Nghiên cứu hình ảnh lâm sàng và điều trị các u mạch máu trẻ em - Pdf 18

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bất thường mạch máu là bệnh lý rất hay gặp. Tuy nhiên, việc
chẩn đoán và điều trị các bệnh lý này trong thời gian dài gặp nhiều khó
khăn, một phần do thuật ngữ “u máu” (Angiomas, Hemangiomas) đã
được sử dụng lẫn lộn cho nhiều loại tổn thương rất khác nhau. Năm
1982, Mulliken và Glowacki đề nghị một phân loại mới, về sau đã
được chấp nhận và bổ sung bởi Hiệp hội quốc tế nghiên cứu về các bất
thường mạch máu (ISSVA -International Society for the Study of
Vascular Anomalies) và đã trở thành hệ thống phân loại các bất thường
mạch máu được chấp nhận rộng rãi nhất trong y văn. Các bất thường
mạch máu (vascular anomalies) được phân chia thành 2 nhóm khác
nhau gồm các Dị dạng mạch máu (vascular malformations) là sự bất
thường về cấu trúc hình thể của mạch máu và U mạch máu (vascular
tumors) là các tổn thương mạch máu do sự tăng sản tế bào. U mạch
máu của trẻ em (UMMTE) là loại u mạch máu hay gặp nhất
(infantile hemangioma hoặc hemangioma of infancy), thường xuất
hiện sau sinh, phát triển nhanh chóng trong những tháng đầu, sau đó ổn
định và tự biến mất sau nhiều năm. Việc điều trị các UMMTE cũng đã
có những thay đổi đáng kể với các phương pháp điều trị bảo tồn hơn
do đặc tính tự thoái lui của tổn thương.
Ở Việt nam, hiện nay việc chẩn đoán các UMMTE vẫn thường bị
nhầm lẫn với các dị dạng mạch máu. Hơn nữa, chỉ định và phương
pháp điều trị thường không thích hợp và nhầm lẫn (tiêm xơ, tiêm
nước sôi, xạ trị, ) dẫn đến nhiều biến chứng nặng như hoại tử, teo
lép tổ chức, sẹo xấu Chưa có tài liệu nào trong nước nghiên cứu
một cách hệ thống về UMMTE theo phân loại mới. Vì vậy, chúng tôi
tiến hành đề tài “Nghiên cứu hình ảnh lâm sàng và điều trị các u
mạch máu trẻ em” nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, tiến triển và phân loại các u mạch
máu ở trẻ em Việt Nam.
2. Đề xuất chỉ định, lựa chọn các phương pháp điều trị an toàn,

trong sự phát triển hình dạng của các mạch máu với các tế bào nội
mô bình thường, thường xuất hiện vào lúc sinh, lớn lên tỉ lệ thuận với
sự tăng trưởng của trẻ và không bao giờ thoái lui.
2
Phân loại này đã được chấp nhận và bổ sung bởi ISSVA, được áp
dụng dễ dàng trong chẩn đoán và giúp định hướng cho sự điều trị.
Bảng 1.1. Phân loại của ISSVA ( 1996) về các bất thường mạch
máu (Vascular Anomalies)
U mạch máu (Vascular Tumors)
U mạch máu trẻ em
(Infantile Hemangioma)
Các u mạch máu hiếm gặp khác
(tufted angioma, kaposiform
hemangioendothelioma, congenital
hemangioma, pyogenic granuloma
…)
Dị dạng mạch máu
(Vascular Malformations)
Mao mạch (Capillary)
Bạch mạch (Lymphatic)
Tĩnh mạch (Venous)
Động mạch (Arterial)
Thể phối hợp (CVM, AVM )
Thuật ngữ u mạch máu trẻ em (infantile hemangioma hoặc
hemangioma of infancy) đã được đề nghị cho các u mạch máu thông
thường ở trẻ em.
1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CÁC UMMTE
UMMTE là loại u hay gặp nhất ở trẻ em. Mulliken đề nghị phân
chia thành 3 loại: UMMTE thể nông ở da (superficial
hemangioma), thể sâu dưới da (deep hemangiomas) và thể hỗn

