Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................... 4
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
............................................................................................................................. 7
1. GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG ....................................................... 7
1.1 Giới thiệu về kim loại vàng .................................................................. 7
1.2 Ứng dụng của vàng. .............................................................................. 8
2. VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ ................................. 11
2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ .................................................... 11
2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ .. 11
2.1.2 các tính chất của vàng để làm một loại tiền tệ ............................ 12
2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ. ........................................ 12
2.2.1 Chế độ đồng bản vị (hai bản vị vàng – bạc) ............................... 13
2.2.1.1 Chế độ bản vị song song ..................................................... 13
2.2.1.2 Chế độ bản vị kép ................................................................ 14
2.2.1 Chế độ bản vị vàng ....................................................................... 16
2.2.2.1. chế độ bản vị tiền vàng ...................................................... 16
2.2.2.2 chế độ bản vị vàng thỏi ....................................................... 18
2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng ............................................... 18
2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấy ........................................................... 20
3. GIÁ VÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG GIÁ VÀNG ........... 26
3.1 Mức cung về Vàng .............................................................................. 26
3.1.1. xu hướng chung của mức cung ................................................... 26
3.1.2. Mức khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn ............ 26
3.1.3. Những giao dịch của các nước có dự trữ chủ lực và các cơ quan
quốc tế. ................................................................................................... 28
3.2 Mức cầu về vàng ................................................................................. 29
3.2.1 Mức cầu của khu vực kim hoàn ................................................... 30
3.2.2 Mức cầu của các ngành công nghiệp sử dụng vàng ................... 31
3.2.3 Mức cầu dự trữ của các ngân hàng quốc gia ............................... 32
3.2.4 Mức cầu về đầu tư và đầu cơ ....................................................... 32
1.1 cơ sở dự báo ........................................................................................ 84
1.1.1 Tình hình thế giới ......................................................................... 84
1.1.1.1. Triển vọng kinh tế Mỹ ....................................................... 84
1.1.1.2 Xu hướng đồng USD .......................................................... 85
1.1.1.3 Quan hệ cung cầu về vàng ................................................. 86
1.1.1.4 Giá dầu thế giới ................................................................... 87
1.1.2 Tình hình trong nước ................................................................... 88
1.1.2.1 Kế hoạch xây dựng một sàn giao dịch vàng quốc gia ....... 88
1.1.2.2 Thuế xuất nhập khẩu vàng – kho ngoại quan vàng ........... 90
1.1.2.3 Lạm phát .............................................................................. 91
1.2 Dự báo giá vàng VN trong trung và dài hạn ...................................... 93
2. Một số biện pháp phát triển thị trường vàng Việt Nam .......................... 94
2.1 Kiềm chế lạm phát .............................................................................. 95
2.2 Phát huy hiệu quả của kho ngoại quan vàng ..................................... 95
2.3 Phát triển kế hoạch xây dựng sàn giao dịch vàng quốc gia .............. 97
2.4 Phát triển thị trường chứng khoán và bất động sản. .......................... 98
2.5 Quản lý việc kinh doanh bất hợp pháp vàng qua mạng. ................... 99
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
KẾT LUẬN .................................................................................................... 100
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, giá vàng diễn biến liên tục theo chiều
hướng gia tăng. Đặc biệt từ tháng tư năm 2006, giá vàng trong nước diễn
biến theo chiều hướng đột biến, liên tục gia tăng từ mức 0,98 triệu đồng/chỉ
vào thời điểm đầu năm 2006 lên đỉnh điểm 1,5 triệu đồng/chỉ vào tháng 5
năm 2006. Sau đó duy trì ổn định ở mức 1,3 triệu đồng/chỉ. Nhưng từ tháng
9 năm 2007 đến nay, giá vàng thế giới và Việt Nam đột ngột tăng mạnh phá
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện
đại: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic, phương pháp so
sánh, tổng hợp, thống kê từ các bảng biểu, báo cáo thường niên của các bộ,
cơ quan ban ngành và các tổ chức quốc tế.
5. Nội dung của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận tốt
nghiệp được chia làm ba chương
Chương I: Tổng quan về vàng và thị trường vàng.
