Quan điểm của Đảng và nhà nước về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Pdf 18

CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ SỞ
1. Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện
mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và
nghóa vụ dân sự, tự chòu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số
vốn doanh nghiệp quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên
lãnh thổ Việt Nam.
Doanh nghiệp nhà nước có các đặc điểm sau :
- DNNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ra quyết đònh thành lập,
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước quy đònh.
- Tài sản DNNN thuộc sở hữu nhà nước, nhà nước là chủ sở hữu tài sản của doanh
nghiệp và thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp. Sự tách biệt giữa chủ
sở hữu doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh là đặc điểm cơ bản của DNNN.
- DNNN do Nhà nước thành lập, tổ chức quản lý do đó DNNN là đối tượng chòu sự
quản lý trực tiếp của nhà nước. Nhà nước tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp, bổ
nhiệm cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, quy hoạch phát triển.
- DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghóa vụ quân sự, tự chòu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trên cơ sở vốn điều lệ của doanh nghiệp.

1
2. Thực trạng về tình hình hoạt động của DNNN ở Việt Nam và sự cần thiết phải tổ
chức sắp xếp lại các DNNN
* Thực trạng về tình hình hoạt động của DNNN ở Việt Nam :
Các DNNN ở nước ta được thành lập kể từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp. Trong 9 năm kháng chiến, thực hiện chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc,
nhiều DNNN đã được xây dựng ở các ngành như : cơ khí, hóa chất, dệt … sau 1954 hòa
bình lập lại, khu vực DNNN phát triển nhanh chóng trong tất cả các ngành công nghiệp,
nông nghiệp, dòch vụ. Giai đoạn 1961 - 1975 thực hiện đường lối công nghiệp hóa, khu
vực DNNN tiếp tục tăng cường và mở rộng.

5 năm 2002, hoạt động sản xuất kinh doanh tại 258 DNNN do Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp làm ăn có lãi thì tỷ
suất lợi nhuận trên vốn mới đạt 2%, số doanh nghiệp thua lỗ chiếm 34%, nhiều doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải thể.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là nhiều DNNN không gắn kế hoạch
sản xuất kinh doanh với đònh hướng của toàn ngành, việc lên kế hoạch không phù hợp
với mục tiêu, nhiệm vụ được giao và chưa xuất phát từ nhu cầu thò trường. Nhiều dự án
3
đầu tư không khả thi, hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí tiền vốn, phát sinh tiêu cực, tham
nhũng. Nguyên nhân thứ hai là số vốn hiện có bình quân mỗi DNNN còn quá nhỏ.
3. Khái niệm, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
3.1. Khái niệm về cổ phần hóa :
Cổ phần hóa là việc chuyển hình thức sở hữu của một doanh nghiệp thành một
hình thức sở hữu mới. Quyền sở hữu của doanh nghiệp không còn tập trung vào tay một
người mà được chia ra cho nhiều người gọi là cổ đông. Các cổ đông chòu trách nhiệm với
doanh nghiệp về phần vốn góp của mình. Một doanh nghiệp có quá trình biến đổi như
vậy gọi là cổ phần hóa.
3.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :
Cổ phần hóa DNNN là một trong các nội dung cơ bản của quá trình đổi mới và
sắp xếp DNNN. Quá trình này là đòi hỏi khách quan để thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, trong đó có phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước, theo đònh hướng XHCN do Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra năm 1986. Chủ trương của Đại hội đối với kinh
tế quốc doanh là “phải đổi mới cơ chế quản lý, đảm bảo cho các đơn vò kinh tế quốc
doanh có quyền tự chủ, thật sự chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN, lập lại trật tự,
kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Sắp xếp lại sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ
thuật và đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả. Trên cơ sở đó, ổn đònh và từng bước nâng cao tiền lương thực tế của công nhân
viên chức, tăng tích lũy cho xí nghiệp và cho nhà nước.
Quá trình đổi mới và sắp xếp DNNN bắt đầu thực hiện từ năm 1990, đã trải qua

