Lời nói đầu
Chất lượng sản phẩm vốn là một điểm yếu kém kéo dài nhiều năm ở nước ta
trong nền kinh tế KHHTT trước đây vấn đề chất lượng được đề cao và được coi là
mục tiêu quan trọng để phát triển kinh tế những kết quả mang lại chưa được là bao
nhiêu do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã phủ nhận nó trong hoạt động cụ thể
của thời gian cũ.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế xã hội chất lượng đã quay về vị trí đúng với
ý nghĩa. Người tiêu dùng họ là những người lựa chọn những sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ đạt chất lượng không những thế xuất phát từ nhu cầu người tiêu dùng
các doanh nghiệp phải chú ý đến nhu cầu người tiêu dùng mà bằng sự nhìn nhận và
bằng những hành động mà doanh nghiệp đã cố gắng đem đến cho người tiêu dùng.
Sự thoả mãn người tiêu dùng đồng nghĩa với doanh nghiệp đã thực sự nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề chất lượng cao.
Trong nền kinh tế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần cùng với sự mở
cửa của VN ra thế giới làm cho sự cạnh tranh ngày càng diễn ra một cách quyết liệt
hơn. Các doanh nghiệp không những chịu sức ép lẫn nhau hướng đến sự tồn tại,
phát triển và vươn ra bên ngoài mà doanh nghiệp còn chịu sức ép của bên hàng hoá
nhập khẩu như sức ép chất lượng, giá cả, dịch vụ… chính vì vậy các nhà quản lý
coi trọng vấn đề chất lượng như là gắn với sự tồn tại sự thành công của doanh
nghiệp đó cũng chính là tạo nên sự phát triển của nền kinh tế trong mỗi quốc gia.
Từ sự kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn tôi đã thấy tầm quan trọng của
vấn đề quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp Việt Nam từ đó trong tôi nảy
sinh đề tài "Quản lý chất lượng - thực trạng và một số giải pháp nhằm áp dụng
một cách hợp lý và hiệu quả hệ thống quản trị chất lượng trong các DN Việt
Nam".
Nội dung chính của đề tài:
Chương I: Những vấn đề chung về chất lượng và QTCL.
Chương II: Quan điểm nhận thức và thực trạng công tác QTCL trong các DNVN.
Chương III: Một số giải pháp nhằm áp dụng một cách hợp lý và hiệu quả hệ
thống quản trị chất lượng trong các DNVN.
Chương I
phù hợp trên từng thị trường khác nhau. Nếu doanh nghiệp áp dụng quan điểm này
ta thấy được sản phẩm có chất lượng cao giá cả cao thì sẽ tiêu thụ trên những thị
trường mà khách hàng có nhu cầu và có khả năng thoả mãn nhu cầu của họ.
Chính vì vậy quan điểm này nhà sản xuất cần phải nắm bắt một cách cần thiết
và thiết yếu. Một chứng minh cho thấy doanh nghiệp Trung Quốc đã thành công
trong chiến lược này. Thông qua thực tế thì hàng hoá Trung Quốc trên thị trường
khác nhau thì chất lượng khác nhau.
Nhưng nhược điểm của quan điểm này là ở chỗ như thế doanh nghiệp hay lệ
thuộc vào người tiêu dùng nếu nói một phía nào đó thì ta cho rằng doanh nghiệp
luôn luôn theo sau người tiêu dùng.
Ta thấy quan điểm nhìn nhận từ hiều góc độ khác nhau, mỗi quan điểm có
mặt ưu điểm và nhược điểm của nó nếu tận dụng mặt ưu điểm thì có khả năng đem
lại một phần thành công cho doanh nghiệp.
Nhưng nhìn chung quan điểm đưa ra ngày càng tạo nên tính hoàn thiện để
nhìn nhận chất lượng. Một trong những định nghĩa được đánh giá cao là định nghĩa
theo tiêu chuẩn hoá quốc tế đưa ra "Chất lượng là tập hợp những tính chất và đặc
trưng của sản phẩm và dịch vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu và nhu cầu
tiềm ẩn’’.
