skkn èn kĩ năng cảm thụ văn học trong thế đối sánh cho học sinh giỏi môn ngữ văn - Pdf 18

Sáng kiến kinh nghiệm:
RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH
CHO HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
Người viết: Tiết Tuấn Anh
GV tổ Văn - trường THPT Chuyên Hưng Yên
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Cơ sở lí luận
Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc nhọc nhằn, đòi hỏi nhiều tâm huyết và
công phu của người thầy. Giáo viên đảm trách công việc này cần miệt mài trau
dồi kiến thức chuyên sâu, không ngừng học hỏi kinh nghiệm từ những người đi
trước cũng như rút ra kinh nghiệm từ hoạt động giảng dạy của chính mình. Trên
cơ sở nắm vững yêu cầu của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi và cập
nhật tình hình thực tế của các kì thi, người đứng lớp cần tích cực, chủ động trong
việc sáng tạo hệ thống đề văn cho đối tượng học sinh này. Những dạng đề bài
dành cho học sinh giỏi môn Ngữ văn tương đối đa dạng. Trong đó, cảm thụ văn
học trong thế đối sánh là một là kiểu bài hay và đắc dụng đối với công tác kiểm
tra, tuyển lựa và bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu văn chương. Những đề
văn yêu cầu phân tích, cảm nhận các đối tượng văn học trong quan hệ so sánh
giúp giáo viên đánh giá được vốn tri thức, khả năng tư duy tổng hợp, năng lực
chiếm lĩnh và vận dụng sáng tạo kiến thức của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
Trên thực tế, cảm thụ văn học trong thế đối sánh là kiểu bài đã và đang được
coi trọng trong hoạt động thi cử, không chỉ thi học sinh giỏi mà cả trong các kì thi
đại học những năm gần đây. Tuy nhiên, yêu cầu so sánh trong bài thi đại học môn
Ngữ văn chỉ được xem là một thao tác tổng kết ở cuối bài, chỉ chiếm một số điểm
khiêm tốn trong biểu điểm của đáp án (0,5 điểm). Điều này là phù hợp với đối
tượng và yêu cầu của kì thi đại học. Còn đối với học sinh giỏi, khả năng đối sánh,
sự nhạy cảm, tinh tế trong việc phát hiện, luận giải những điểm tương đồng và
1
khác biệt của các đối tượng văn học lại là yếu tố cần đặc biệt xem trọng. Để giải

2
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp thống kê, phân loại
+ Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
+ Phương pháp thực nghiệm (giảng dạy)
V. Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề xuất, danh mục tài liệu tham khảo, sáng
kiến kinh nghiệm bao gồm những nội dung chính sau đây:
I. Xác lập khái niệm và phân loại các dạng đề của kiểu bài cảm thụ văn học
trong thế đối sánh
II. Phương pháp làm kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh
III. Hướng dẫn luyện tập một số đề văn tiêu biểu
IV. Kết quả áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Xác lập khái niệm và phân loại các dạng đề của kiểu bài cảm thụ văn học
trong thế đối sánh
1. Khái niệm thao tác đối sánh và kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối
sánh
1.1. Thao tác đối sánh
Đối sánh (hay so sánh) là thao tác thông dụng, phổ biến của hoạt động tư
duy. Đây cũng là phương pháp nhận thức của con người về các sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan. Bản chất và cũng là mục đích của sự đối sánh là đặt
các sự vật, các đối tượng cạnh nhau, trên cơ sở nắm bắt được chắc chắn đặc điểm,
tính chất của từng đối tượng thì điều quan trọng cốt yếu là phải chỉ ra, phân tích,
lí giải được điểm giống nhau và khác nhau của chúng. Việc so sánh như vậy giúp
chúng ta vừa nhận thức sâu hơn về đặc tính của từng đối tượng, vừa thấy được
mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau. Đối tượng so sánh có thể là hai, có thể
là ba hay nhiều hơn thế.
Trong kỹ năng làm văn, đối sánh là một thao tác lập luận được sử dụng khá

cách phân loại khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Tôi chia ra những
dạng đề bài dưới đây dựa trên tiêu chí các cấp độ đối sánh. Sự phân chia này chỉ
mang tính chất tương đối. Xét cho cùng, các dạng đề bài ít nhiều đều có những
điểm giao thoa với nhau. Nhưng sự phân loại sau đây là cần thiết và thuận tiện
cho việc triển khai phương pháp làm bài.
2.1. Đối sánh ở cấp độ tác phẩm
Đây là trường hợp hai tác phẩm trọn vẹn được yêu cầu phân tích, đối sánh
với nhau. Đó có thể là tác phẩm thơ hoặc tác phẩm thuộc thể loại khác. Tuy
nhiên, đây là một dạng đề bài có biên độ so sánh khá rộng nên có lẽ nó sẽ không
xuất hiện thường xuyên. Thường thì đối tượng so sánh là các bài thơ ngắn.
Ví dụ 1: Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão
và Cảm hoài của Đặng Dung.
Ví dụ 2: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí Phèo
của Nam Cao để thấy được cái tâm và cái tài của hai nhà văn này.
Trường hợp biến thể của dạng đề này là đối sánh một tác phẩm với một
đoạn trích:
5
Ví dụ 3: Anh/chị hãy phân tích, so sánh bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình
Thi và đoạn trích Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn
Khoa Điềm.
2.2. Đối sánh ở cấp độ đoạn thơ, đoạn văn
Ví dụ 1: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đương cười ở phương trời
Nhớ đôi mắt đương nhìn anh đăm đắm
Gió bao lần từng trận gió thương đi,
Mà kỷ niệm, ôi, còn gọi ta chi ”
(Tương tư, chiều - Xuân Diệu)