hội thông qua ngày 20/4/1995. Đây là những cơ sở để tiến đến xây dựng các quy đònh về
cổ phần hóa DNNN một cách chi tiết và đẩy mạnh tiến trình này.
Ngày 7/5/1996, Chính phủ đã ra nghò đònh số 28/NĐ-CP về chuyển một số DNNN
thành công ty cổ phần. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy đònh tương đối đồng bộ và
chi tiết về vấn đề cổ phần hóa DNNN.
Trong quá trình thực hiện một số điểm của nghò đònh này đã được sửa đổi theo
nghò đònh số 25/NĐ-CP ngày 26/3/1997.
Để tiếp tục tiến hành việc cổ phần hóa DNNN, ngày 29/6/1998, Chính phủ đã ra
nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP về chuyển DNNN thành công ty cổ phần. Nghò đònh này ra
đời thay thế nghò đònh số 28/CP ngày 07/05/1996 và Nghò đònh số 25/CP ngày 26/3/1997
của Chính phủ. Đây là văn bản quy đònh cụ thể hơn về vấn đề cổ phần hóa trong tình
hình mới. Theo Nghò đònh này, mục tiêu cổ phần hóa được xác đònh rõ hơn. Tiếp đó,
Chính phủ ban hành nghò đònh số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển DNNN
thành công ty cổ phần. Nghò đònh này ra đời thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ trong
việc thúc đẩy cải cách DNNN nói chung và cổ phần hóa DNNN nói riêng. Ngoài ra còn
có một loạt các nghò đònh quyết đònh, thông tư của Nhà nước và các bộ, ngành được ban
6
hành nhằm quy đònh, hướng dẫn những vấn đề có liên quan đến việc tiến hành cổ phần
hóa DNNN.
4. Mục tiêu của cổ phần hóa và quy trình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần
4.1. Mục tiêu của cổ phần hóa DNNN
Mục tiêu thứ nhất là phải chuyển một phần quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước
thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Như đã phân tích ở trên, hiện nay DNNN làm ăn rất kém hiệu quả. Đó vừa là
gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa là nguy cơ đối với nền tài chính quốc gia. Trong
nền kinh tế thò trường làm ăn kém hiệu quả dẫn đến nguy cơ phá sản, vì vậy mục tiêu
cao nhất cuối cùng của cổ phần hóa là phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, muốn vậy phải giải quyết vấn đề quyền sở hữu, tức là phải đa dạng hóa
quyền sở hữu, bán một bộ phận tài sản nhà nước cho các cổ đông.
Mục tiêu thứ hai là phải huy động được một khối lượng vốn nhất đònh ở trong và

8
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức và kiểm kê tài sản, vật tư, tiền vốn,
công nợ của doanh nghiệp và dự kiến giá trò thực tế của doanh nghiệp, làm văn bản thỏa
thuận với Bộ tài chính. Bộ tài chính quyết đònh giá trò doanh nghiệp có mức vốn nhà
nước ghi trên sổ sách, kế toán đến thời điểm cổ phần hóa trên 10 tỷ đồng, nếu từ 10 tỷ
đồng trở xuống thì sẽ do Bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, Tổng Công ty 91 quyết đònh.
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp lập phương án dự kiến cổ phần hóa doanh nghiệp
và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần.
Bước 3 : Phê duyệt và triển khai phương án cổ phần hóa
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án quyết đònh chuyển DNNN thành Công
ty cổ phần đối với DNNN có giá trò thuộc vốn nhà nước do cơ quan có thẩm quyền đã
quyết đònh là trên 10 tỷ đồng. Các Bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết đònh chuyển
DNNN thành Công ty cổ phần đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước đã được quyết đònh
từ 10 tỷ đồng trở xuống. Tổng Công ty 91 báo cáo Bộ quản lý chuyên ngành kinh tế kỹ
thuật phê duyệt phương án cổ phần hóa và quyết đònh chuyển DNNN thành Công ty cổ
phần đối với các doanh nghiệp thành viên của Tổng Công ty 91 có vốn nhà nước đã được
quyết đònh từ 10 tỷ đồng trở xuống.
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp có trách nhiệm bán cổ phần của doanh
nghiệp cho các cổ đông, triệu tập đại hội cổ đông để thông qua điều lệ tổ chức và hoạt
động của công ty cổ phần.
Bước 4 : Ra mắt công ty cổ phần và đăng ký kinh doanh
Giám đốc, Kế toán trưởng DNNN bàn giao cho Hội đồng quản trò công ty cổ
phần : lao động, tiền vốn, tài sản, danh sách hồ sơ cổ đông và toàn bộ các hồ sơ tài liệu,
sổ sách của doanh nghiệp (trước sự chứng kiến của Ban đổi mới quản lý tại doanh
9
nghiệp và đại diện cơ quan quản lý vốn, tài sản nhà nước). Hội đồng quản trò công ty cổ
phần hoàn tất các công việc còn lại, đăng ký kinh doanh theo quy đònh hiện hành.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NỀN TẢNG PHÁP LÝ CHO CỔ PHẦN HÓA

