Lý luận dạy học đại học - Pdf 17


LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC
MODULE 1. HIỂU VỀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC
Mục tiêu chung
Trong module này, bạn sẽ
• Điểm lại tình trạng chuyển tiếp của sinh viên từ trường trung học phổ thông lên
đại học;
• Phân biệt được các đặc tính tâm lý của sinh viên đại học;
• Mô tả được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của sinh viên đại học;
• Phát triển các phương tiện để đo một số đặc tính của học viên; và
• Xác lập được hồ sơ của vinh viên
Bài 1: Sinh viên đại học
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này bạn có khả năng:
• Hiểu được học vấn và quá khứ xã hội của sinh viên;
• Xác định các nhân tố tác động đến khả năng học của sinh viên ; và
• Đánh giá các thủ tục tuyển chọn/tiếp nhận vào trường và khoa của bạn.
Khái niệm về chuyển tiếp
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông và thoả mãn những yêu cầu thi tuyển đầu
vào và điều kiện tài chính cần thiết, học sinh tốt nghiệp THPT có thể tiếp tục theo
học lên ở các trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục đại học. Điểm đến có thể là
trường đại học, trường kỹ thuật hoặc polytechnic, trường sư phạm hoặc các trường
khác trong hệ thống.
Việc chuyển từ trường THPT vào đại học bắt đầu bằng thời kỳ chuyển tiếp. Thời
kỳ này được đặc trưng bởi nhiều sự tự do hơn - chẳng cần mặc đồng phục, xếp

Họ đã nhận chứng chỉ tốt nghiệp phổ thông với số điểm tối thiểu để kiếm được
một chỗ trong trường đại học. Cũng như học sinh tiểu học và trung học, cuộc sống
xã hội và học tập của họ sẽ được tổ chức và đôi khi đưa vào quản lý theo chế độ
bởi các hiệu trưởng, các giáo viên và các lớp trưởng. Họ phải tuân thủ vô điều kiện
các qui chế đã ban hành, thừa nhận và tôn trọng thể chế của trường. Những người
đã từng có cơ hội học ở trường phổ thông nội trú sẽ trải qua một cách dễ dàng,
thậm chí là rất tốt trong việc quản lý thời gian của họ. Những người tốt nghiệp từ
các trường phổ thông (nam thục hoặc nữ thục) thường nảy sinh thêm vấn đề phụ là
phải điều chỉnh mối quan hệ với giới kia.
Một ngày tiêu biểu trong trường phổ thông của học sinh có thể được chia ra làm
một số tiết học với nhiều môn học khác nhau được giảng dạy trong những lớp học
thiếu tiện nghi và có thể với những thày giáo cự kỳ thiếu nhiệt tình. Trừ một số
ngoại lệ, đa số học sinh được truyền thụ kiến thức theo phương pháp dạy và học
truyền thống.
Đối với việc thi kiểm tra và đánh giá, hệ thống giáo dục của hầu hết các nước ngày
nay thiên về đánh giá liên tục. Trường học được cảm nhận là nơi thực hiện các
trắc nghiệm. Điều đó hướng thái độ đối phó của sinh viên đối với việc dạy và học.
Trái với quan điểm chung, các sinh viên của chúng ta không phải là những tờ giấy
trắng, trong họ đã có những dấu ấn, mà cũng không phải là các bình rỗng cần được
nạp đầy. Khi mới nhập học, họ thường có kiến thức và những kỹ năng thu được từ
việc hoà nhập xã hội sớm nhất với nhận biết về trúc thế giới xung quanh và
những phương pháp sáng tạo để giải quyết vấn đề. Hơn nữa, họ đang trong giai
đoạn Piagetian của các hoạt động chính thức về phát triển nhận thức và vì thế họ
có thể được trông đợi hoạt động ở mức độ đó.
Kinh nghiệm chỉ ra rằng một số những thiếu hụt có thể hạn chế khả năng hoặc mơ
ước của sinh viên đại học để thực hiện có hiệu quả quá trình dạy, học ở trường đại
học. Ví dụ, họ cần tự quản lý về thời gian cũng như làm các công việc một cách
độc lập (tiến hành những nghiên cứu trong ngành đào tạo của mình). Sinh viên
người tham dự rằng bà có ý định hạn chế cuộc thảo luận với sinh viên. Các sinh
viên đồng loạt phản ứng lại, đồng thời chỉ ra những điều quan tâm từ quyền tự do
bày tỏ đến việc kỳ thị trừ sinh viên với lý do nguồn gốc dân tộc, giới, ốm đau hoặc
không có khả năng trả học phí. Hầu hết sinh viên, cả những người ở trong và ở
ngoài cuộc hội thảo, ủng hộ sự tiếp cận bình đẳng đối với kinh phí giáo dục và kêu
gọi các chính phủ tiếp tục tài trợ cho các hệ thống đại học quốc gia. Một đại biểu
người Đan Mạch Peter Songdergaard đại diện cho Hội Liên hiệp Sinh viên các
nước châu Âu nói: “Đầu tư vào giáo dục là đầu tư cho tương lai”. Các sinh viên
cũng nhấn mạnh nhiều hơn về chính sách giáo dục và quản lý ở các trường đại
học. Nhưng từ những bài bình luận của sinh viên đã cho thấy rõ ràng rằng những
khó khăn trong một số nước là vượt xa mức bình thường. Đại diện của Angola và
Lãnh thổ Tự trị Palestine nhắc mọi người rằng sinh viên ở đất nước họ vẫn còn bị
chết trong chiến tranh. “Chúng ta cũng tìm cách phổ biến văn hoá hoà bình trong
số các sinh viên của trường đại học”, Abdallah Al Najjarr của Tổng hiệp hội Sinh
viên Arập nói. “Các giáo sư được trả lương thấp và họ đã có những việc khác để
làm” – vừa coi thi vừa bảo bài cho cả lớp –Florence Nsumbu nói. Nhóm của cô,