Chương II: Phân tích sự biến động của giá vàng Việt Nam trong thời gian
qua.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương III: Dự báo giá vàng trong thời gian tới và một số biện pháp phát
triển thị trường vàng Việt Nam.
Nội dung của đề tài khóa luận tốt nghiệp hướng tới là rất rộng và phức tạp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực nhưng do những hạn chế về thời gian, tài
liệu và khả năng của bản thân, nên khóa luận không tránh khỏi có những
thiết sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường đại học Ngoại
Thương đã trang bị cho em các kiến thức quý báu trong thời gian học tập ở
trường. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Đào Thị Thu Giang, người
đã hết lòng hưỡng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm khóa
luận. Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty vàng bạc đá quý Sài
Gòn SJC, cô Phạm Thị Tuyết – phòng kinh doanh công ty vàng bạc đá quý
Sài Gòn SJC – đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, tạo điều kiện để em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2008
Tác giả
Ngô Trí Nam
hơn thế. Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%) được gọi là
electrum. Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng lượng riêng
giảm.
- Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; hợp kim với đồng cho màu đỏ
hơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch
kim cho màu trắng, bismuth tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen. Đồ
trang sức được làm bằng các kết hợp vàng nhiều màu được bán cho du
khách ở miền Tây nước Mĩ được gọi là "vàng Black Hills".
- Trạng thái ôxi hoá thường gặp của vàng gồm +1 (vàng(I) hay hợp chất
aurous) và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric). Ion vàng trong dung dịch sẵn
sàng được khử và kết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kim
loại nào khác làm tác nhân khử. Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tan
cho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kết
tủa rắn.
1.2 Ứng dụng của vàng.
Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên
chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong
ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều
nước.
Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóa
tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại
công nghiệp thiết yếu.
Các ứng dụng khác:
• Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu.
• Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết
bị thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và
nhiều sản phẩm khác.
o 1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
o 1lượng = 1.20556 ounce
• Thị trường vàng trong nước
o Đơn vị yết giá: VND/lượng
o Công thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trong
nước (TN):
10
TN = (TG + phí vận chuyển) * 1.20556 * (1+thuế NK)* tỉ giá USD/VND + phí gia công
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ
2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ
2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, vàng có các tính chất cơ
bản sau đây:
- Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ,
người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ
không được coi là tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương
phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát,
người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.
- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết,
người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Người ta có
thể dùng lửa để nhận biết được vàng có thật hay không.
- Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao
cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh
toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính
chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng
đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về
số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ
khác cũng cần thiết không kém.
- Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ
Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn
hẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứng được
nhiều nhất những gì mà một đồng tiền hàng hóa (commodity money) cần có:
sự khan hiếm, tính bến, có thể chuyên chở, dễ chia nhỏ, đồng chất, và chất
lượng được duy trì lâu bền. Sự chấp nhận vàng và bạc như tiền còn được
củng cố từ một thực tế là các kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giá
trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức. Hơn nữa
giá trị của vàng và bạc được ổn định tương đối so với các hàng hóa khác;
ngoài ra, chất lượng của chúng có thể kiểm tra một cách chính xác và được
các chuyên gia (thợ vàng) chứng nhận.
Chế độ đồng bản vị là chế độ tiền tệ đầu tiên được thừa nhận chính thức
trong lịch sử loài người. Nguyên nhân hình thành chế độ đồng bản vị là sự
tăng của sản xuất xã hội làm cho khối lượng trao đổi ngày càng lớn, dẫn đến
việc đồng tiền bạc được sử dụng trước đó trở nên không còn phù hợp nữa.
Lúc này người ta bắt đầu sử dụng thêm vàng như kim loại thứ hai để đúc
tiền tệ. Vì vậy bạc và vàng đồng thời được coi là bản vị. Cả vàng và bạc đều
được tự do đúc thành tiền và cùng có giá trị trong thanh toán và trao đổi.
Trong chế độ đồng bản vị này có hai cách quy đổi giữa giá trị đồng tiền vàng
và giá trị đồng tiền bạc nên cũng có hai chế độ đồng bản vị.