phố Hồ Chí Minh, các tỉnh: Nam Đònh, Thanh Hóa, Bình Đònh, Lâm Đồng, Phú Thọ,
Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, các Bộ xây dựng, Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn, các tổng công ty hàng hải …
11
Một số bộ, đòa phương và Tổng công ty 91 đã có những chỉ đạo nhưng kết quả đạt
được trong công tác cổ phần hóa còn rất hạn chế. Bộ công nghiệp, Bộ thủy sản, các tỉnh
Cần Thơ, Khánh Hòa, Quảng Bình, Vónh Phúc, Tổng công ty hóa chất, Tổng công ty thép
là những ngành, đòa phương có tốc độ cổ phần hóa chậm.
Đến hết năm 1999 vẫn còn 6/13 bộ, 7/17 Tổng công ty 91 và 21/61 tỉnh chưa có
DNNN nào được chuyển đổi sang công ty cổ phần. Đó là các bộ : y tế, giáo dục và đào
tạo, khoa học, công nghệ và môi trường, văn hóa - thông tin, ngân hàng nhà nước Việt
Nam, trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, các tỉnh Lạng Sơn, Lai Châu,
Sơn La, Yên Bái, Bắc Cạn, Hưng Yên, Thái Bình …
Nhìn chung, sau khi có nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ, cổ phần hóa
DNNN đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Nhận thức và hành động của các Bộ, ngành,
đòa phương có chuyển biến hơn. Nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP đã quy đònh các chính sách
khuyến khích đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa
một cách rõ ràng, cụ thể hơn, có sự quan tâm hơn đến quyền lợi của người lao động, đặc
biệt chú ý tới người lao động nghèo theo tinh thần thông báo số 63/TB-TW ngày
4/9/1999 của Bộ chính trò. Điều đó khiến chủ trương cổ phần hóa trở nên hấp dẫn hơn đối
với doanh nghiệp cũng như đối với người lao động trong doanh nghiệp và các đối tượng
trong xã hội.
 Giai đoạn từ tháng 01/2000 đến cuối tháng 11/2002.
Trong hai năm 2000 – 2002, cả nước đã cổ phần hóa được 523 doanh nghiệp, đưa
tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa lên 907 đơn vò, chỉ riêng năm 2002 có 427
DNNN được sắp xếp lại, trong đó có 164 DNNN được cổ phần hóa, giao 34 doanh
nghiệp, bán 17 doanh nghiệp, khoán kinh doanh và cho thuê 8 doanh nghiệp, sát nhập 83
12
doanh nghiệp, hợp nhất 44 doanh nghiệp, giải thể 27 và phá sản 2 doanh nghiệp. Có 48
DNNN được sắp xếp theo các hình thức khác.

