SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2011 - 2012
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI
Người thực hiện: Phạm Thị Thu Khuê
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên tỉnh Lào Cai
Lào Cai, tháng 4 năm 2012
PHẦN I : MỞ ĐẦU
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, sáng kiến kinh
nghiệm gồm 3 nội dung chính:
Nội dung 1: Cơ sở lý luận công tác đổi mới kiểm tra nội bộ trường THPT
Nội dung 2: Phân tích thực trạng công tác đổi mới kiểm tra nội bộ trường
THPT chuyên tỉnh Lào Cai
Nội dung 3: Áp dụng những biện pháp đổi mới công tác kiểm tra nội bộ trường
THPT chuyên tỉnh Lào cai
Cách thức nghiên cứu đề tài theo: Thiết kế - quy trình - đo lường; phân tích dữ liệu
và kết quả; đánh giá, bàn luận, kết luận.
2. MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI:
Thanh tra, kiểm tra trường học nói chung và kiểm tra nội bộ trường Trung
học phổ thông (THPT) nói riêng đã được quy định trong Luật Giáo dục, Luật
Thanh tra và các văn bản hiện hành.
Trong công tác thanh tra kiểm tra, công tác kiểm tra nội bộ trường học là vô
cùng quan trọng. Việc kiểm tra nội bộ sẽ giúp các nhà quản lý nắm bắt kịp thời các
thông tin từ chính đơn vị mình, từ chính những gì mình đang có, những ưu điểm,
những tồn tại để từ đó có những giải pháp phát triển nhà trường phù hợp.
Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra của các trường THPT tỉnh
Lào Cai đã được tiến hành thường xuyên góp phần vào việc duy trì kỷ cương nền
* Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra nội
bộ trường THPT.
* Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ
trường THPT chuyên tỉnh Lào Cai.
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐỔI MỚI
KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG THPT
1.1. Thanh tra
Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền)
kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”
Trong cuốn “Nghiệp vụ công tác thanh tra” của trường Cán bộ Thanh tra
Chính phủ khái quát khái niệm thanh tra như sau: “Thanh tra là một chức năng
thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra của quản lý nhà nước, là hoạt
động kiểm tra xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường
được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố
tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”
4
1.2. Kiểm tra
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích
cái tốt, phát hiện những lệch lạc và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt
ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý tới một trình độ cao hơn.
1.3. So sánh giữa kiểm tra và thanh tra
* Sự giống nhau của kiểm tra và thanh tra
Kiểm tra, thanh tra giống nhau ở tính mục đích. Thông qua kiểm tra,
thanh tra để nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa
vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý
nhà nước. Từ đó tạo điều kiện để từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng
nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra. Sự phân biệt
trình độ kiểm tra, thanh tra chỉ là tương đối; vì thực tế cho thấy, nếu có nghiệp vụ
thanh tra mà tiến hành kiểm tra thì càng bảo đảm chính xác và hiệu quả cao hơn.
- Khác nhau về phạm vi hoạt động
Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ở khắp
nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng. Phạm vi HĐTT
6
thường hạn hẹp hơn. HĐTT thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua hoạt động
kiểm tra có thể thấy những hấu hiệu phức tạp mà nếu cứ tiến hành kiểm tra thì
không làm rõ được, bởi vậy cần chọn ra những vấn đế để thanh tra. Nhìn chung
ở từng cấp, số lượng đề tài thanh tra và địa điểm thanh tra ít hơn số lượng đề tài
kiểm tra và địa điểm kiểm tra.
- Khác nhau về thời gian tiến hành
Trong HĐTT, thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công
phu, nhiều mối quan hệ đều được làm rõ cho nên phải sử dụng thời gian dài hơn so
với kiểm tra. Tuy nhiên, nếu so sánh từng cuộc kiểm tra đơn lẻ, đôi khi có cuộc
kiểm tra kéo dài hơn thanh tra, song nhìn tổng quát thì thời gian thanh tra dài hơn
thời gian kiểm tra.
* Mối quan hệ giữa kiểm tra và thanh tra
Thanh tra và kiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối. Khi tiến
hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ, thao tác
nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra. Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra là để làm
rõ vụ, việc và từ đó lựa chọn nội dung thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái
niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó. Do vậy, khi nói đến một khái
niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi: Kiểm tra, thanh tra hay Thanh
tra, kiểm tra.