dạng là các dấu hiệu có giá trị để chẩn đoán UMMTE ở giai đoạn
tăng sinh.
1.4.2.2. Cộng hưởng từ (MRI) được xem là kỹ thuật tốt nhất để
đánh giá phạm vi của tổn thương và các bất thường phối hợp. Trên
chuỗi xung T1 và T2, UMMTE là một khối tổ chức đặc nhiều tiểu
thuỳ ranh giới rõ với những dòng trống tín hiệu của những mạch máu
nuôi và dẫn lưu, đồng tín hiệu hoặc giảm tín hiệu so với cơ trên chuỗi
xung T1, tăng tín hiệu hơn so với cơ trên chuỗi xung T2, tăng độ
tương phản mạnh và đồng nhất với tiêm tĩnh mạch gadolinium.
1.4.2.3. Chup cắt lớp vi tính (CT): nếu không có MRI.
1.4.2.4. Chụp mạch: chỉ dành khi cần làm nút mạch ở tình huống
cấp cứu với hình ảnh một khối giới hạn rõ bắt màu tổ chức nhu mô
rất đậm và kéo dài.
1.4.3. Sinh thiết: ít khi cần thiết, để phân biệt với u ác tính.
1.5. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
1.5.1. U hạt sinh mủ (pyogenic granuloma)
1.5.2. Các dị dạng mạch máu
1.5.2.1. Dị dạng mao mạch xuất hiện ngay từ lúc sinh, dưới dạng
vết màu hồng hoặc đỏ, bề mặt phẳng, mịn (trước kia gọi là “u máu
phẳng”). Tổn thương lớn lên tỉ lệ với sự phát triển của trẻ, có thể gây
phì đại các cấu trúc bên dưới, không bao giờ tự mất đi. Siêu âm
4
Doppler có hình ảnh dòng chảy chậm.
1.5.2.2. Dị dạng tĩnh mạch có thể tím, xanh hoặc màu da, xuất
hiện từ lúc sinh, lớn lên theo tuổi, không tự mất đi, sờ thường mềm,
có thể ấn xẹp dễ dàng, phồng trở lại khi thả ép, đôi khi sờ thấy các
sỏi tĩnh mạch, tăng thể tích ở tư thế dốc xuống và có hình ảnh dòng
chảy chậm trên siêu âm doppler.
1.5.2.3. Dị dạng bạch mạch có màu sắc da bình thường, cảm giác
mềm khi sờ và cho ánh sáng xuyên qua khi soi dưới ánh đèn. Siêu âm

Laser: Laser màu (PDL) đã được sử dụng trong điều trị các
UMMTE thể nông, các giãn mao mạch còn lại sau khi u thoái lui,
hoặc các u bị loét. Tuy nhiên, nghiên cứu của Batta (2002) đã chỉ ra
rằng laser màu làm tăng nguy cơ giảm sắc tố, teo da, thậm chí loét
sau khi điều trị.
Phương pháp làm nghẽn mạch: rất hiếm khi được sử dụng.
Các phương pháp khác như áp lạnh, tiêm xơ, xạ trị hiện nay
hầu như không còn được áp dụng do các biến chứng nặng như sẹo
xấu, teo tổ chức, giảm sắc tố, sự đóng sớm của vùng cốt hoá
Điều trị phẫu thuật: phẫu thuật muộn, phẫu thuật sớm.
Tóm lại, Tất cả các phương pháp điều trị đều tiềm ẩn các nguy
cơ, đặc biệt cho những trẻ nhỏ dưới 1 tuổi. Những khối u nào cần
thiết phải điều trị và điều trị bằng phương pháp gì vẫn còn nhiều
vấn đề bàn cãi trong y văn. Làm thế nào để giải quyết hợp lý các
vấn đề chức năng và tâm lý cho trẻ mà vẫn đảm bảo an toàn và
hiệu quả thẫm mỹ cao phụ thuộc vào sự cân nhắc thận trọng của
thầy thuốc trên cơ sở các hiểu biết sâu sắc về bệnh lý cũng như các
phương pháp điều trị sẵn có.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bao gồm 321 bệnh nhân với 409 UMMTE được chẩn đoán, theo
dõi và điều trị từ 03/2006 đến 06/2011, tại khoa Phẫu thuật Tạo hình
bệnh viện Xanh Pôn, Hà nội.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán là UMMTE được theo dõi,
điều trị, có đầy đủ hồ sơ bệnh án lưu trữ, có ảnh chụp thương tổn trong
các thời điểm thăm khám và điều trị.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân trong quá trình theo dõi đã xác định lại là các dị
dạng mạch máu hoặc các u mạch máu hiếm gặp khác, không có đầy