quân đạt từ 1 - 2%/ tháng. Vốn của các doanh nghiệp tăng gần 2,5 lần so với trước khi cổ
phần hóa (bao gồm cả tích lũy từ lợi nhuận và thu hút thêm vốn đầu tư từ bên ngoài).
Nổi bật nhất là Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Long An có số vốn tăng 5 lần,
Công ty Cổ phần Việt Phong (VIFOCO) có số vốn tăng 2,4 lần. Các doanh nghiệp nộp
ngân sách bình quân, tăng 2 lần so với trước khi cổ phần hóa, điển hình là Công ty Cổ
phần cơ điện lạnh Thành phố Hồ Chí Minh tăng gần 3 lần, Công ty Cổ phần bông Bạch
Tuyết Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,7 lần. Nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu
quả, các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa là những Công ty cổ phần đầu tiên được
niêm yết trên thò trường chứng khoán ở Việt Nam. Điều này không ngừng nâng cao uy
tín và vò thế của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa trên thương trường, mà
còn chứng minh tính đúng đắn của chủ trương cổ phần hóa DNNN như một biện pháp
quan trọng để thực hiện sắp xếp lại các DNNN ở nước ta.
- Việc làm và thu nhập cho người lao động :
Hầu hết trong các DNNN được cổ phần hóa, việc làm và thu nhập của người lao
động đều được đảm bảo ổn đònh và có chiều hướng tăng lên. Số lao động của doanh
14
nghiệp trở thành cổ đông khá đông. Trong đó DNNN cổ phần hóa trong năm 2003, 58%
cổ phần do những người lao động trong DNNN trước cổ phần hóa nắm giữ. Chế độ của
người lao động được quan tâm giải quyết thỏa đáng. Tính đến 30/10/2003 quỹ hỗ trợ lao
động dôi dư đã cấp 409,63 tỷ đồng, hỗ trợ cho 387 doanh nghiệp, giải quyết 14.597 lao
động dôi dư.
Do mở rộng sản xuất, số lao động ở các doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hóa
tăng bình quân 12%. Riêng công ty cổ phần cơ điện lạnh Thành phố Hồ Chí Minh tăng từ
334 người lên 731 người, Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An tăng từ 900
người lên 1.280 người.
Thu nhập bình quân của người lao động làm việc trong các công ty cổ phần bình
quân hàng năm gần 20% (chưa kể thu nhập có được từ cổ tức), điển hình là công ty cổ
phần đại lý liên hiệp vận chuyển. Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp này
đã đạt 4 triệu đồng/người/tháng trong năm 1999, bằng gần 3 lần so với 1,4 triệu đồng
trước khi cổ phần hóa.

Công ty Sacom trong năm 2003 bất chấp khó khăn do thuế nhập khẩu giảm và
doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt nhưng doanh thu vẫn đạt 325 tỷ đồng, lợi nhuận
sau thuế là 60 tỷ vượt 14% so với kế hoạch.
16
Tóm lại, cổ phần hóa đã đem lại lợi ích cho nhà nước, cho doanh nghiệp, người
lao động trong doanh nghiệp và cả trong các cổ đông khác của doanh nghiệp. Thực tế đó
đã chứng minh rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cổ phần hóa DNNN hoàn
toàn đúng đắn.
Tiến trình cổ phần hóa đã tạo ra một số lượng khá lớn công ty cổ phần. Đến thời
điểm hiện nay đã có gần 1000 công ty cổ phần được hình thành trên nền của các DNNN
cổ phần hóa. Những công ty cổ phần này có tiềm lực lớn hơn các công ty cổ phần được
các thành phần kinh tế lập ra. Phần lớn các công ty cổ phần này là doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Sự xuất hiện của các công ty cổ phần có tiềm lực kinh tế lớn sẽ làm thay đổi ảnh
hưởng của thò trường chứng khoán đối với sự phát triển của nền kinh tế. Sự tăng trưởng
nhanh của các chứng khoán niêm yết tại trung tâm giao dòch chứng khoán TP.HCM trong
gần hai năm qua cho thấy tác động của cổ phần hóa DNNN đối với sự phát triển của thò
trường chứng khoán.
Việc cổ phần hóa có hiệu ứng khá rõ nét đối với việc thành lập mới DNNN, tình
trạng thành lập DNNN tràn lan đã được chấm dứt. Trong ba năm từ 2001 - 2003, cả nước
chỉ thành lập mới 59 DNNN, hầu hết tập trung vào lónh vực dầu khí, năng lượng nguyên
tử, sản xuất cơ khí hoặc hoạt động công ích.
Trong số DNNN đã cổ phần hóa trong giai đoạn này thì bình quân nhà nước sở
hữu 38% vốn điều lệ, cán bộ công nhân viên chức của các doanh nghiệp này mua 51%,
còn 8% là cổ đông bên ngoài. Số DNNN có cổ phần chi phối của nhà nước chỉ chiếm
26% tổng số DNNN đã cổ phần hóa. Nhiều DNNN cổ phần hóa đã đổi mới được công
nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tính cạnh tranh.
II. Những hạn chế của cổ phần hóa DNNN và nguyên nhân
17
Bên cạnh những thành công như đã nêu trên, việc thực hiện chủ trương cổ phần
hóa DNNN ở nước ta cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế.