2.2.1.1 Chế độ bản vị song song
Ở dạng tinh khiết, bản vị vàng hàng hóa kim loại hoạt động trên cơ sở giá trị
đầy đủ của các đồng xu (full-bodied coins), tức giá trị tiền tệ của chúng cũng
chính là giá trị kim loại của đồng xu. Điều này hàm ý, khi giá vàng thay đổi
so với giá bạc, sẽ làm cho tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc thay
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đổi theo. Mặc dù tiền xu được đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốc
gia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng
trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng hỗn hợp kim loại
là vàng và bạc hay với các kim loại khác có giá trị thấp hơn. Các quốc gia
có giá gấp 15 lần bạc (371,25 : 24,75 = 15), và tỷ lệ 15:1 này là tương đương
với giá vàng bạc trên thị trường tự do lúc bây giờ; tuy nhiên, càng về cuối
thế kỷ 18 thì giá bạc trên thị trường đã bắt đầu giảm. Ngoài ra, các nước
khác, ví dụ như Pháp, đã hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ “bạc:vàng
là 15,5:1”. Kết quả là so với nước Mỹ thì ở các nước khác vàng đã có giá trị
hơn bạc. Nếu bỏ qua chi phí giao dịch và vận chuyển thì lãi ròng thu được
khi đem 15 ounce bạc để đổi lấy 1 ounce vàng ở Mỹ rồi bán số vàng này ở
nước ngoài là 0,5 ounce bạc. Điều này đã kích thích kích thích luồng bạc
chạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước Mỹ. Kết quả là với vai trò là
phương tiện lưu thông thì ở Mỹ vàng đã bị định giá thấp và bạc đã được định
giá cao, vàng từ từ biến khỏi lưu thông ở nước Mỹ; do đó, xét về mặt danh
nghĩa thì Mỹ vẫn áp dụng chế độ đồng bản vị kim loại, nhưng trên thực tế
chế độ này đã chấm dứt để nhừng chỗ cho chế độ đơn bản vị của bạc.
Chế độ đơn bản vị bạc tồn tại cho tới năm 1834, khi Quốc hội Mỹ quyết
định tăng giá vàng từ $19,394/ounce lên $20,76/ounce, trong khi đó giá bạc
vẫn giữ nguyên nhằm khôi phục lại chế độ đồng bản vị kim loại. Như vậy tỷ
lệ bạc : vàng là 16, trong khi trên thế giới vẫn là 15,5. Mộ lần nữa trong thực
tế nước Mỹ lại chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại là Vàng.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năm 1879, Mỹ quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không chuyển
đổi ra bạc, đây là một bước quan trọng trong việc hình thành chế độ đơn bản
vị vàng (bản vị vàng) ở Mỹ. Tuy nhiên chế độ này vẫn không được chính
thức phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật Bản vị vàng vào năm 1990.
2.2.1 Chế độ bản vị vàng
Mặc dù nước Anh hoạt động dưới chế độ bản vị vàng trong hầu hết thể ký
19, nhưng nhìn chung chế độ này vẫn chưa được áp dụng một cách phổ biến
cho tới những năm 1870. Hầu hết các nước châu âu, mà dẫn đầu là Đức, đã
chuyển sang chế độ bản vị vàng trong thấp niên 1870, và tiếp sau à Mỹ vào
năm 1879. Năm 1880, bản vị vàng từ một ít quốc gia đã phát triển thành Hệ
vangf có sẵn được xác định bằng khối lượng vàng được sản xuất ra. Vai trò
của NHTW trong chế độ bản vị vàng là mua vàng từ người cư trú và thông
qua đó phát hành tiền ra lưu thông.
Đây là chế độ tiền tệ thông thoáng và ổn định nhất trong lịch sử, vì theo như
quy định, vàng luôn được phản ánh trung thực giá trị của mình, do đó sẽ khó
có khả năng xảy ra hiện tượng lạm phát.