Phẫu thuật muộn sửa di chứng

Thoái lui

chậm
ảnh hưởng
tâm lý
Thất
bại
Không
Phần u còn lại
Phần u còn lại
8
BẤT THƯỜNG MẠCH MÁU
BẤT THƯỜNG MẠCH MÁU
CHẨN ĐOÁN
XÁC ĐỊNH
UMMTE
CHẨN ĐOÁN
XÁC ĐỊNH
UMMTE
PHÂN BIỆT VỚI
DỊ DẠNG MẠCH MÁU
PHÂN BIỆT VỚI
DỊ DẠNG MẠCH MÁU
Tiền sử
Tiền sử
Lâm sàng
Lâm sàng
Siêu âm

Số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình SPSS phiên bản
16.0, p < 0,05 được chúng tôi xem như có ý nghĩa thống kê.
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CÁC UMMTE
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nữ/nam
Chúng tôi có 321 bệnh nhân, nữ gặp nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam
là 2,14 (p < 0,001), tương tự với những nghiên cứu của các tác giả
khác (2:1-5:1). Nguyên nhân của ưu thế trội ở nữ giới hiện vẫn chưa
rõ ràng.
Bảng 3.2: Thời điểm phát hiện UMMTE
Ngay sau
sinh
Trong tháng
đầu
Sau tháng
đầu
Tổng
Số u 135 249 25 409
Tỷ lệ % 33,0 60,9 6,1 100
9
UMMTE ít khi xuất hiện ngay sau khi sinh, thường trong tháng
đầu sau sinh (60,9%), rất hiếm khi xuất hiện sau tháng đầu (p<
0,001). Các dấu hiệu ban đầu của UMMTE thường được mô tả như
vết muỗi đốt, vết xước nhỏ, vết bầm tím, vết hồng nhạt, rất dễ nhầm
lẫn và thường bị bỏ qua. Do vậy, thời điểm xuất hiện của UMMTE
rất khó xác định và không trùng khớp nhau qua y văn.
Bảng 3.4: Sự tăng kích thước UMMTE trong giai đoạn tăng sinh
Tăng kt <2 lần 2 lần 3 lần >3 lần Tổng
Số u 37 38 47 287 409
Tỷ lệ % 9,0 9,3 11,5 70,2 100

1 u 2 u 3 u > 3 u Tổng
Số bệnh nhân 262 44 10 5 321
Tỷ lệ (%) 81,6 13,7 3,1 1,6 100
Đại đa số các trẻ chỉ có một khối u duy nhất (81,6%). Tỷ lệ trẻ có 1
UMMTE theo quan sát của các tác giả khác thay đổi từ 77-88%.
Bảng 3.9: Biến chứng của UMMTE
Biến chứng Số trường hợp Tỷ lệ %
Loét 20 4,9
Loét và chảy máu 2 0,5
Loét và ảnh hưởng chức năng 10 2,4
Chảy máu 1 0,2
Ảnh hưởng chức năng 21 5,1
Biến dạng các tổ chức 8 2,0
Không biến chứng 347 84,8
Cộng 409 100
Có 62 khối u bị biến chứng (15,2%); loét hay gặp nhất (7,8%),
ảnh hưởng chức năng (7,5%), chảy máu rất hiếm gặp (0,2%), không
có trường hợp nào gây đe dọa tính mạng.
Bảng 3.13: Liên quan của biến chứng loét và các thể lâm sàng
Loét Không loét Tổng cộng
U nông 15 (5,4%) 265 (94,6%) 280 (100%)
U hỗn hợp 17 (15,2%) 95 (84,6%) 112 (100%)
U sâu 0 (0%) 17 (100%) 17 (100%)
Tổng cộng 32 377 409
12
Các UMMTE thể hỗn hợp hay gặp loét nhất, sau đó là các u thể
nông, không gặp loét ở u thể sâu đơn thuần (p <0,01).
Bảng 3.16: Tuổi của trẻ tại thời điểm loét
< 3 tháng 3-6 tháng > 6 tháng Tổng cộng
Số bệnh nhân 6 18 6 30