Như vậy biết là từ lý luận đến thực tiễn là cả một vấn đề nan giải nhưng tất cả
là phải cố gắng nhất là tại thời điểm hiện này nền kinh tế thế giới đang lâm vào
khủng hoảng,các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì tất cả đều phải cố gắng sao cho
đưa lý luận và thực tiễn xích lại gần nhau tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế.
Đối với nước ta, việc xem xét các khái niệm về chất lượng là cần thiết vì nhận
thức như thế nào cho đúng về chất lượng rất quan trọng, việc không ngừng phát
triển chất lượng trong phạm vi mỗi doanh nghiệp nói riêng và chất lượng hàng hoá
và dịch vụ của cả nước nói chung.
1.2. Các loại chất lượng sản phẩm
Trước hết ta xem xét đặc trưng cơ bản của chất lượng sản phẩm.
- Chất lượng là một phạm trù kinh tế xã hội - công nghệ tổng hợp. ở đây chất
lượng sản phẩm được quy định bởi 3 yếu tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật chúng ta
các chỉ tiêu nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá trong sản xuất
kinh doanh.
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lượng trong chiến lược phát
triển kinh tế.
Mục đích: Nhằm kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, kéo dài thời gian cạnh
tranh trên thị trường.
Hệ thống gồm có:
+ Chỉ tiêu công dụng: Đặc trưng, các thuộc tính sử dụng của sản phẩm hàng
hoá như giá trị dinh dưỡng trong thực phẩm,…
+ Chỉ tiêu công nghệ: Đặc trưng cho quy trình chế tạo sản phẩm cho chất
lượng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, chi phí thấp, hạ giá thành.
+ Chỉ tiêu độ an toàn: Đảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất cũng
như đồ dùng sinh hoạt gia đình.
+ Chỉ tiêu kích thước: gọn nhẹ thuận tiện trong sử dụng trong vận chuyển.
+ Chỉ tiêu sinh thái: Mức gây ô nhiễm môi trường.
+ Chỉ tiêu lao động: Là mối quan hệ giữa người sử dụng với sản phẩm. Ví dụ:
Công cụ dụng cụ phải được thiết kế phù hợp với người sử dụng để tránh ảnh hưởng
tới sức khoẻ và cơ thể.
+ Chỉ tiêu thẩm mỹ: Tính chân thật, hiện đại hoặc dân tộc, sáng tạo phù hợp
với quan điểm mỹ học chân chính.
+ Chỉ tiêu sáng chế phát minh: chấp hành nghiêm túc pháp lệnh bảo vệ quyền
sở hữu công nghiệp, quyền sáng chế phát minh.
Mục đích: Tôn trọng khả năng trí tuệ khuyến khích hoạt động sáng tạo áp
dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật đối với nước
ngoài.
- Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản xuất
kinh doanh.
Hệ thống chỉ tiêu này dựa trên các tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn ngành
hoặc các điều khoản trong hợp đồng kinh tế: bao gồm các nhóm chỉ tiêu sau:
+ Nhóm tiêu chuẩn về bao gói ghi nhãn, vận chuyển và bảo quản.
Mục đích của nhóm chỉ tiêu này:
1) Nhằm giới thiệu sản phẩm cho người sử dụng
2) Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người sản xuất
3) Cho phép truy tìm nguồn gốc của sản phẩm thông qua nhãn mác.
+ Nhóm các chỉ tiêu về nguyên tắc thủ tục: quy định những nguyên tắc thủ
tục, những yêu cầu cần thiết nhằm bảo quản cho quá trình hoạt động thống nhất,
hợp lý và có hiệu quả.
Nhóm này gồm có:
1) Những định mức và điều kiện kỹ thuật sử dụng sản phẩm.
2) Quy định trình tự thực hiện các thao tác
+ Nhóm chỉ tiêu kinh tế gồm có:
1) Chi phí sản xuất
2) Giá cả
3) Chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Nhóm chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó liên quan đến quyết định sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp, hiệu quả của doanh nghiệp và cả quyết định mua sản
phẩm của khách hàng.
