SK_NK : kinh nghiệm dạy biểu thức chưa chữ toán 4 - Pdf 17

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/. Lý do chọn đề tài
Việc dạy học toán ở các trường tiểu học nước ta đã có một quá trình phát triển
lâu dài, với sự cố gắng chung của đội ngũ giáo viên, các phương pháp dạy học đã
vận dụng và thường xuyên được cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của
nhà trường tiểu học, việc làm đó đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán
ở tiểu học.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở tiểu học là dạy trên cơ sở tổ
chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh. Cụ thể là giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạt động của học sinh ,
mọi học sinh đều hoạt động học tập phát triển năng lực của cá nhân. Nói chung
là giáo viên nói ít, giảng dạy ít, làm mẫu ít nhưng lại thường xuyên làm việc với
từng nhóm học sinh hoặc từng học sinh. Với cách làm như vậyđòi hỏi giáo viên
phải biết cách tổ chức các hoạt động của học sinh, đồng thời phải không ngừng
nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đáp ứng kịp thời những tình huống có
thể xảy ra trong quá trình hoạt động học tập của học sinh. Nhờ cách dạy học như
vậy mà giáo viên nắm được khả năng của từng học sinh, từ đó có thể giúp học
sinh phát triển năng lực, sở trường của cá nhân. Mọi học sinh đều phải hoạt
động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc tích cực. Tổ chức được cách như vậy thì
không cần đặt ra các biện pháp để “giữ trật tự” mà tưng học sinh vẫn tập trung
vào các hoạt động học tập. Cáh học này tạo cho học sinh thói quen làm việc tự
giác, chủ động, không rập khuôn, biết tự đánh giá, và đánh giá kết quả học tập
của mình, của các bạn đăch biệt là tạo cho học sinh có niềm tin trong học tập.
Trong quá trình dạy học giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hoạt
động học tập dưới sự trợ giúp đúng mức và đúng lúc của giáo viên, của sách giáo
khoa và đồ dùng dạy học toán để từng học sinh (hoặc nhóm học sinh) tự phát
hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học để từ đó tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức
và có thể vận dụng được kiến thức đó trong luyện tập thực hành.
Để phù hợp với quá trình nhận thức và các giai đoạn học tập sâu ở tiểu học,
khi dạy học môn toán ở lớp 4. Giáo viên chgủ động lựa chọn vận dụng hợp lý
các phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh

chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình được trình bày trong sách giáo khoa
để thiết kế các hoạt động và tổ chức học sinh tham gia, thực hiện nhiệm vụ học
tập, giúp các em hình thành kiến thức qua chính các hoạt động đó. Giáo viên
không áp đặt, thông báo kiến thức có sẵn mà tổ chức hướng dẫn học sinh tìm tòi,
phát hiện, tự chiếm lĩnh kiến thức. Giáo viên tổ chức sao cho mọi học sinh đều
được tham gia hoạt động học, sao cho học sinh tháy mình phát hiện, tìm ra kiến
thức chứ không phải nhìn vào sách giáo khoa hay nghe giáo viên thông báo kết
quả có sẵn trong sách giáo khoa. Giáo viên hướng dẫn để học sinh sử dụng vốn
hiểu biết của mình để hình thành kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, động viên
học sinh tập suy nghĩ, quan sát, diễn đạt, thực hiện hoạt động học tập theo cách
riêng của mình.
Khi dạy hình thành kiến thức mới, giáo viên giúp học sinh tự phát hiện vấn đề
của bài học, giúp học sinh huy động những kiến thức và kinh nghiệm đã tích luỹ
được để tự mình (hoặc cùng các bạn trong nhóm) tìm cách giải quyết vấn đề, tự
lĩnh hội nội dung kiến thức. Trong dạy học việc hướng dẫn học sinh tự tìm tòi
chiếm lĩnh kiến thức mới rất cần thiết, nó có vai trò quan trong trong quá trình
hình thành và phát triển tư duy toán học của học sinh bởi vì: Quá trình tự tìm tòi,
khám phá sẽ giúp học sinh tính chủ động, sáng tạo đồng thời giúp học sinh hiểu
sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc có góp phần
cùng với bạn tìm tòi khám phá xây dựng kiến thức đó và tự đánh giá được kiến
thức của mình. Khi gặp khó khăn, chưa giải quyết được vấn đề. Học sinh tự đo
được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm.
Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so
với các bạn để tự rèn luyện điều chỉnh. Trong quá trình học sinh tìm tòi, khám
phá giáo viên biết được tình hình học tập của học sinh về mức độ nắm kiến thức
từ bài học cũ, vốn hiểu biết, trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa
những yếu tố đã biết với những yếu tố phải tìm. Học sinh tìm tòi, khám phá sẽ
rèn được tính kiên trì vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học toán
như tự tin, suy luận có cơ sở coi trọng tính chính xác, tính hệ thống.
II/. Thực trạng dạy học

- Học sinh trả lời, (nhận xét) những biểu thức đó có điểm gì giống nhâu?
người ta gọi chúng là gì? (giống nhau gồm số, dấu tính và một chữ. Được gọi
chung là biểu thức có chứa một chữ).
*Tính giá trị của biểu thức có chứa một chữ:
Giáo viên hỏi và viết bảng: Nếu a=1 thì 3+a=?
+ Nếu a=1 thì 3+a= 3+1=4. Khi đó 4 là giá trị của biểu thức 3+a
+ Yêu cầu học sinh làm tương tự với trường hợp khác: với a=4;5;7;…
Từ đó giáo viên dẫn dắt học sinh tự nêu được. Mỗi lần thay chữ a bằng một số
ta tính được một giá trị của biểu thức 3+a.
Với hai bài “biểu thức có chứa hai chữ” và “biểu thức có chứa ba chữ” có thể
hướng dẫn tương tự theo các bước:
- Nhận biết biểu thức chứa chữ .
- Giá trị của biểu thức chứa chữ và cách tính giá trị của biểu thức đó.
Với cách dạy như trên tôi thấy học sinh học tập sôi nổi hơn, phát huy được
tính tích cực của học sinh, học sinh chủ động nắm được kiến thức. Giáo viên chỉ
là người tổ chức hướng dẫn, học sinh vận đụng được để làm bài tập.