dạng giác mạc, lác mắt với nguy cơ giảm thị lực không hồi phục.
13
Các u quanh môi có thể gây ảnh hưởng chức năng bú mút hoặc gây
rò rỉ nước dãi.
3.2. ĐIỀU TRỊ CÁC UMMTE
Bảng 3.19: Các phương pháp điều trị UMMTE
Phương pháp điều trị Số lượng u Tỉ lệ %
Không can thiệp 332 81,2
Tiêm Triamcinolone trong u 13 3,2
Uống Prednisolone 29 7,1
Phẫu thuật 28 6,8
Tiêm Triamcinolone và Uống
Prednisolone
1 0,2
Tiêm Triamcinolone và Phẫu thuật 3 0,7
Uống Prednisolone và Phẫu thuật 3 0,7
Tổng số 409 100.0
Chúng tôi điều trị bảo tồn với sự theo dõi không can thiệp trong
81,2% các trường hợp. Sự can thiệp chỉ được dùng khi thực sự cần
thiết và cũng thường mang tính chất “bảo tồn” để hạn chế đến mức
tối thiểu các biến chứng của điều trị. Phần u còn lại sau điều trị sẽ
được cho phép thoái lui tự nhiên. Thái độ điều trị này cũng phù hợp
với một số tác giả khác; Enjolras không can thiệp trong 80-90% các
khối u, tỷ lệ này với Boon là 90%, với Margileth là 98%.
3.2.1. Điều trị bảo tồn bằng theo dõi không can thiệp
Thời điểm các khối u bắt đầu ngừng phát triển là 5,67 ± 2,18
tháng (từ 2-20 tháng). Thời điểm các khối u bắt đầu thoái lui là 10,80
± 4,04 ( từ 4-36 tháng).
Bảng 3.21: Liên quan giữa thời gian u bắt đầu thoái lui và giới, vị
14

thoái
lui
Thoái lui
một phần
Thoái lui
còn ít
dấu vết
Thoái lui
không còn
dấu vết
Tổng
cộng
Năm đầu
tiên
n 120 99 10 7 236
% 50,8 41,9 4,2 3,0 100
Năm thứ 2 n 3 150 31 30 214
% 1,4 70,1 14,5 14,0 100
Năm thứ 3 n 2 21 53 24 100
% 2,0 21,0 53,0 24,0 100
Năm thứ 4 n 0 1 14 16 31
% 0 3,2 45,2 51,6 100
Mức độ thoái lui của các UMMTE tốt dần qua thời gian theo dõi
(p < 0,001).
Bảng 3.23: Liên quan giữa mức độ thoái lui và kích thước của
15
UMMTE sau 3 năm theo dõi.
Kích thước
≤ 3cm
Kích thước