1.4. Một số khái niệm liên quan đến quản trị chất lượng.
Nếu mục đích cuối cùng của chất lượng là thoả mãn nhu cầu khách hàng thì
quản trị chất lượng là tổng thể những biện pháp kỹ thuật, kinh tế hành chính tác
động lên toàn bộ quá trình hoạt động của tổ chức, để đạt được mục đích của tổ
chức với chi phí xã hội thấp nhất.
Tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận khác nhau của các chuyên giá, các nhà
nghiên cứu tuỳ thuộc vào đặc trưng của nền kinh tế mà người ta đã đưa ra nhiều
khái niệm khác nhau về quản trị chất lượng.
Nhưng một định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất về quản trị chất lượng được
đa số các nước thống nhất và chấp nhận là định nghĩa nêu ra trong ISO8409: 1994.
Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý
chung xác định chính sách chất lượng, mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng
chất lượng cũng như yêu cầu về thực hiện các yếu tố của hệ chất lượng.
* Mối quan hệ giữa quản trị chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm soát chất
lượng và cải tiến chất lượng được mô tả qua hình vẽ sau:
- QTCL: Quản trị chất lượng
- DBCL: Đảm bảo chất lượng
- KSCL: Kiểm soát chất lượng
- CLCL: Cải tiến chất lượng.
* Phạm vi và mối quan hệ giữa khái niệm cơ bản trong lĩnh vực chất lượng có
thể được khái quát trong sơ đồ sau:
CC: Chính sách chất lượng
ĐKCL: Điều khiển chất lượng
ĐBCL: Đảm bảo chất lượng
ĐBCL
I
: Đảm bảo chất lượng nội bộ tổ chức
ĐBCL
N
: Đảm bảo chất lượng với bên trong.
CTCT: Cải tiến chất lượng
HCL: Hệ chất lượng
KHCL: Kế hoạch chất lượng
QLCLTH: Quản lý chất lượng tổng hợp.
Trong đó chính sách chất lượng là hạt nhân nằm ở vị trí trung tâm, chi phối
toàn bộ hoạt động quản lý chất lượng, từ việc xây dựng hệ chất lượng lập kế hoạch
chất lượng đến việc điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất
lượng.
BCLĐ
KSCL
CTCL
QTCL
* Ishikawa: Là chuyên gia nổi tiếng về chất lượng của Nhật Bản và thế giới.
Với quan điểm "Chất lượng bắt đầu bằng đào tạo và cũng kết thúc bằng đào tạo".
Ông luôn chú trọng đến giáo dục đào tạo khi tiến hành quản lý chất lượng.
Ông đã đưa ra sơ đồ nhân quả (sơ đồ xương cá) dùng trong quản lý chất lượng
nó đã trở thành 1 trong 7 công cụ thống kê truyền thống. Đồng thời với quan điểm
để tăng cường cải tiến chất lượng, phải hoạt động theo tổ đội và tuân thủ các
nguyên tắc tự nguyện tự phát triển mọi người đều tham gia công việc của nhóm có
quan hệ hỗ trợ giúp đỡ nhau tiến bộ trong bầu không khí cởi mở và tiềm năng sáng
tạo thì ông đã góp phần lớn trong việc truyền bá hình thành các nhóm chất lượng
(QC: Quanlity cycle).
Như vậy, có thể nói rằng với các tiếp cận khác nhau nhưng các chuyên gia
chất lượng đã tương đối thống nhất với nhau về một số quan điểm về chất lượng:
Đó là:
- Quản lý chất lượng theo quá trình
- Nhấn mạnh yếu tố kiểm soát quá trình và cải tiến liên tục với sự việc phát
triển giáo dục, đào tạo.
- Nhấn mạnh sự tham gia của mọi người trong tổ chức.
- Nêu cao vai trò lãnh đạo và các nhà quản lý.
- Chú ý đến việc sử dụng các công cụ thống kê trong quản trị chất lượng.
II. Hệ thống quản trị chất lượng
- Hệ thống quản lý chất lượng là một tổ hợp cơ cấu tổ chức, trách nhiệm thủ
tục, phương pháp và các nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng.