Phong trào Quốc tế của Sinh viên Thiên chúa giáo ở nước Cộng hoà Dân chủ
Côngô, đã cố gắng tìm nhiều cách để ép các giáo sư làm đúng việc của họ.
Cả nam nữ sinh viên đều lo lắng rằng phụ nữ ở các nước đang phát triển không
được tiếp cận đầy đủ với giáo dục, “Phong tục truyền thống hạn chế các cô gái tiếp
cận với giáo dục”, hội thảo viên Agus Salim của Hiệp hội Sinh viên Lâm nghiệp
Quốc tế ở Indonesia nói. “Những người ở nông thôn cho rằng các cô gái ở đó chỉ
để nuôi gà” anh nói thêm. Đại biểu Rajia El-Huseini của Hội Thanh niên Tiến bộ

những cái gọi là “thiếu thốn” về trợ cấp tài chính, về tiếp cận tự do với giáo dục và
về sự tham gia vào quản lý trường đại học.
Trong bài phát biểu của Kathrine Vangen của Hội Sinh viên Quốc tế của châu Âu,

các sinh viên đã tóm lược mối quan tâm của họ: “Chúng tôi muốn xác nhận quyền
của các sinh viên là được thừa nhận và tự đại diện. (…) Chúng tôi không phải là
những khách hàng, những người mới học nghề hoặc các đối tượng thụ động của
giáo dục; mà hơn thế, chúng tôi là những đối tác tích cực trong việc học tập của
chúng tôi và đóng góp vào xã hội.”
Câu hỏi thảo luận
1. Hãy cho biết những điều trình bầy trên có làm cho bạn thay đổi nhận thức về
sinh viên năm thứ nhất hay không?
2. Hãy trao đổi suy nghĩ của bạn với các giảng viên dạy môn học khác với môn
học của bạn.

Bài 2. Hồ sơ sinh viên
Giới thiệu
Các yếu tố tâm lý thường tồn tại bên trong học viên. Các yếu tố này bao hàm sự
trí tuệ, động cơ học tập, tự ý thức và đặc điểm xúc cảm. Mặt khác, các yếu xã hội
thường tồn tại trong môi trường bên ngoài. Môi trường trong trường hợp này bao
hàm gia đình, bạn học và công chúng. Các yếu tố bắt nguồn từ xã hội bao gồm nền
tảng nguồn gốc gia đình, ảnh hưởng của nhóm bạn bè, trường học và kỳ vọng xã
hội. Sự tác động tương hỗ giữa hai nhóm yếu tố này (tâm lý xã hội) là quan trọng
trong việc học tập của sinh viên.