1.4. Kiểm tra nội bộ trường học.
Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động nghiệp vụ quản lý của Hiệu trưởng
nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến
và kết quả các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường. Đánh giá kết
Các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra trường học của
Thanh tra Sở Giáo dục & Đào tạo hàng năm.
PHẦN II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI
2.1. Khái quát chung về trường THPT chuyên tỉnh Lào Cai
Trường THPT chuyên tỉnh Lào Cai được thành lập từ tháng 8 năm 2003,
trường trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo. Nhiệm vụ của nhà trường là phát hiện,
bồi dưỡng học sinh năng khiếu cấp trung học phổ thông, tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao cho tỉnh Lào Cai và cả nước.
* Quy mô học sinh
Năm học 2011 - 2012, trường THPT chuyên tỉnh Lào Cai có 23 lớp với 742
học sinh của 3 khối lớp 10, 11 và 12. Nhà trường đào tạo, bồi dưỡng học sinh ở 07
môn chuyên, bao gồm: Toán học, Vật lý, Hóa học, Văn học, Sinh học, Tiếng Anh
và Tiếng Trung Quốc. Số học sinh trường chuyên chiếm khoảng 3,5% tổng số học
sinh trung học phổ thông trên địa bàn toàn tỉnh.
9
* Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
Năm học 2011-2012, toàn trường có 84 cán bộ, giáo viên và nhân viên.
Trong đó: 70 giáo viên, 04 cán bộ quản lý và 10 nhân viên. 100% cán bộ quản lý
có trình độ đào tạo đại học, trong đó 03 cán bộ quản lý có trình độ đào tạo thạc sỹ.
100% giáo viên có trình độ đào tạo đại học, trong đó 12 giáo viên có trình độ đào
tạo thạc sỹ, chiếm 17,6%.
* Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Tương đối đầy đủ, đáp ứng được
yêu cầu tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
* Chất lượng giáo dục
Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục của học sinh trong nhà trường luôn ở mức
cao. Bình quân các năm vừa qua:
Có trên 99% HS xếp loại hạnh kiểm khá, tốt.
báo cáo của các bộ phận, nội dung báo cáo theo yêu cầu của thanh tra, kiểm tra.
Thường thì những báo cáo này còn thiếu những thông tin cần thiết, số liệu chưa sát
thực và đôi khi còn chưa chính xác. Những thông tin khác về nhà trường thu thập
qua các kênh thông tin từ bộ phận thống kê, quản lý rất hạn chế, thậm chí không
có, do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động nói chung và hoạt động kiểm
tra nói riêng của nhà trường.
11
Riêng về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, hằng năm, nhà trường chỉ đạo
theo các nội dung cụ thể sau:
(1) Thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục.
Thực hiện về chỉ tiêu, kế hoạch về số lượng và chất lượng giáo dục ở từng
khối lớp và toàn trường: Duy trì sĩ số, tỉ lệ học sinh lên lớp, tốt nghiệp, đỗ Đại học,
thi học sinh giỏi các cấp
(2) Thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch đào tạo
- Thực hiện nội dung chương trình dạy học và giáo dục.
- Chất lượng dạy học và giáo dục, bao gồm: Chất lượng giáo dục đạo đức,
lối sống; chất lượng giáo dục văn hoá, khoa học, kĩ thuật; chất lượng giáo dục lao
động kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp; chất lượng giáo dục sức khoẻ, thể dục, vệ
sinh và quốc phòng; chất lượng giáo dục thẩm mĩ.
(3) Xây dựng đội ngũ
- Hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn: sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn:
Dự giờ thăm lớp; hội giảng; sử dụng và phân công nhà giáo; nhân viên. Công tác
bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và tự bồi dưỡng của các thành viên trong tổ,
nhóm chuyên môn; vấn đề thực hiện chế độ chính sách, quy chế chuyên môn, cải
thiện đời sống nhà giáo
- Nhà giáo: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, ý thức trách
nhiệm, thực hiện quy chế chuyên môn; đảm bảo kết quả giảng dạy và giáo dục;
tham gia đầy đủ các mặt công tác khác.
Kết quả kiểm tra toàn diện một nhà giáo năm học 2010-2011của nhà trường
cụ thể như sau:
chính mình, tự đánh giá khách quan phẩm chất, năng lực uy tín của mình để tự
điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của người quản lí trường học.