1. Quá trình hình thành và phát triển của một hệ thống quản lý chất lượng
Có thể biểu diễn quá trình hình thành của hệ thống quản lý chất lượng như
sau:
Lịch sử phát triển:
1900 1925 1950
ĐBCL, Điều khiển CL QLCL cục bộ Hệ thống chất lượng
Như vậy xuất phát của hệ thống quản trị chất lượng là kiểm tra hoạt động này
khắc phục được nhược điểm của hoạt động kiểm tra vì phương pháp thống kê sẽ
kiểm soát từ chất lượng nguyên vật liệu đầu vào và theo dõi được phế phẩm cả
trong quá trình sản xuất chứ không phải là khâu sản phẩm cuối cùng. Từ đó rút ra
được quy luật vẽ biểu đồ mô tả để tìm nguyên nhân rút ra giải pháp khắc phục.
Đây là bước nhảy vọt,là phương pháp kiểm tra tích cực, kiểm tra phòng ngừa
chủ động và hiệu quả hơn.
Quá trình được mô tả như sau:
Ki m traể
Cho qua
Tiêu chu nẩ
Th c hi n ự ệ
úng tiêu đ
chu nẩ
Ki m ch ng ể ứ
th nghi m ử ệ
ki m nh o ể đị đ
l ng xem xétườ
Tác ng độ
ng cượ
B ho c x lý l iỏ ặ ử ạ
Ki m traể
Ki m ể
ch ng ứ
không
phù
h pợ
tĐạ
Như chúng ta đã biết chu kỳ sống của sản phẩm tuân theo vòng xoắn gồm 12
điểm và khái quát thành 4 giai đoạn: Nghiên cứu thiết kế, sản xuất, lưu thông và sử
dụng.
l ngượ
Các th t củ ụ
H ng d n côngướ ẫ
vi cệ
Năm 1994, Bộ tiêu chuẩn ISO-9000 được soát xét lại lần I và năm 2000 là
soát xét lần II.
Năm 1987, Bộ tiêu chuẩn có 5 tiêu chuẩn chính là: ISO9000, ISO 9001, ISO
9002, ISO 9003 và ISO 9004 trong đó:
+ Tiêu chuẩn ISO 9000 là tiêu chuẩn chung về quản lý chất lượng và đảm bảo
chất lượng giúp lựa chọn các tiêu chuẩn.
+ Tiêu chuẩn ISO 9001 là đảm bảo chất lượng trong toàn bộ chu trình sống
của sản phẩm từ khâu nghiên cứu triển khai sản xuất lắp đặt và dịch vụ.
+ Tiêu chuẩn ISO 9002: là đảm bảo chất lượng trong sản xuất lắp đặt và dịch
vụ.
+ Tiêu chuẩn ISO 9003: là tiêu chuẩn về mô hình đảm bảo chất lượng trong
khâu thử nghiệm và kiểm tra.
+ Tiêu chuẩn ISO 9004: là những tiêu chuẩn thuần tuý về quản trị chất lượng
không dùng để ký hợp đồng trong mối quan hệ mua bán mà do các công ty muốn
quản lý chất lượng tốt thì tự nguyện nghiên cứu áp dụng.
- Năm 1994, Bộ tiêu chuẩn được soát xét lần I và nội dung sửa đổi.
+ Từ tiêu chuẩn ISO 9000 cũ có các điều khoản mới ISO 9001, ISO9002, ISO
9003 và ISO 9004.
Trong đó:
1) ISO 9001 thay thế cho ISO 9000 cũ nhưng hướng dẫn chung cho quản lý
chất lượng và đảm bảo chất lượng.
2) ISO 9002: Tiêu chuẩn hướng dẫn áp dụng ISO 9001 và các tiêu chuẩn ISO
9002, ISO 9003
3) ISO 9004: Hướng dẫn quản lý chương trình bảo đảm độ tin cậy.
+ Từ tiêu chuẩn ISO 9004 cũ thêm các điều khoản mới ISO 9004-1;
ISO9004-2; ISO 9004-3 và ISO 9004-4.
thuận lợi vừa là thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam do yêu cầu mới đòi hỏi
cao hơn. Vì thế doanh nghiệp Việt Nam cần cập nhật kiến thức cải tiến hệ thống
của mình theo ISO 9000:2000.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu bền vững và lâu dài các doanh nghiệp Việt
Nam không nên chỉ dừng lại ở việc quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn mà cần
quan tâm đến việc thực hiện mô hình quản lý chất lượng toàn diện.
* Hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM
TQM (Total quality management) đây là phương pháp quản trị hữu hiệu được
thiết lập và hoàn thiện trong các doanh nghiệp Nhật Bản. Hiện nay đang được các
doanh nghiệp nhiều nước áp dụng.
Có thể nói TQM theo ISO 8402: 1994 như sau: TQM là cách thức quản lý
một tổ chức một doanh nghiệp tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của
các thành viên của nó nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn
khách hàng đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức và cho xã hội.
Có thể nói: lựa chọn và áp dụng TQM là bước phát triển tất yếu của các
doanh nghiệp Việt Nam. Chính TQM là điều kiện cần cho các DNVN để họ áp
dụng nâng cao trình độ quản lý chất lượng thấp kém hiện nay. ISO 9000 chỉ có một
mức độ nhưng TQM có thể ở nhiều mức độ khác nhau. TQM theo phong cách
Nhật Bản có thể coi là đỉnh cao của phương thức quản lý chất lượng còn ở Việt
Nam có thể áp dụng TQM ở mức thấp hơn và cũng có thể dùng giải thưởng chất
lượng Việt Nam để thưởng cho doanh nghiệp áp dụng tốt TQM.
ISO 9000 chỉ cho chúng ta biết cần phải làm gì để bảo đảm phù hợp ISO9000
nhưng làm thế nào để đạt tới mức đó thì ISO 9000 không nêu rõ. Nhưng chúng ta
đã biết không phải dễ dàng gì để được chứng nhận ISO 9000 và ít nhất chúng ta
phải có hệ thống chất lượng đáp ứng được ISO 9000. Còn TQM có thể thực hiện
trong các doanh nghiệp nếu các doanh nghiệp muốn dù họ ở mức độ TQM nào.
Vì thế nói về sự lựa chọn hệ thống chất lượng áp dụng trong các doanh nghiệp
Việt Nam ta có thể nêu ra ý kiến. Hệ thống TQM nên được tuyên truyền và áp
dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam ngay mà không cần chứng chỉ ISO rồi mới
áp dụng. TQM nếu áp dụng đúng đắn sẽ tạo ra nội lực thúc đẩy mạnh mẽ việc cải
tiền ra để mua như vậy là chất lượng thì doanh nghiệp phải quan tâm chất lượng
đối với sản phẩm mà mình làm ra…
- Chất lượng mà phù hợp thì đó chính là sự thành công trong việc quản lý của
doanh nghiệp: quản lý chất lượng tốt thì lúc đó chính là sự phù hợp giữa giá cả
hàng hoá bỏ ra thị trường và chi phí bỏ ra sản xuất đó chính là sự thoả mãn nhu cầu
khách hàng tức là "của nào thì giá đó".
Chương II
Những quan điểm nhận thức và thực trạng công tác quản lý chất lượng trong
các DNVN
Hiện nay ở nước ta, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
các doanh nghiệp có vị trí rất quan trọng, ngành CN được coi là đầu máy của đoàn
tàu kinh tế Việt Nam. Có thể nói, sự hình thành phát triển và điều chỉnh để các DN
sẽ là những chiếc cầu để Việt Nam nhanh chóng vượt lên, đủ sức cạnh tranh trên
thị trường khu vực và trên thị trường thế giới.
Những thách thức đối với nước ta hiện nay là trình độ phát triển còn thấp,
chất lượng tăng trưởng còn chưa cao, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa tốt cộng với
sức mua của dân còn thấp.