tuổi đã kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp phổ thông do một trong những
nguyên nhân sau:
- Cha mẹ họ không thể trả học phí khi họ không được nhận học bổng của
nhà nước;
- Vừa học vừa làm là yêu cầu để tiếp nhận vào học ở trong Khoa;
- Khi trẻ hơn động cơ thúc đẩy theo học đại học kém.
Tuy nhiên phải chú ý rằng trong trường đại học ở Swaziland nữ giới đông hơn
nam giới. Tương tự ở một số bang phía tây của Nigeria, nữ giới tỏ ra quan tâm về
giáo dục nhiều hơn nam giới. Ở Sudan, có các trường đại học một giới. Chúng ta
xem xét điều đó có thể gây ra những khó khăn mới nào trong việc học và dạy và
chúng có thể được khắc phục như thế nào.
Đa số các sinh viên của chúng ta không đạt tới giai đoạn hoàn thiện về tất cả các
lĩnh vực mà giáo dục đại học yêu cầu. Thực ra trong những thập kỷ trước một
trong số họ còn được coi là trẻ em. Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng các sinh
viên của chúng ta không đồng nhất. Thậm chí các đặc tính ở trên có thể được khái
quát hoá lại, có thể có những sự khác nhau đáng kể giữa các thành viên của một
nhóm bất kỳ cho trước. Điều này có quan hệ mật thiết cho việc học và dạy được
trình bày sau.
Các đặc tính tâm lý xã hội
Trong khi một số nhà nghiên cứu đề nghị cập nhật nghiên cứu về tâm lý để hiểu
tốt hơn về thanh niên ở châu Phi, thì một số người khác lại kết luận rằng có sự
tương quan rất nhỏ giữa các đặc tính tâm lý xã hội và việc học tập ở trình độ đại
học (UNESCO, Báo cáo về tình trạng giáo dục ở châu Phi, 1997). Tuy nhiên, điều
rõ ràng là, từ quan sát ngẫu nhiên đã cho thấy những đặc tính tâm lý-xã hội đã
cung cấp một số giải thích tổng quát về hành vi của học viên. Chúng ta cũng có
thể sử dụng các lĩnh vực khác để giải thích, điều đó có thể sẽ có lợi trong việc làm
sáng tỏ các đặc tính của sinh viên. Khi đọc phần này bạn có thể đưa ra vài suy
nghĩ về việc đó. Danh sách sau đây trình bày một số lĩnh vực cần được nghiên cứu
liên quan đến các đặc tính tâm lý xã hội của sinh viên khi mới bước vào trường đại
học:

đến việc dạy và học không? Như thế nào?
2. Theo ý kiến của bạn việc nghiên cứu về các đặc tính của sinh viên có nên
dành riêng cho giảng viên sư phạm, xã hội học và tâm lý học nói riêng không?
Những yếu tố quyết định của các đặc tính tâm lý xã hội
Những đặc tính nổi trội của các sinh viên trưởng thành trong bất cứ một giai đoạn
nào cũng có các căn nguyên từ môi trường mà họ đã sinh sống. Bản chất của môi
trường này được tự xác định bởi các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.
Okebukola (1996) định rõ đặc điểm các sinh viên trước năm 70 là chín chắn hơn,
có thái độ làm việc tốt hơn và có động cơ học tập cao, trái lại, các sinh viên ngày
nay được xem là kém chín chắn hơn, có thái độ làm việc kém hơn và động cơ học
tập kém. Sự khác nhau đáng chú ý này được Okebukola (1997) báo cáo, có thể
được giải thích là môi trường của thời kỳ trước khá ổn định và thuận lợi hơn. Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính tâm lý xã hội
- Kinh tế - xã hội
- Kinh tế quốc gia
- Kinh tế toàn cầu
- Văn hoá - xã hội
- Nhóm bạn bè
- Bối cảnh (môi trường) chính trị
- Di cư
- Các nhân tố lịch sử, thuộc địa
Chúng ta sẽ khảo sát tỷ mỷ một số các nhân tố. (Bạn nên bàn bạc các nhân tố khác