của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm), Nỗi sầu oán của người
cung nữ (trích Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều) và Trao duyên (trích
Truyện Kiều của Nguyễn Du).
Ví dụ 2: Cảm hứng quê hương đất nước trong các bài thơ Việt Bắc của Tố
Hữu, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên và đoạn trích Đất nước (trích trường ca
Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
Ví dụ 3: Anh/chị hãy phân tích, so sánh tư tưởng hiện thực, tư tưởng nhân
đạo của Nam Cao và Kim Lân qua truyện ngắn Chí Phèo và truyện ngắn Vợ
nhặt.
2.4. Đối sánh ở cấp độ các vấn đề hình thức nghệ thuật của tác phẩm (hoặc
của đoạn thơ, đoạn văn)
Đề bài có thể yêu cầu phân tích, đối sánh các phương diện hình thức nghệ
thuật như nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân
vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ và cũng có thể là toàn bộ các yếu tố thuộc về
hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ 1: Anh/chị hãy phân tích, so sánh nghệ thuật thể hiện tình yêu trong
bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính và bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
Ví dụ 2: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong Vợ nhặt của Kim
Lân và Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
7
Ví dụ 3: Vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật trong hai bài thơ: Vội vàng của
Xuân Diệu và Tràng giang của Huy Cận.
2.5. Đối sánh ở cấp độ hình tượng
Có thể là hình tượng nhân vật, hình tượng thiên nhiên, hình tượng cái “tôi”
trữ tình hoặc một hình tượng nào đó trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ 1: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Việt trong truyện ngắn Những
đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng
xà nu của Nguyễn Trung Thành.
Ví dụ 2: Phân tích, so sánh nhân vật nữ trong các tác phẩm Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài, Vợ nhặt của Kim Lân, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn

nhau, điểm khác nhau và lí giải nguyên nhân. Cách thứ hai là tiến hành so sánh
đồng thời với việc phân tích, phần thân bài của bài viết được chia làm ba luận
điểm lớn: Luận điểm 1 là điểm giống nhau. Luận điểm 2 là điểm khác nhau,
(trong mỗi luận điểm lại có những phương diện so sánh phù hợp). Luận điểm 3 là
lí giải nguyên nhân.
Cách làm thứ nhất có vẻ dễ hơn nhưng nếu không lưu ý, học sinh sẽ sa đà
vào việc phân tích, bình giá dài dòng từng đối tượng mà không quan tâm đúng
mức đến nhiệm vụ so sánh. Phần đối sánh có thể sẽ mờ nhạt, không đủ sức nặng
cho bài viết. Vì vậy, khi triển khai bài viết, tương quan giữa phần phân tích và
phần so sánh cần tổ chức sao cho hợp lí. Cách làm thứ hai cho thấy người viết thể
hiện thao tác đối sánh ngay từ đầu, nhiệm vụ so sánh được đặt ở vị trí trọng tâm.
Cách làm này khó hơn nhưng khả năng thuyết phục sẽ cao hơn nếu người viết
thực sự làm chủ được các đối tượng so sánh.
Những cách làm trên đều có thể đạt được hiệu quả mong muốn nếu học
sinh biết tổ chức bài viết một cách hợp lí. Việc lựa chọn cách làm cũng phải linh
hoạt, dựa vào từng dạng đề bài cụ thể và sở trường cá nhân của từng người viết.
Chẳng hạn, nếu đề bài yêu cầu phân tích, đối sánh không phải hai mà là nhiều đối
tượng cùng một lúc thì rõ ràng cách làm nên chọn là cách thứ hai, nghĩa là phân
tích, đánh giá các đối tượng ấy theo hai luận điểm lớn là điểm giống nhau và
điểm khác nhau chứ không nên phân tích lần lượt rồi mới so sánh.
Trong quá trình so sánh, các ý phải được tạo lập, bố trí, sắp xếp một cách
mạch lạc, rõ ràng. Để có thể so sánh, cần phải dựa trên những tiêu chí nhất quán
giữa các đối tượng. Nếu không phân tách đối tượng ra thành các bình diện, các
9
tiêu chí để so sánh thì sẽ dẫn đến lối viết chung chung, rối rắm hoặc thiếu ý Đây
là lỗi mà học sinh hay mắc phải - kể cả học sinh giỏi.
Việc lí giải nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau có thể tách riêng
thành một phần nhưng cũng có thể lồng vào quá trình phân tích, so sánh một cách
linh hoạt, miễn là đủ ý và thuyết phục. Để lí giải thấu đáo, tuỳ theo yêu cầu của
đề bài, học sinh phải huy động các tri thức trong tác phẩm và ngoài tác phẩm