Điều đó được thể hiện qua mặt hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu tập trung vào
sản phẩm có giá trị gia tăng thấp các nguyên liệu thô chưa chế biến hoặc các hàng
sơ chế. Các mặt hàng trong nước được bảo vệ và nâng đỡ nhiều trong việc bảo trợ
hàng nội. Ví dụ cà fê, các sản phẩm làm từ sữa Vinamilk…
Vì thế để tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh tăng trưởng toàn diện tốt-
nhất thì bên cạnh việc phát triển cơ sở hạ tầng cả phần cứng và phần mềm thì nhà
nước phải khuyến khích các DN đầu tư vào các hệ thống QLCL. Đồng thời tự bản
thân các doanh nghiệp cũng phải thấy rõ vai trò quan trọng của chất lượng trong
các cơ sở sản xuất trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực cạnh tranh và cả
với doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Như vậy thực trạng công tác QLCL
trong các DN Việt Nam hiện nay ra sao?
1. Thực trạng vấn đề QLCL của DNVN giai đoạn trước năm 1990
Đây là giai đoạn mà nền kinh tế của ta bắt đầu có những chuyển đổi từ sản
chế thị trường còn yếu. Hệ thống tổ chức và cơ sở vật chất của cơ quan QLCL từ
trung ương đến địa phương chưa được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng.
Mục tiêu của người sản xuất và người tiêu dùng không đồng nhất trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Người sản xuất không biết thị hiếu của
người tiêu dùng, người tiêu dùng không hiểu về người sản xuất. Vì thế nhu cầu
người tiêu dùng bị tách rời với sản xuất…
II. Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
1. Tình hình kinh tế đất nước - những yêu cầu đổi mới công tác QTCL để
theo kịp sự đổi mới của nền kinh tế
1.1. Sự phát triển của sản xuất hàng hoá ở nước ta.
Từ những năm 1990 sự đòi hỏi của thị trường trong nước cũng như ngoài
nước buộc sản xuất muốn thích ứng và tồn tại phải có đổi mới về công nghệ và
trang thiết bị kỹ thuật. Là nước đi sau Việt Nam được thừa hưởng viện trợ và
chuyển giao công nghệ. Vì thế mà đội ngũ lao động được đào tạo và kiểm soát
trong hệ thống quản lý mới làm việc hiệu quả hơn tạo ra những sản phẩm chất
lượng cao hơn và tuân theo yêu cầu nhất định của nền kinh tế thị trường.
1.2. Những thay đổi nhận thức của người tiêu dùng
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá nhận thức của người tiêu
dùng về chất lượng cũng có nhiều thay đổi.
Bước vào thời mở cửa khi mà hàng hoá tràn ngập trên thị trường thì có thể
dùng thu nhập của mình đểu mua những thứ họ cần chứ không phải cái họ được
phân phối. Đồng thời việc mua hàng hoá có thể bất kỳ ở đâu trong thị trường cạnh
tranh, hàng hoá sản phẩm được hướng dẫn giới thiệu trên nhiều phương tiện thông
tin đại chúng thì tất cả sự mua hàng trở thành sự lựa chọn tuỳ ý. Vì thế chỉ tiêu chất
lượng lựa chọn sản phẩm được hình thành (Bền, Đẹp (hình dáng, mẫu mã, màu
sắc, thời trang) và dịch vụ mua phải thuận lợi (Bảo hành, vận chuyển, lắp đặt…)
Hàng hoá nhiều và phong phú và nhu cầu người tiêu dùng luôn luôn biến
động. Vì vậy muốn đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp vừa phải nâng cao
chất lượng sản phẩm để thoả mãn nhu cầu khách hàng vừa phải nghiên cứu kỹ thị
trường đối thủ cạnh tranh và cải tiến trang thiết bị máy móc để có thể tồn tại và
tổ chức việc quản lý chất lượng theo đúng hướng thông qua những việc cụ thể.
+ Tìm hiểu thị trường - tìm hiểu nhu cầu thay đổi nhận thức về khách hàng và
người cung ứng. Các kế hoạch và người cung ứng cũng là những bộ phận quan
trọng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Hoạt động quản trị chất lượng hiện nay đã có sự quan tâm thật sự của các
cấp lãnh đạo của doanh nghiệp vì thế hoạt động chất lượng được tiến hành ở nhiều
cấp bậc khác nhau trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở
việc tăng cường quản lý chất lượng thông qua áp dụng mô hình quản lý chất lượng
mà còn đi xa hơn là biến hoạt động chất lượng thành phương châm và triết lý kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam đa phần
được thông qua việc chú trọng đến đổi mới công nghệ.