Nhược điểm của chế độ tiền tệ này là đồng tiền vàng vẫn là hàng hóa, do đó
với nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, việc sản xuất vàng không thể theo
kịp để đáp ứng. Them vào đó giá trị thực của đồng tiền trong lưu thông càng
ngày càng kém đi so với lượng giá trị mà nó đại diện.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.2.2.2 chế độ bản vị vàng thỏi
Người ta gọi là chế độ bản vị vàng thỏi vì vàng không còn tồn tại dưới dạng
tiền nữa mà được đúc thành thỏi. Trong chế độ bản vị vàng thỏi, vàng không
còn được tự do đúc thành tiền để đưa vào lưu thông nữa, lúc này tiền trong
lưu thông phải được quy định chặt chẽ về hàm lượng vàng. Bên cạnh đó, các
loại giấy bạc ngan hàng không được đổi ra vàng một cách tự do mà phải đạt
một tiêu chuẩn nhất định do Nhà nước đề ra thì mới có thể đổi ra vàng. Hoạt
động xuất nhập khẩu vàng cũng bị kiểm soát chặt chẽ và có lúc bị cấm.
2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng
Chế độ bản vị hối đoái vàng cùng được áp dụng trong một quãng thời gian
tương tự như chế độ bản vị vàng thỏi. Cũng có những quy định tương tự như
chế độ bản vị vàng thỏi, điểm khác biệt là các loại tiền ngân hàng trong chế
độ này sẽ không được chuyển ra vàng mà chuyển ra ngoại tệ của nước thực
hiện chế độ bản vị vàng thỏi. Việc chuyển đổi này cũng không được thực
hiện tự do mà phải thực hiện với một số lượng đủ lớn.
Năm 1914, đại chiến Thế giới thứ nhất nổ ra buộc các nước chấm dứt
chuyển đổi các đồng tiền của mình ra vàng. Hệ thống tỷ giá cố định đã hoạt
động trong suốt 35 năm phải nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi. Nước
được lâu. Cuộc Đại suy thoái kinh tế vào năm 1929 đã làm sụp đổ hệ thống
ngân hàng trên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin vào vàng. Gánh anựng
đã đè lên nước Anh và một cuộc hỗn loạn đã xảy ra vào ngày 21/9/1931,
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
buộc nước Anh cùng các nước khác phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc
chuyển đổi đồng tiền nước mình ra vàng, tiếp theo sau là Mỹ vào năm 1933.
Hệ thống tiền tệ quốc tế bước vào giai đoạn các khối tiền tệ không liên kết
với nhau, như: Khối bảng Anh, khối đôla Mỹ, và khối các đồng tiền tiếp tục
gắn với vàng. Ngoài ra, các biện pháp kiểm soát ngoại hối, thuế quan, và các
hạn chế thương mại khác được áp dụng phổ biến. Kết quả là: sự sụp đổ của
hệ thống tài chính và thương mại quốc tế.
2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấy
Trong chế độ này tiền giấy thay thế cho vàng thực hiện chức năng của tiền
tệ, nhưng tiền giấy gần như không có giá trị mà nó chỉ là loại tiền mang dấu
hiệu giá trị mà thôi. Sở dĩ tiền giấy được thừa nhận chung là do nó được Nhà
nước công nhận, bảo đảm và bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Một lý do
khác không kém phần quan trọng là lòng tin của người dân đối với đồng tiền
giấy. Một khi lòng tin này mất đi thì người dân sẽ lựa chọn không nắm giữ
đồng tiền giấy nữa và thay vào đó nẵm giữ vàng hoặc những vật dụng có giá
khác.
Hệ thống tiền tệ Bretton Woods (BWS)
Động cơ tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới là để tránh sự tan rã của các
mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế như đã từng xuất hiện vào những
năm 1930. Vào những năm 1920, nước Đức dã từng chứng kiến những cuộc
lạm phát phi mã và vào năm 1929 nước Mỹ phải đứng nhìn sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán, đây là tín hiệu báo trước một cuộc đại suy thoái sẽ diễn
ra trên quy mô toàn thế giới. Trong những năm 1930 được đánh dấu bằng sự
mất cân đối nghiêm trọng trong thương mại quốc tế, khiến cho hầu hết các
nước buộc phải áp dụng các chính sách như: bảo hộ mậu dịch, thiểu phát,
Ý tưởng cố định tỷ giá USD vào giá vàng là để cho BWS có được sự tin cậy
tuyệt đối. Vào năm 1945, chính phủ Mỹ nắm giữ gần 70% lượng vàng dự trữ
của thế giới. Do đó, thật là có lý do để các NHTW nước ngoài tin tưởng và
sẵn sàng nắm giữ USD làm dự trữ của mình, bởi vì chính phủ Mỹ cam kết
duy trì chuyển đổi USD ra vàng không hạn chế tại mức giá cố định là
$35/ounce; do đó các NHTW biết rằng mỗi USD trong dự trữ đều được đảm
bảo đổi ra vàng tại mức giá đã cho. Trong thực tế, cam kết của chính phủ
Mỹ chuyển đổi USD ra vàng là sự bảo đảm duy trì sức mua củ USD ngang
với sức mua của vàng.