Quy mô dưới 10 tỷ 327 224 244 181 172
89% 90% 86% 78% 81%
Quy mô trên 10 tỷ 43 26 44 55 41
11% 10% 14% 22% 19%
Các phương án cải cách chỉ mới tập trung vào việc thu gọn đầu mối, khi cổ phần
hóa những DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, nhiều doanh nghiệp 100% vốn
của Nhà nước vẫn hoạt động trong những đòa bàn không thật sự cần thiết, trong lúc đó,
nhiều Tổng công ty quy mô còn nhỏ, mức nộp ngân sách thấp, vai trò mờ nhạt.
Một số doanh nghiệp cổ phần hóa mới chỉ tập trung vào tiết kiệm chi phí, giảm
giá thành để tăng lợi nhuận, chia cổ tức trong khi chưa chú trọng đến những vấn đề có
ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài của doanh nghiệp là thực hiện đổi mới công nghệ đầu
tư vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh.
Việc thực hiện chính sách đối với người lao động có những bất cập thực tế là
nhiều doanh nghiệp không đủ kinh phí để giải quyết chính sách cho người lao động,
không lo việc làm cho họ. Ngược lại, ở một số đơn vò làm ăn có hiệu quả, có phúc lợi để
giải quyết chính sách trợ cấp mất việc do sắp xếp lại thì người lao động không muốn
nghỉ theo chế độ. Chính vì vậy, tỷ lệ người lao động được giải quyết nghỉ theo chế độ sau
khi DNNN chuyển sang Công ty cổ phần vẫn còn rất thấp so với số lượng cần phải giải
quyết. Trong số doanh nghiệp đã cổ phần hóa, đặc biệt là những doanh nghiệp có những
19
lợi thế về vò trí đòa lý đã xuất hiện hiện tượng một số kẻ đầu cơ đã tìm cách mua lại
những cổ phần mà những người lao động trong các doanh nghiệp đã được mua với giá ưu
đãi. Người lao động do chưa có ý thức được ý nghóa của việc sở hữu cổ phần trong doanh
nghiệp, đồng thời cũng không nắm được giá trò thực của cổ phần mà mình sở hữu, nên đã
bán cổ phần lại cho những người đầu cơ để hưởng chênh lệch. Điều này không những
gây thiệt hại cho Nhà nước, cho bản thân những người lao động, mà còn ảnh hưởng đến
một trong những mục đích quan trọng của cổ phần hóa là tạo động lực quản lý cho doanh
nghiệp khi người lao động trong doanh nghiệp thực sự là người chủ.
Công tác tuyên truyền, vận động vẫn còn bò xem nhẹ nên chưa tạo ra được sự
quan tâm, hưởng ứng tích cực của xã hội đối với chủ trương cổ phần hóa. Tỷ lệ bán cổ