tác giả kết luận “không ngoại lệ nào được tìm thấy đối với qui luật là
khối u mạch máu lớn nhanh trong những tháng đầu của đời sống rồi
sau đó thoái lui và biến mất tự phát, trung bình vào khoảng năm thứ
5 của đời sống”. Tác giả cho rằng các biện pháp quyết liệt để phá
hủy các khối u này là không thích hợp.
16
Quan sát của Lister về sau đã được khẳng định bởi hàng loạt
nghiên cứu của các tác giả khác như Ronchese (1953), Walter (1953),
Wallace (1953), Van Der Werf (1954), Biving (1954)
Jacob (1957) theo dõi trên 105 UMMTE trong vòng từ 1-5 năm,
nhận thấy 97% các khối u hoặc biến mất hoàn toàn hoặc đã thoái lui
đến điểm mà sự biến mất cuối cùng là chắc chắn. Tác giả kết luận
rằng: “nếu một u mạch máu xuất hiện trong những tuần đầu tiên của
đời sống, và phát triển nhanh trong những tháng đầu, khi đó sự điều
trị nên được từ chối, bởi vì có một xu hướng thoái lui tự phát rất đặc
biệt cho loại tổn thương này.”
Bowers (1960) có lẽ thực hiện một sự quan sát tiến cứu lâu dài
nhất về tiến triển tự nhiên của UMMTE. Có 83 trong số 169 u mạch
máu ( 49%) biến mất hoàn toàn vào lúc 5 tuổi, và 72% các u biến mất
hoàn toàn vào lúc 7 tuổi. Tất cả các khối u được theo dõi từ 5-10
năm, trong đó có 75% thoái lui hoàn toàn không còn dấu vết, số còn
lại thoái lui một phần. Chỉ có 10 khối u (6%) kết quả kém thẫm mỹ
bao gồm 2 vết giãn mao mạch và 8 di tích xơ mỡ.
Finn (1983) đã đánh giá áp dụng lâm sàng của hệ thống phân loại
mới của Mulliken. Tác giả theo dõi 159 UMMTE với thời gian từ 1-
11 năm, trung bình 5 năm, trong đó có 60,4% kết quả tuyệt vời và
39,6% kết quả kém hơn.
Qua theo dõi 236 UMMTE trong thời gian từ 1-5 năm, trung bình
là 2,5 năm, chúng tôi có 99,6 % các khối u đã và đang thoái lui, trong
đó có 25,4% các khối u thoái lui không còn dấu vết. Có 24% khối u

bằng cách giải thích về tiến triển tự nhiên của khối u, những lợi ích
và tác động có hại của các loại điều trị khác nhau, chỉ ra các bức ảnh
về sự sự thoái lui tự nhiên của các u có đặc điểm tương tự, đo đạc và
chụp ảnh để cho các bố mẹ trẻ nhìn thấy sự thoái lui của tổn thương
của con họ theo thời gian, điều này giúp động viên các bố mẹ trẻ qua
mỗi lần thăm khám. Giai đoạn khó khăn nhất là trong 6-9 tháng đầu.
Thông thường, sau 2-3 lần thăm khám, phần lớn các lo lắng của bố
mẹ trẻ đã được giảm nhẹ hoặc đã biến mất, đặc biệt khi các u bắt đầu
có dấu hiệu thoái lui.
3.2.2. Điều trị bằng corticosteroid tiêm trong u
Có 17 khối u được điều trị, trong đó 16 u ở vùng đầu mặt cổ.
Bảng 3.27: Chỉ định điều trị tiêm Triamcinolone trong u
Ảnh hưởng
chức năng
Biến dạng tổ
chức kế cận
Ảnh hưởng thẫm mỹ
nặng
Tổng cộng
6 2 9 17
Bảng 3.28: Cách thức điều trị tiêm Triamcinolone trong u
X ± SD Nhỏ nhất Lớn nhất
Liều tiêm (mg/kg) 1,60 ± 0,39 1 2
Số lần tiêm 1,59 ± 0,94 1 4
Tuổi lúc điều trị (tháng) 7,23 ± 2,52 3 12
18
Bảng 3.29: Kết quả điều trị tiêm Triamcinolone trong u
Rất tốt Tốt Trung bình Kém Tổng cộng
Số u 1 3 9 3 16
Có 13/16 các khối u giảm kích thước > 25%, 3 trường hợp kết