Mỗi quốc gia được yêu cầu duy trì tỷ giá trung tâm của đồng bản tệ với
USD, nhưng trong những trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị mất cân
đối cơ bản (mất cân đối trong cán cân vãng lai) thì có thể tiến hành phá giá
hay nâng giá đồng tiền. Trong trường hợp tỷ giá thay đổi nhỏ hơn 10%, thì
IMF không có ý kiến can thiệp, nhưng nếu thay đổi ở mức cao hơn thì phải
có sự chấp thuận của IMF. Khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là giải pháp
cuối cùng nhằm giúp cân bằng cán cân thanh toán và đây được xem như một
trong những đặc điểm cơ bản của BWS.
Khi hệ thống tỷ giá cố định được đưa vào vận hành tháng 3 năm 1947, thì
nhìn chung các đồng tiền chưa được tự do chuyển đổi và lượng USD là rất
hạn chế để mua bán trên thị trường ngoại hối; trong khi đó hầu hết các
NHTW đều cảm thấy thiếu hụt dự trữ càng làm cho cầu về USD tăng lên
mạnh mẽ. Trong những năm đầu sau chiến tranh Thế giới II, nước Mỹ luôn
bội thu cán cân vàng lai trong khi các nước châu Âu thì bị thâm hụt nặng.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Điều này xẩy ra vì sau chiến tranh năng lực xuất khẩu của châu Âu bị tàn
phá, mặt khác nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất vài
tài thiết đất nước lại tăng lên. Năm 1949, Mỹ tuyên bố trợ cấp một khoản
trọn gói cho các nền kinh tế châu Âu (trợ cấp Marshall). Sự ra đời của “Tổ
chức hợp tác kinh tế châu Âu – OEEC” (sau trở thành “Tổ chức hợp tác và
1967, một loạt các đồng tiền của các nước phải điểu chỉnh tỷ giá.
Cho dù một số đồng tiền đã lên giá, song những nhà đầu cơ vẫn cho là chưa
đủ liều lượng. Hơn nữa giá vàng trên thị trường tự do cao hơn giá vàng
chính thức làm cho các nhà đầu cơ tin tưởng rằng một cộc phá giá USD là
không tránh khỏi. Một làn sóng đầu cơ khốc liệt tấn công vào USD bằng
cách bán ồ ạt USD để mua đồng Mác Đức và Yên Nhật. Trước áp lực của
đầu cơ ngày càng tăng, buộc tổng thống Nixon vào ngày 15 tháng 8 năm
1971 phải chính thức tuyên bố “đồng USD không tiếp tục được chuyển ra
vàng nữa”.
Trong một nỗ lực nhằm khắc phục chế đột tỷ giá cố định, các nước G-10 đã
cố gắng giải quyết vấn đề đồng USD được định giá quá cao bằng cách phá
giá USD đối với vàng từ $35/ounce xuống $38/ounce và nâng giá các đồng
tiền khác trung bình 8% so với USD, ngoài ra còn cho phép mở rộng biên độ
dao động của các đồng tiền so với USD từ +/- 1% lên +/- 2,5%. Dù G-10 đã
cố gắng duy trì sự ổn định trở lại của BWS nhưng phá giá và thả nổi đồng
tiền lại trở nên hiện thực sau đó, đặc biệt là chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát
giữa các nước công nghiệp ngày càng lớn.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi được coi là chế độ tỷ giá ngược với BWS.
Như vậy đã không có bất cự một thỏa thuận chung nào được áp dụng cho
chế độ tỷ giá thả nổi và cũng không có thỏa thuận nào về những quy tắc áp
dụng đối với chính sách tỷ giá trong tương lai dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn
của hệ thống Bretton Woods.
25