2. Đảm bảo không làm thất thoát tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh
doanh và làm giảm thu nhập của người lao động
Đònh hướng này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với DNNN khi tiến hành cổ
phần hóa, bởi trong DNNN mọi tài sản đều thuộc sở hữu toàn dân, trừ quỹ phúc lợi là
khoản thu nhập không chia mà được để lại dành cho người lao động trong doanh nghiệp.
Trong thực tế, vốn tự có của DNNN tạo ra từ 2 nguồn: một phần từ lợi nhuận thu được
của doanh nghiệp và một phần đã trích khấu hao cơ bản tài sản cố đònh của doanh
21
nghiệp được Nhà nước cho phép giữ lại để thực hiện tái sản xuất mở rộng. Do đó, số vốn
này thuộc về Nhà nước và nó trở thành vốn cổ phần khi DNNN chuyển sang hình thái
Công ty cổ phần.
3. Xác lập cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động
Thực tế cho thấy, người lao động là một trong những nhân tố quyết đònh sự thành
công của quá trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta. Do đó, cần có một cơ chế đủ sức hấp
dẫn đối với người lao động để họ không có sự lo ngại về việc làm, thu nhập, quyền lợi
của họ. Theo Nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ, tại
các điều 13, 14 quy đònh rõ quyền lợi của người lao động như: cứ mỗi năm làm việc,
người lao động được quyền mua 10 cổ phần thấp hơn 30% mệnh giá, ngoài ra còn được
chia quỹ phúc lợi để mua cổ phần. Người lao động không có sẵn tiền thì được mua khống
(được tài trợ với ân hạn 3 năm) số cổ phần giá thấp theo tiêu chuẩn, được hưởng cổ tức,
và trả nợ trong vòng 10 năm kể từ năm thứ 4 trở đi với lãi suất = 0
4. Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện cổ phần hóa
Quá trình cổ phần hóa phải được thực hiện theo sự chỉ đạo chung, thống nhất,
tránh tình trạng không công bằng giữa các DNNN cũng như gây ra các tổn thất lãng phí
cho Nhà nước và doanh nghiệp. Quá trình cổ phần hóa trong thời gian qua cho thấy, bộ
máy chỉ đạo công tác cổ phần hóa hiện nay chưa đủ mạnh, nhiều cán bộ còn thiếu hiểu
biết về nền kinh tế thò trường nói chung và cổ phần hóa nói riêng. Trong quá trình thực
hiện, các bộ, ngành và đòa phương cũng chưa quan tâm đúng mức đến công tác cổ phần
hóa, chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện nên gây ảnh hưởng
không nhỏ đến tiến trình cổ phần hóa.

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Hoàn thiện bộ máy và tổ chức chỉ đạo
Hoàn thiện bộ máy và tổ chức chỉ đạo, đồng thời tăng cường công tác tuyên
truyền giáo dục cho mọi người dân, nhất là người lao động trong các DNNN thuộc diện
chuyển đổi sở hữu về ý nghóa, mục đích, sự cần thiết của cổ phần hóa để họ quán triệt
sâu sắc chủ trương, chính sách và giải pháp đổi mới DNNN.
Trong thời gian tới không ngừng chấn chỉnh và hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban đổi
mới quản lý doanh nghiệp từ trung ương đến các bộ, ngành tỉnh, thành phố. Nâng cao
trách nhiệm của bộ, ngành và đòa phương trong công tác sắp xếp và tiến hành cổ phần
24
hóa DNNN trong thời gian tới, có chương trình kế hoạch cụ thể và phải tập trung chỉ đạo
quyết liệt nhằm đảm bảo thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra.
Song song với việc kiện toàn và tổ chức chỉ đạo, cần tăng cường, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến đến từng người dân và cán bộ, công nhân viên ở các
DNNN nhằm cho mọi người hiểu rõ mục tiêu, ý nghóa, yêu cầu của việc sắp xếp lại
DNNN nói chung và cổ phần hóa nói riêng.
Có nhiều biện pháp tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến như :
- Trước hết cần phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng như: đài
phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí
- Bên cạnh đó mở rộng các hình thức tuyên truyền khác như: tổ chức hội thảo
khoa học giữa các nhà kinh tế với các nhà quản lý phát huy vai trò của các tổ chức
quần chúng.
Khi thực hiện công tác phổ biến tuyên truyền chủ trương cổ phần hóa cần chú ý tới
một số vấn đề cơ bản sau :
- Xác đònh những nội dung thiết thực của công tác cổ phần hóa DNNN.
- Thực hiện đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, xã hội hóa công tác tuyên
truyền.
- Công tác phổ biến, tuyên truyền về chủ trương cổ phần hóa cần được thực hiện
một cách thường xuyên trong suốt quá trình cổ phần hóa.
2. Áp dụng đồng bộ các giải pháp về tài chính, tín dụng, tích cực giải quyết các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status