Bất cứ một cái gì khác cũng chịu tác động của nhân tố này, thực tế là một nền kinh
tế quặt quẹo không thể trợ giúp đầy đủ cho giáo dục. Sinh viên trở lên bất bình bởi
vì cả cha mẹ và trường học đều không thể tạo ra một môi trường thuận lợi cho họ.
Điều đó có thể gây ra trong họ một thái độ làm việc tồi tệ và sự thờ ơ với việc học
tập. Hơn thế nữa, có thể làm đảo ngược của giá trị như trường hợp ở Sierra Leone
ở đó sự sống còn của cá nhân được đặt trên lợi ích cộng đồng. Một trong những
mối quan tâm đặc biệt là sự suy giảm toàn thể các giá trị và đặc biệt là sự giảm giá
trị nhận được từ giáo dục. Giai thoại sau đây là một minh chứng cho việc đó: Một
thanh niên ngoài 30 tuổi, có nhiều của cải được hỏi là đã từng trải qua cảm giác
thiếu thốn bao giờ chưa bởi vì anh ta học xong lớp 4. Người thanh niên trả lời
ngay lập tức rằng điều đáng tiếc duy nhất của anh ta là đã không chấm dứt học
ngay ở lớp 2, bởi vì chẳng có giáo dục nào có thể mang lại sự giàu có mà anh đang
có.
Nhiều sinh viên trưởng thành do hoàn cảnh phải vừa học vừa đi làm để trang trải
chi phí học hành đã chịu ảnh hưởng rất lớn đến công việc học tập. Đối với những
sinh viên này, các giảng viên cần phải tạo ra những tình huống để thúc đẩy những
sinh viên như vậy.
Các nhân tố lịch sử, chủ nghĩa thực dân
Một nhân tố vẫn liên tục tác động ảnh hưởng xấu của nó trong một thời gian dài là
kinh nghiệm của người dân thuộc địa. Là người dân thuộc địa, chúng ta đến thăm
nhau phải có sự giám sát của kẻ thống trị, mà mục đích của chúng là xoá bỏ văn
hoá, tập quán, truyền thống, và khả năng sáng tạo của chúng ta. Trong những thập
kỷ vừa qua chúng ta đã cố gắng giải phóng trí tuệ bằng một số giải pháp hữu hiệu.
Các hệ thống giáo dục của chúng ta được dựa trên cơ sở của các mô hình giáo dục
ở châu Âu, vì thế phải chịu đựng từ thực tế này. Chúng ta có xu hướng chắp nhặt,
vá víu chúng hơn là sửa chữa toàn bộ chúng, và điều này chỉ làm cho phù hợp
những thay đổi được chấp thuận đưa vào sử dụng, ví dụ như ở Anh và ở Pháp. Các

ngủi của nhiều nước châu Phi đã trải qua một số chế độ cộng hoà. Bầu không khí
chính trị không ổn định đã đẩy nhiều dân tộc châu Phi lao sâu vào cuộc nội chiến,
trong đó có Sierra, Liberia, Congo, Burundi và Angola.
Dưới hoàn cảnh đó các chính sách giáo dục được lập lên bởi chính phủ tiền nhiệm
thường là không được bàn giao đầy đủ cho chính phủ kế tiếp để thực hiện. Điều đó
giải thích tại sao như ở Nigeria việc thực hiện các chính sách giáo dục 6-3-3-4 là
đang bị cản trở nghiêm trọng do nguồn vốn thiếu thốn. Về giáo dục nghề nghiệp
thì bị bỏ mặc đến khốn cùng, điều đó giải thích tại sao “sản phẩm” của hệ thống lẽ
ra đi tìm kiếm việc làm lại tìm con đường vào đại học. Trong những tình huống
như vậy, giảng viên đại học phải cố gắng để đáp ứng với khả năng và nhiệt tình
học tập khác nhau của các sinh viên và họ cần tìm ra những giải pháp với những
thách thức này.
Đến đây ta đã đi qua 6 nhân tố có thể ảnh hưởng đến các đặc tính của học viên.
Bạn có thể,
(a) suy nghĩ sâu về những nhân tố này và từ những kinh nghiệm của bản
thân, cố gắng đưa ra những đề xuất là chúng có thể ảnh hưởng như thế nào đến các
đặc tính của sinh viên trong môn học của bạn
(b) phân loại chúng để chỉ ra nhân tố nào có ảnh hưởng nhiều nhất và đưa
ra nguyên nhân.
Hồ sơ học tập đầu ra của sinh viên
Khi tốt nghiệp đại học, các sinh viên phải đáp ứng được yêu cầu đào tạo của nhà
trường hoặc của Hội đồng giáo dục về chuyên môn và nhân cách (học tập và tính
cách – learning and character ). Những kiến thức, kỹ năng và thái độ được xác
định trong chương trình đào tạo đòi hỏi sinh viên phải nắm được. Hồ sơ học tập
khi ra trường của các sinh viên đại học mô tả đồng thời cả kiến thức, kỹ năng và
thái độ được thu lượm từ ngoài chương trình đào tạo.(hidden curriculum).
Chỉ tiêu tin cậy để đánh giá thành tích của chúng ta là bản chất hồ sơ học tập đầu
ra khi so sánh nó với đầu vào của học viên. Trong module này, chúng ta đã nhấn
mạnh phần cốt yếu của nó là sự hiểu biết về các đặc tính tâm lý-xã hội ở đầu vào


