà bà còn là người nâng đỡ, chắp cánh ước mơ cho cháu. Nếu cơm gạo của bà
nuôi lớn cháu về thể xác thì tình yêu thương của bà nuôi lớn cháu về tinh thần, vể ý chi, nghị lực niềm tin.
Để rồi, mỗi khi nhớ về bà, cháu lại nhớ về hình ảnh:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Cũng chính bàn tay bà đã nhóm lên bếp lửa với khoai sắn ngọt bùi, với nồi xôi gạo mới làm ấm
lòng cháu những ngày đông tháng giá. Và cũng chính là bà đã thổi bùng lên trong cháu ngọn lửa của tình
yêu thương, khát vọng và ước mơ. Bà đã trở thành người bạn lớn, chia sẻ tâm tình. Cháu khôn lớn và
trưởng thành như ngày hôm nay phần lớn là nhờ công lao chăm sóc, dạy dỗ của bà. Hình ảnh bà và bếp
lửa đã trở thành kí ức thiêng liêng nâng đỡ cháu trên suốt chặng đường đời.
* Đánh giá nâng cao:
- Là bài thơ cảm đông viết về tình bà cháu
- Phải là người yêu bà sâu sắc và mãnh liệt mới có thể tạo nên những dòng thơ chân thành, chứa chan tình
cảm dành cho bà.
3. Kết bài: - Khẳng định giá trị tác phẩm. Liên hệ bản thân.
………………………………………………………………………