Loét đơn
thuần
Biến dạng
tổ chức kế
cận
Ảnh hưởng
thẫm mỹ
nặng
Tổng
cộng
6 10 4 4 4 28
19
Chỉ định Prednisolone uống cho các u gây ảnh hưởng chức năng,
loét, gây biến dạng các tổ chức kế cận có nguy cơ vĩnh viễn hoặc ảnh
hưởng thẫm mỹ nặng nề, đa số là các u ở đầu mặt cổ (85,7%), kích
thước lớn (85,7%), thể hỗn hợp (78,6%).
Bảng 3.31: Cách thức điều trị Prednisolone uống
X ± SD Nhỏ nhất Lớn nhất
Liều khởi đầu (mg/kg/ngày) 2,02 ± 0,34 1,39 2,73
Thời gian liều khởi đầu (tuần) 3,87 ± 1,07 2 7
Thời gian điều trị (tuần) 17,55 ± 5,65 9 29
Tuổi lúc điều trị (tuần) 21,44 ± 12,25 5 44
Bảng 3.32: Kết quả điều trị Prednisolone uống
Rất tốt Tốt Trung bình Kém Tổng cộng
Số u 7 13 10 3 33
Tỷ lệ % 21,2 39,4 30,3 9,1 100
Có 90,9% các khối u có sự giảm kích thước hơn 25%. Phần u còn
lại tiếp tục thoái lui tự nhiên sau khi dừng điều trị. Có 3 u sau đó
được phẫu thuật.
Bảng 3.33: Biến chứng điều trị Prednisolone uống (n=28)

3.2.4. Điều trị phẫu thuật
Có 34 khối u được điều trị phẫu thuật; 33 khối u ở đầu mặt cổ, 31 u
phẫu thuật 1 lần và 3 u được phẫu thuật 2 lần. Tất cả các bệnh nhân đều
được phẫu thuật sớm trong giai đoạn ổn định hoặc đang thoái lui. Tuổi
trung bình tại thời điểm phẫu thuật là 15,5 ± 8,5 tháng (7 - 48 tháng).
Bảng 3.34: Các chỉ định phẫu thuật
Chỉ định Số trường hợp Tỷ lệ %
Ảnh hưởng chức năng 11 32,4
Biến dạng tổ chức 4 11,8
Ảnh hưởng thẫm mỹ-tâm lý 19 55,8
Cộng 34 100
Phẫu thuật thường được thực hiện muộn sau khi khối u đã thoái lui
toàn bộ, để điều trị các vấn đề thẫm mỹ còn lại như da thừa, di tích xơ-
mỡ, hoặc các biến dạng hình thể. Gần đây, nhiều tác giả đề nghị phẫu
21
thuật sớm cho một số UMMTE ở vùng đầu mặt cổ trước tuổi đến
trường (trước 6-7 tuổi) mà không chờ sự thoái lui hoàn toàn của khối
u, đối với các u mà khả năng thoái lui kém, ảnh hưởng nặng nề đến
tâm lý của trẻ, hoặc gây ra sự biến dạng khó hồi phục nếu chờ đợi sự
thoái lui tự nhiên (u đầu mũi, môi, vành tai…). Một vài tác giả đề
nghị phẫu thuật ngay từ 2-3 tuổi, khi trẻ bắt đầu nhận biết về hình
ảnh bản thân. Đôi khi, phẫu thuật cũng được đề nghị sớm hơn, ngay
trong giai đoạn tăng sinh (trước 1 tuổi) đối với các khối u đe dọa sự
sống (u hạ thanh môn), ảnh hưởng chức năng trầm trọng (u quanh
mắt, quanh môi), hoặc hiếm hơn vì lý do thẫm mỹ, mà không thể
kiểm soát bằng điều trị nội khoa. Phẫu thuật cũng được đề nghị cho
các u bị biến chứng như loét, hoại tử, chảy máu không đáp ứng với
các điều trị khác. Như vậy, có thể thấy phẫu thuật sớm ngày càng
được chấp nhận nhiều hơn như sự điều trị lựa chọn trong một vài chỉ
định đặc biệt. Tuy nhiên, phẫu thuật viên phải hết sức cân nhắc về