- Tự hào về phẩm giá của lao động
- Tự tin vào bản thân
- Dễ thích nghi
- Các kỹ năng giải quyết vấn đề
- Thái độ tích cực để làm việc
- Lòng khoan dung
- Quyết đoán
- Sáng tạo
- Hợp tác, khả năng làm việc theo nhóm
- Tác phong dân chủ
- Tự trọng cao

- Sức tưởng tượng
- Cam kết
- Động cơ thúc đẩy
Tất nhiên bạn có thể bổ sung suy nghĩ của bạn vào danh sách trên.
Liên hệ giữa hồ sơ học tập đầu vào và đầu ra
Trước đây trong bài này chúng ta đã nêu ra cách dùng hồ sơ học tập đầu vào để
xác định chất lượng của hồ sơ học tập đầu ra. Nếu bạn suy ngẫm sâu về hồ sơ học
tập đầu vào cho trong 2 bạn sẽ nhận thấy những sự khác nhau đáng kể trong việc
so sánh với hồ sơ học tập đầu ra cho ở đây ( tất nhiên, giả sử rằng sự can thiệp của
chúng ta chỉ gây ra những biến đổi tích cực). Những sự biến đổi rõ ràng có thể do
nhiều nguyên nhân – các mô hình có vai trò tích cực, tình hình tài chính lành mạnh
hơn, sự giúp đỡ tốt từ nhóm bạn bè và hội chứng phát triển chậm – nhưng chúng ta


Trong module này, chúng ta
- Điểm lại những trạng thái của sinh viên khi chuyển tiếp từ THPT lên đại học và
thấy được những thay đổi có thể ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên đại
học;
- Phân biệt được các đặc tính tâm lý xã hội chủ yếu của sinh viên đại học và đã
thảo luận chúng là những nhân tố tạo cơ hội cho sinh viên học tập như thế nào;
- Đã mô tả những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý xã hội của sinhviên
đại học bao hàm nền tảng gia đình, kinh tế đất nước, và bối cảnh chinh trị;
- Đã phân biệt được hồ sơ học tập đầu ra của sinh viên và nó bị ảnh hưởng như thế
nào bởi cách xử lý của giảng viên trong quá trình học đại học; và
- Đã chứng tỏ rằng việc nghiên cứu quá trình và bản thân của sinh viên là mở đầu
cho việc cung cấp các kinh nghiệm làm chương trình mà module tiếp theo sẽ trình
bày.
Đọc thêm
Nwana, O.C. (1996, tháng 11). Hồ sơ học tập của sinh viên đại học. Giới thiệu tại
hội thảo của UNESCO về dạy và học ở đại học, Nairobi, Kenya.
Obanya, Pai (1998, tháng 9). Giáo dục đại học cho một Nigeria mới hình thành.
Bài diễn thuyết kỷ niệm lần thú 50, Sai lầm trong giáo dục, Trường đại học
Ibadan, Ibadan, Nigeria.
Okebukola, P.A.O. (1996, tháng 11). Những nhu cầu đánh giá trong giáo dục đại
học. Giới thiệu tại hội thảo của UNESCO về về dạy và học ở đại học, Nairobi,
Kenya.