PHẦN III
NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM
TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI
13
3.1. THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP
3.1.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức trong CB, GV, NV, HS toàn trường về
hoạt động thanh tra giáo dục nói chung và kiểm tra nội bộ trường học nói riêng.
Mục tiêu của biện pháp
Hình thành ở cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường nhận thức đúng đắn,
tích cực về hoạt động thanh tra giáo dục nói chung và kiểm tra nội bộ trường học
nói riêng. Từ đó, cán bộ giáo viên sẽ coi trọng đúng mức hoạt động thanh tra, kiểm
tra, có ý thức và hành động hợp tác để hoạt động kiểm tra nội bộ trường học đạt
hiệu quả nhất, góp phần xây dựng hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng vững
mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Nội dung, cách thức thực hiện
- Lãnh đạo nhà trường cần nắm vững được các vấn đề: Vị trí, chức năng,
nguyên tắc, đối tượng KTNB trường học; các nội dung và phương pháp KTNB
trường học.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ quản lý, GV, CTVTT nhà
trường về HĐTT giáo dục nói chung và hoạt động kiểm tra nội bộ nhà trường nói
riêng.
- Đánh giá nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý, GV, CTVTT để có kế
hoạch tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức.
- Thay đổi nhận thức thụ động trong thanh tra kiểm tra, biết cách làm cho
việc kiểm tra đánh giá trở thành quá trình tự kiểm tra đánh giá của mỗi giáo viên
trong tổ chuyên môn. Công tác kiểm tra nội bộ muốn thực sự có hiệu quả, giúp cho
14
đối tượng ngăn ngừa và sửa chữa được sai sót, giữ nghiêm kỷ luật, đảm bảo cho
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực cho đội ngũ làm công tác
thanh tra, kiểm tra trong nhà trường.
Mục tiêu của biện pháp
Đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác KTNB trường học chủ yếu là lực
lượng quản lý, tổ trưởng các bộ môn, giáo viên giỏi, hầu hết chưa được đào tạo
chuyên sâu về công tác KTNB trường học. Vì vậy để đảm bảo công việc được
phân công họ phải dựa vào kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước, của bản thân,
đồng thời trước yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Để đảm nhiệm được công việc
KTNB trường học nhằm xiết chặt kỷ cương, giữ vững nề nếp "học ra học, dạy ra
dạy", không thể thực hiện công tác KTNB trường học một cách bị động, không có
kế hoạch, thiếu những giải pháp. Một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là
phải nhanh chóng bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn về kỹ năng tổ
chức, về quản lý hoạt động cho đội ngũ giáo viên tham gia công tác KTNB trường
học.
Nội dung, cách thức thực hiện biện pháp
16
- Trước hết, phải tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ thanh
tra kiểm tra để họ hiểu và làm theo. Điều quan trọng là, trên cơ sở luật pháp quy
định (văn bản, hướng dẫn, chỉ thị, các quy định ) họ phải đánh giá chính xác,
khách quan, khoa học làm cho những tổ chuyên môn được kiểm tra, cán bộ, GV
được thanh tra kiểm tra tin tưởng vững chắc vào sự đo lường, đánh giá, kết luận,
điều chỉnh (kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy) của người đi kiểm tra.
Muốn vậy, Hiệu trưởng cần hướng dẫn cho các cán bộ, giáo viên làm công
tác kiểm tra hiểu được kiểm tra là một quy trình. Quy trình đó dù diễn ra ở đâu, dù
là dạng kiểm tra nào cũng bao gồm ba bước cơ bản:
(1) Xây dựng các tiêu chuẩn;
(2) Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ theo các tiêu chuẩn;
(3) Điều chỉnh sự khác biệt;
Đặc biệt cần chú trọng khâu cuối của quy trình kiểm tra, đó là việc điều
chỉnh sự khác biệt. Sự khác biệt có 2 loại, khác biệt theo chiều hướng xấu và khác
thống kê số liệu, dữ liệu; hệ thống phát thanh; tập san; bài báo…
- Tăng cường sự phối hợp, trao đổi thông tin thường xuyên giữa cơ quan
Thanh tra Sở với nhà trường.