+ Bên cạnh những doanh nghiệp lớn quan tâm nghiên cứu tìm hiểu mô hình
kỹ thuật và phương thức quản lý chất lượng hiện đại, các doanh nghiệp tư nhân với
quy mô sản lượng hiện đại, các doanh nghiệp tư nhân với quy mô sản xuất vừa và
nhỏ cũng thực hiện công tác liên quan đến chất lượng qua các khâu mua bán nguyên
vật liệu, kiểm soát các sản phẩm trong quá trình sản xuất.
+ Số lượng các DNVN tham gia các hội thảo, hội nghị tập huấn do nhà nước
hoặc các tổ chức nước ngoài thực hiện ngày càng tăng.
+ Hoạt động QLCL của Việt Nam đã hoà nhập bước đầu với thế giới thông
qua việc tiếp cận các hệ thống QLCL tiên tiến như quan niệm quản lý chất lượng
toàn diện, chất lượng và trình độ quản lý, xu hướng QLCL vì con người.
Những sự thay đổi tích cực đó đã đưa đến những thành công ban đầu cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng hệ thống
QLCL.
Sau đây là những ví dụ cụ thể:
BITIS: Hành trang vào thế kỷ 21
bằng chất lượng: ISO 9000
Ngay từ tháng 7 năm 1998, công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Bitis)
đã tiến hành các bước đầu tiên để thực hiện ISO 9000 đến nay công ty đã nhận
đồng bộ. Trong đó:
+ Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh trong sự
hiểu biết khá sâu sắc về hệ thống TQM, HACCP, ISO, GMP… và phần lớn các
doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO hiện nay đều thuộc loại này.
+ Các doanh nghiệp nhà nước có sự hiểu biết nhất định về các HTCL. Nhiều
doanh nghiệp đang phấn đấu đạt ISO 9000 hoặc triển khai TQM. Tuy nhiên còn
nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này do đang có lợi thế độc quyền về
sản xuất kinh doanh.
+ Các doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty TNHH với quy mô sản xuất vừa và
nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp ở địa phương xa còn rất hạn chế trong sự hiểu
biết và áp dụng các hệ thống chất lượng.
Một số doanh nghiệp chỉ coi trọng vấn đề được cấp chứng chỉ chất lượng mà
áp dụng như một phong trào mang tính đối phó không đi sâu vào bản chất của quản
trị chất lượng.
Do không đủ năng lực và trình độ một số doanh nghiệp đã thực hiện làm hàng
nhái bắt chước. Họ không tự tìm cho mình một đường đi thích hợp mà lợi dụng sự
uy tín của một người khác để đánh lừa người tiêu dùng còn chất lượng thực sự của
họ về sản phẩm họ không quan tâm.
3. Đánh giá chung về công tác QTCL trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Công tác QTCL trong các DNVN trong những năm gần đây đã đạt được
những thành tựu sau:
+ Góc độ thị trường:
Hàng hoá mẫu mã phong phú, chất lượng tốt hơn đa dạng hơn về chủng loại.
Bao bì đẹp hấp dẫn.
Khâu giới thiệu sản phẩm và dịch vụ sau bán tốt hơn.
Những mặt hàng công nghiệp phục vụ tiêu dùng đã đáp ứng được mong muốn
của khách hàng. Đặc biệt là một số mặt hàng như giầy dép, đồ may mặc chế biến
thuỷ sản đã được thị trường nước ngoài chấp nhận.
Đẩy lùi được một số mặt hàng trước đây vẫn chiếm lĩnh trên thị trường nước
ta: Bánh kẹo, hàng điện tử, may mặc, giày dép.
mà ta luôn phải trang bị những kiến thức mới hơn, cập nhật kiến thức có thể bằng
những cách sau.
Những kiến thức CL & QTCL phải được phổ cập đến các thành viên trong
doanh nghiệp bằng cách như mở lớp ngay trong công ty thuê chuyên gia giảng dạy
khuyến khích công nhân viên để họ tự trang bị kiến thức.