triển của nghề nghiệp, chẳng chóng thì chày nó sẽ lại bị tầm thường hoá. Ngày
nay, nắm vững các kỹ năng kỹ thuật chỉ có vai trò nhỏ đối với sự phát triển của
giảng viên. Giảng viên phải là người có suy nghĩ độc lập, có đạo đức, học suốt đời
và nhà sư phạm có năng lực. Khó có thể cho các giảng viên những “gợi ý” trong
các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ mà nhấn mạnh những giá trị chứa đựng bản
chất của việc dạy học và đạo đức của giáo viên.
Có những bài viết công phu đề cập đến việc học và dạy ở đại học mà nhiều người
đang hành nghề dường như chẳng hề để tâm đến. Điều này rất có thể bởi vì các
học giả tự thấy mình là các nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu của họ,
hơn là các nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực giảng dạy đại học. Họ đủ trình độ và
được công nhận bởi việc nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn và tự nâng cao
trình độ trong lĩnh vực nghiên cứu qua các tạp chí chuyên ngành hoặc tham gia
các hội thảo khoa học. Điều quan trọng là các giảng viên tự coi mình có trách
nhiệm nghề nghiệp kép: nghề nghiên cứu và nghề dạy đại học.
Một giáo viên đã qua đào tạo có thể thực hiện thành công bổn phận thứ hai.
Tính chuyên nghiệp của việc dạy học có nhỉnh hơn một chút so với thế kỷ trước.
Trong quá trình phát triển, việc dạy học đã tiến triển từ nghề giản đơn, nghề tương
đối không có kỹ năng, tới một nghề đòi hỏi phải được đào tạo và cuối cùng tới một
nghề đòi hỏi đào tạo toàn diện, đặc biệt và bài bản. Việc đào tạo giảng viên ngày
càng được xem là một quá trình liên tục phát triển và kéo dài suốt thời gian phục
vụ của giảng viên. Tài liệu hướng dẫn này để giúp bạn dạy học có hiệu quả hơn.

Mục tiêu
Học xong module này bạn có khả năng:

nhiệm vụ đó.
Hồ sơ công tác của một giáo viên
Những đặc tính dạy học mà chúng ta mong đợi của một giáo viên trong trường đại

học là gì?
Bản liệt kê một số đặc tính đó được cho dưới đây.
1. Hiểu sinh viên học tập như thế nào.
2. Quan tâm đến sự phát triển của sinh viên.
3. Luôn nâng cao trình độ chuyên môn
4. Sẵn sàng cộng tác với đồng nghiệp và học tập từ đồng nghiệp.
5. Luôn rút ra kinh nghiệm thực tế chuyên môn.
Các giảng viên cần phải:
1. Thiết kế chương trình dạy học hoặc kế hoạch làm việc từ đề cương và chương
trình đào tạo;
2. Sử dụng hàng loạt các phương pháp dạy và học thích hợp hiệu quả và có hiệu
suất
cao với các nhóm đông các sinh viên, nhóm ít đông hơn và với từng người;
3. Giúp đỡ sinh viên giải quyết các vấn đề học thuật với phương pháp được nhiều
sinh viên chấp nhận;
4. Sử dụng nhiều kỹ thuật đánh giá thích hợp để thúc đẩy việc học tập của sinh
viên
và để đạt được thành tích cao;
5. Đánh giá việc làm của riêng mình bằng nhiều cách: tự đánh giá, đánh giá thông
qua đồng nghiệp, từ sinh viên và dùng các kỹ thuật đánh giá;

giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mò của sinh viên, mài sắc thêm năng
lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức. Nói
tóm lại, giúp cho sinh viên có được các năng lực tự giáo dục suốt đời.
Giảng viên đại học thường được coi là tấm gương của một học giả mẫu mực mà
sinh viên của họ muốn được noi theo và là hiện thân thực sự về môn học mà họ
đang đảm nhận. Vai trò mới của người giáo viên như là một hình mẫu sẽ có ý
nghĩa sâu xa hơn nhiều so với vai trò chỉ đơn thuần là người pha trộn, chế biến
thông tin trong việc làm gia tăng ảnh hưởng của giảng viên lên cách tư duy và
phương pháp nghiên cứu của sinh viên trong suốt cuộc đời. Bởi thế, người thày
phải biết chấp nhận những thách thức để thực hiện tốt vai trò đặc biệt của mình.
Để định hướng cơ hội phát triển đối với thế hệ sau có thể là một biểu hiện cao quý
nhất của con người. Đó là sự bất tử không gì có thể so sánh được, Obafemi
Awolowo đã nhận xét về nghề thày giáo như là một “ sự cao quí vĩnh cửu trọn vẹn
đối với ai bước vào nghề dạy học”. Đó thực sự là một vinh dự và trách nhiệm.
Người thầy luôn có may mắn với những cơ hội hàng ngày để trả lời cho sự cao quí
đó. Với cương vị một ngưòi thầy giáo bạn đã sử dụng cơ hội trên tốt như thế nào?
Bảng 2.1 Sự so sánh giữa hành vi có hiệu quả và không có hiệu quả của giảng viên
và được sử dụng để bạn tự đánh giá liệu mình đã đáp ứng yêu cầu của một giảng
viên hay chưa.
Bảng 2.1 Các cách xử sự có hiệu quả và không có hiệu quả của giáo viên
Hành vi có hiệu quả Hành vi không hiệu quả
Hoạt bát, thể hiện nhiệt tình Lãnh đạm, uể oải; thể hiện buồn chán
Quan tâm đến sinh viên và các hoạt
động của lớp học
Thể hiện không quan tâm đến sinh viên

và các hoạt động của lớp học
Vui vẻ và lạc quan Chán nản, bi quan; buồn bã
Tự kiểm soát được mình Dễ mất bình tĩnh, bối rối
Thích đùa, hài hước Quá nghiêm chỉnh, hài hước thái quá

viên thành công
Không bao giờ khen sinh viên; thường
chê bai, bắt bẻ cả những chuyện nhỏ
nhặt.
Chấp nhận những cố gắng của sinh
viên một cách chân thành
Nghi ngờ động cơ của sinh viên
Đoán được phản ứng của người khác
trong những tình huống giao tiếp
Không thấy trước phản ứng của người
khác trong những tình huống giao tiếp
Khuyến khích sinh viên để phát huy
tối đa khả năng
Không để tâm đến việc khuyến khích
sinh viên phát huy khả năng
Các hoạt động trên lớp đều được lập Các hoạt động trên lớp không được lập kế hoạch và tổ chức tốt kế hoạch và tổ chức chu đáo
Phương pháp quản lý lớp học linh
hoạt trong khuôn khổ kế hoạch chung
Thể hiện quá cứng nhắc trong quản lý
lớp học, không có khả năng thực hiện
uyển chuyển kế hoạch


không có tác dụng khắc phục thiếu sót.
Sẵn sàng giúp đỡ Thiếu thiện chí hoặc giúp đỡ miễn
cưỡng
Dự đoán được các khó khăn tiềm
tàng và cố gắng giải quyết chúng
Không có khả năng dự đoán và giải
quyết các khó khăn tiềm ẩn
Chúng ta khảo sát một chút các chất lượng của giáo viên đại học để hiểu chi tiết.
Chất lượng của giáo viên đại học
Tất nhiên, một giáo viên phải có những phẩm chất trí tuệ kết hợp với vai trò là tấm
gương của một học giả cao quý. Những tính chất đó bao gồm:
• Ham hiểu biết tri thức mới
• Làm chủ tri thức và các phương pháp khảo sát
• Tôn trọng sự thật
• Trung thực về trí tuệ, và
• Hiểu cơ bản về quá trình học
Bài tập
1. Với cương vị một giáo viên, hãy sử dụng bảng 2.1 và các tiêu chí nêu trên để tự
đánh giá có phê phán về bản thân.
2. Tóm tắt các qui định ở nước bạn có liên quan đến tuyển dụng, tiền lương, và
nghỉ hưu của giảng viên.
3. Mô tả người giáo viên tốt nhất mà bạn biết ở trường đại học, nêu ra các đặc tính
làm cho họ nổi bật.
Bài 2: Chuẩn bị để có sự khởi đầu tốt
Các mục tiêu tổng quát
• Trình bày các bước mà giảng viên đại học cần thực hiện để có được sự khởi đầu
tiết giảng tốt; và
• Đưa ra các chi tiết mà người giáo viên cần phải tiến hành để thực hiện có hiệu
quả ở mỗi bước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status