tổ chức lành bên dưới, thường là bình diện vô mạch, sau đó tìm và
đốt các mạch máu nuôi bằng dao điện. Trong nhóm bệnh nhân của
chúng tôi, hiệu quả của phẫu thuật đã được khẳng định với kết quả rất
tốt và tốt chiếm 96,7% các trường hợp. Trong đa số các trường hợp,
một lần phẫu thuật duy nhất cho sự điều trị dứt điểm với thời gian
điều trị được rút ngắn. Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả của
Mcheik, Demiri.
3.2.5. Đánh giá kết quả chung của phác đồ điều trị
Bảng 3.37: Kết quả chung của phác đồ điều trị với thời gian
theo dõi trung bình 2,5 năm (1-5 năm)
Tuyệt vời Rất tốt Tốt Trung bình Kém Tổng
Số u 60 92 94 54 1 301
Tỷ lệ % 19,9 30,6 31,2 17,9 0,3 100
Kết quả chung của phác đồ là rất khả quan với kết quả tốt, rất tốt
và tuyệt vời chiếm 81,7%. Kết quả thu được sẽ còn tiếp tục cải thiện
với thời gian theo dõi xa hơn nữa.
23
C
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 409 UMMTE trên 321 bệnh nhân chúng tôi có
một số kết luận sau:
1. Đặc điểm lâm sàng các UMMTE
- UMMTE xuất hiện ở nữ nhiều hơn nam với tỉ lệ Nữ/Nam =
2,14/1. U thường xuất hiện trong tháng đầu tiên sau sinh (60,9%),
hoặc ngay sau sinh (33%), hiếm khi xuất hiện sau tháng đầu (6,1%).
- UMMTE tăng nhanh kích thước trong vài tuần đến vài tháng
sau đó, thông thường tăng gấp nhiều hơn 3 lần kích thước ban đầu
(70,2%). Kích thước tối đa của UMMTE rất đa dạng. Tuy nhiên,
phần lớn u có kích thước nhỏ và trung bình (70%).
- UMMTE hay gặp nhất ở vùng đầu mặt cổ (50,6%). U thể nông

- Triamcinolone với nồng độ pha loãng và liều lượng thấp 1-2
mg/kg cũng có ích trong một số trường hợp các u nhỏ và khu trú.
- Phẫu thuật sớm là một phương pháp an toàn và hiệu quả (rất tốt
36,7%, tốt 60%) trong một số trường hợp chọn lọc cho các khối u ở
mặt, với những nguyên tắc kỹ thuật đặc thù.
- Các phương pháp điều trị có thể phối hợp với nhau, mục đích
thúc đẩy và rút ngắn thời gian thoái lui của khối u mà vẫn đảm bảo an
toàn và hiệu quả thẫm mỹ cao.
- Với thời gian theo dõi trung bình 2,5 năm (từ 1-5 năm), kết quả
chung của phác đồ điều trị là tuyệt vời: 19,9%, rất tốt: 30,6%, tốt:
31,2%, trung bình: 17,9%, kém chỉ 0,3%. Thành công này khẳng
định sự an toàn và hiệu quả của phác đồ điều trị.
KIẾN NGHỊ
Tiếp tục theo dõi các UMMTE với thời gian dài hơn từ 5-7 năm
để có thể đánh giá đầy đủ về đặc tính thoái lui tự nhiên của các
UMMTE. Đặc tính này cần được phổ biến rộng rãi trong tất cả các
chuyên ngành có liên quan đến bệnh lý các bất thường mạch máu.
Thống nhất tên gọi các bất thường mạch máu theo phân loại mới
của ISSVA, để tránh sự nhầm lẫn trong chẩn đoán và điều trị các loại
bệnh lý này.
Cần có các nghiên cứu sâu về tính an toàn, hiệu quả và vai trò
của Propranolol và Laser (đặc biệt là laser màu-PDL) trong điều trị
các UMMTE. Từ đó cho phép hoàn thiện phác đồ điều trị.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status