18
- Nhà trường tăng cường chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ trường học và
hoạt động của Ban thanh tra nhân dân để tạo lập nguồn thông tin tin cậy phục vụ
cho công tác quản lý chỉ đạo của nhà trường nói chung và hoạt động kiểm tra nội
bộ nhà trường nói riêng.
Thông tin giáo dục có vai trò trọng yếu trong công tác QLGD nói chung và
TTGD nói riêng, vì vậy cần phải tạo lập một hệ thống thông tin QLGD đa chiều,
có chất lượng cao, bảo đảm là một công cụ quan trọng trong quá trình tổ chức các
mạch, luồng, kênh thông tin từ cơ quan Sở GD&ĐT đến nhà trường, các tổ chức
đoàn thể và từng cá nhân trong nhà trường.
3.1.5. Biện pháp 5: Tăng cường kinh phí, thiết bị cho hoạt động kiểm tra
nội bộ. Tạo điều kiện về vật chất, tinh thần cho đội ngũ TTV, CTVTT và đội ngũ
cán bộ, giáo viên làm công tác kiểm tra nội bộ trường học
Mục tiêu của biện pháp
Kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý hoạt động KTNB nhà
trường được đáp ứng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KTNB của nhà
trường và quản lí hoạt động KTNB trường học đạt hiệu quả cao. Đội ngũ TTV,
CTVTT và đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác kiểm tra nội bộ trường học được
tạo điều kiện về vật chất, tinh thần sẽ phấn khởi, tin tưởng làm việc, có tác động
tích cực đến việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Nội dung, cách thức thực hiện biện pháp
- Mua sắm các tài liệu liên quan đến hoạt động KTNB trường học và quản lý
hoạt động KTNB trường học như: các văn bản chỉ đạo, hồ sơ, sổ sách, tài liệu
hướng dẫn.
19
- Mua sắm các thiết bị như: máy vi tính, máy phôtôcopy, máy ghi âm…
- Kinh phí tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác KTNB;
(1) Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường hiểu và nắm rõ hơn
về công tác thanh tra kiểm tra giáo dục, đặc biệt là công tác KTNB nhà trường. Từ
đó có ý thức và sự hợp tác làm việc trong thanh tra và tự kiểm tra.
(2) Nội dung công tác KTNB trường học được chú ý toàn diện hơn, bao quát
các nội dung: Thực hiện kế hoạch phát triển giáo dụ; thực hiện các nhiệm vụ của
kế hoạch đào tạo, xây dựng đội ngũ; xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học; công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng.
(3) Ban thanh tra nhân dân được củng cố kiện toàn mang tính chuyên nghiệp
và tính độc lập hơn. Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân đúng theo chức năng
nhiệm vụ quy định (trước đây, ban thanh tra nhân dân nhà trường chủ yếu chỉ kiểm
tra công tác chi tiêu nội bộ sau mỗi học kỳ và năm học)
(4) Đội ngũ công tác viên thanh tra, cán bộ giáo viên làm công tác KTNB
trường học cơ bản đã được lựa chọn phân công đúng người đúng việc, góp phần
nâng cao hiệu quả của công tác này.
21
3.2.1. Những tồn tại, khó khăn:
(1) Việc tuyên truyền pháp luật, trong đó có Luật thanh tra và các văn bản
hướng dẫn nhiệm vụ thanh tra kiểm tra của nhà trường có khi chưa linh hoạt. Việc
đánh giá nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý, GV, CTVTT để có kế hoạch tổ
chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức còn chưa được thường xuyên.
(2) Kế hoạch hoạt động của Ban thanh tra nhân dân nhà trường có điểm
chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới mà nhà trường đề ra dẫn đến hiệu quả công việc
có lúc chưa cao, chưa như mong muốn.
(3) Kinh phí, chế độ cho hoạt động thanh tra kiểm tra còn hạn hẹp.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ
1. Bài học kinh nghiệm rút ra:
1.1. Cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức để cán bộ,
giáo viên, nhân viên và học sinh hiểu rõ về thanh tra kiểm tra, nhất là KTNB
trường học. Từ đó biến quá trình thanh tra kiểm tra thành nhu cầu tự kiểm tra đánh
giá của mỗi thành viên trong nhà trường.
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÀO CAI
24
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SKKN
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO LÀO CAI
25