III/. Thực nghiệm
Sau đây là một dự kiến kế hoạch dạy học bài: “biểu thức có chứa hai chữ”
(Toán 4.tuần 7)
Bài : “biểu thức có chứa hai chữ”
I/. mục tiêu:
Giúp học sinh:
- Nhận biết được “biểu thức có chứa hai chữ”, giá trị của biểu thức có chứa
hai chữ.
- Biết cách tính giá trị của biểu thức có chứa hai chữ theo các giá trị cụ thể
của từng chữ.
II/. Các hoạt động dạy học chủ yếu:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
• Hoạt động 1:

câu được…con cá.Em câu được …
con cá. Cả hai anh em câu được…con
cá?
Ta thực hiện phép tính cộng số con cá
của anh câu được với số cá của em
câu được.
- Học sinh nghe phổ biến cách
chơi và thực hành chơi.

nêu số cá đã câu được của mỗi người
và trả lời câu hỏi.
Chẳng hạn: Anh câu được 4 con cá.
Em câu được 2 con cá. Hai anh em
câu được mấy con cá.
- Giáo viên nghe học sinh trả lờp
viết vào cột số cá của anh là 4, số cá
của em là 2. Viết 4+2 vào cột số cá của
hai anh em.
Giáo viên nêu vấn đề: Nếu anh câu
được a con cá, em câu được b con cá
thì số cá của hai anh em câu được là
bao nhiêu con cá?
- Từng cặp học sinh báo cáo kết
quả đi câu cá.
- Anh câu được 4 con cá, em câu
được 2 con cá thì hai anh em câu
được
4+2 con cá
- hai anh em câu được a+b con cá
- Học sinh theo dõi và nhắc lại.

rồi thực hiện tính giá trị của biểu
thức.
- Ta tính được một giá trị của
biểu thức a+b

- Giáo viên yêu cầu học sinh làm
bài tập
- Gọi 2 học sinh lên bảng làm
- Giáo viên nhận xét cho điểm.
Bài 2: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc
đề bài, sau đó tự làm bài tập.
- yêu cầu cả lớp nhận xét.
- Giáo viên nhận xét, chốt lại kết
quả đúng.
Bài 3: Giáo viên treo bảng số như
phần bài tập sgk
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu
nội dung trong bảng.
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm
bài tập
- yêu cầu cả lớp nhận xét.
- Giáo viên nhận xét, chốt lại kết
quả đúng.
Bài 4: Tiến hành tơng tự bài 3
• Hoạt động 4; Củng cố dặn dò
- Giáo viên yêu cầu học sinh lấy
một ví dụ về biểu thức chứa hai chữ
- Giáo viên yêu cầu học sinh lấy
ví dụ về giá trị của biểu thức trên
- Giáo viên nhận xét các ví dụ


Bài 1 27/27 em làm đúng
23/27 em làm đúng và đủ
đạt 100%
đạt 85,2%
Bài 2 27/27 em làm đúng
25/27 em làm đúng và đủ
đạt 100%
đạt 96,3%
Bài 3 24/27 em làm đúng và đủ đạt 88,9%
Qua giờ học này học sinh nắm vững cách thay các chữ trong biểu thức bằng số
sau đó tính được giá trị của biểu thức.Khi dạy đến bài biểu thức có chứa ba chữ
tôi thấy khi hình thành biểu thức, tính giá trị biểu thức tôi thấy học sinh học nhẹ
nhàng, học sinh hoạt động tích cực, nắm vững được kiến thức.
Ngoài ra các em biết vận dụng kiến thức đã học về biểu thức chứa chữ làm tốt
các bài tập được nêu dưới nhiều hình thức khác như:
a. Giá trị của biểu thức a+b là 1245. Tính b, nếu: a=789; a=456;…
b. Tìm x; y (là thành phần chưa biết của phép tính)
X+2=7; Xx3=18; X:7=14; 289:X=2; Xx2+3=9
c. Tìm X là số tự nhiên, biết: X<5; X+3<6; Xx8<32; 15:X<6
d. Điền số thích hợp vào ô trống:
+4=15; -3=9; 8- =1; 2+ <4; 13< <17
V/. Đánh giá công việc:
a. Thành công:
Giáo viên đã vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học trong quá
trình dạy giáo viên thực hiện lấy học sinh làm trung tâm, học sinh được làm việc
nhiều, tự tìm tòi, phát hiện chiếm lĩnh tri thức, dưới sự dẫn dắt điều khiển, hướng
dẫn, tổ chức hợp lý của giáo viên.
Giáo viên truyền thụ tri thức rõ ràng đúng trọng tâm, kiểm tra được học sinh,
lôi cuốn học sinh vào giờ học một cách tích cực và nghiêm túc.

huống bất ngờ không xử lý kịp.
Do điều kiện và khả năng có hạn, sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi
những thiếu sót mong các bạn đồng nghiệp góp ý, bổ xung.
Tháng 3 năm 2008
Người viết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status