- Các phương thức nghệ thuật (nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng
tình huống truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, diễn tả tâm lí nhân vật, ngôn từ,
giọng điệu ).
- Phong cách nghệ thuật của các tác giả qua những truyện ngắn đang phân
tích.
* Về thể loại tiểu thuyết, kịch và kí, tôi không bàn tới trong mục này vì với
hệ thống các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, dạng bài đối
sánh tác phẩm tiểu thuyết, kịch, kí (với tư cách các tác phẩm trọn vẹn) sẽ không
thể xảy ra.
2.2. Với dạng bài đối sánh ở cấp độ đoạn thơ, đoạn văn
Đối với dạng bài này, học sinh vừa phải thâm nhập được vào các đoạn thơ,
đoạn văn, xem xét chúng như những đơn vị nghệ thuật độc lập lại vừa phải đặt
chúng trong mối liên hệ với chỉnh thể tác phẩm để việc phân tích, luận giải được
xác thực, thoả đáng hơn. Học sinh cũng phải nắm được đặc trưng thể loại để lấy
đó làm hệ quy chiếu cho quá trình giải quyết vấn đề.
*Với đoạn thơ, bám vào đặc trưng thể loại, có thể phân tích và chỉ ra điểm
giống nhau, khác nhau theo các bình diện:
- Bối cảnh trữ tình được nói đến trong các đoạn thơ.
- Nội dung cảm xúc của chủ thể trữ tình trong các đoạn thơ.
- Các yếu tố nghệ thuật được sử dụng.
- Phong cách nghệ thuật của các tác giả qua những đoạn thơ đang phân
tích.
*Với dạng đề cảm nhận về các đoạn văn, có thể phân tích, chỉ ra điểm
giống nhau và khác nhau theo các bình diện sau:
- Nội dung hiện thực được phản ánh trong các đoạn văn.
- Nội dung tư tưởng của các đoạn văn.
- Những yếu tố nghệ thuật được sử dụng trong các đoạn văn.
11
- Ý nghĩa của các đoạn văn trong việc thể hiện giá trị nội dung, nghệ thuật
của tác phẩm.

- Sự trân trọng, ngợi ca của các tác giả đối với những giá trị, vẻ đẹp, phẩm
chất của con người.
- Thái độ bênh vực, đồng tình của các tác giả đối với những khát vọng
sống chính đáng của con người.
- Niềm cảm thương của các tác giả đối với những khổ đau, bất hạnh của
con người.
- Thái độ lên án, tố cáo của các tác giả với những đối tượng chà đạp lên
quyền sống con người.
* Với dạng bài phân tích, đối sánh tư tưởng (hoặc cảm hứng, chủ nghĩa)
yêu nước, học sinh chú ý đến các bình diện:
- Lòng tự hào dân tộc, ý thức tự tôn dân tộc (ý thức về chủ quyền đất nước,
về phong tục, tập quán, cương vực lãnh thổ, truyền thống văn hoá ).
- Tình yêu thương đồng bào, nhân dân.
- Lòng căm thù giặc, ý chí chiến đấu, tinh thần xả thân vì Tổ quốc.
- Khát vọng dựng xây đất nước giàu mạnh.
- Lòng yêu mến, gắn bó với cảnh trí non sông.
- Các yếu tố nghệ thuật thể hiện lòng yêu nước.
2.4. Với dạng bài đối sánh ở cấp độ các vấn đề hình thức nghệ thuật của tác
phẩm (hoặc của đoạn thơ, đoạn văn)
* Với vấn đề nghệ thuật xây dựng tình huống truyện ở các tác phẩm khác
nhau, cần chú ý đến các bình diện dưới đây khi phân tích, đối sánh:
- Các tình huống truyện ấy thuộc loại nào? (tình huống hành động, tình
huống tâm trạng hay tình huống nhận thức)
- Việc tổ chức tình tiết, tổ chức mối quan hệ giữa các nhân vật trong tình
huống truyện được thực hiện như thế nào?
- Ngôn ngữ xây dựng tình huống truyện được sử dụng ra sao?
- Tình huống truyện được xây dựng như vậy góp phần thể hiện các giá trị
nội dung như thế nào?
*Với nghệ thuật phân tích và diễn tả và tâm lý nhân vật, cần chú ý đến các
bình diện sau đây khi phân tích, đối sánh:

- Lai lịch, ngoại hình, hoàn cảnh sinh sống của các nhân vật.
- Số phận của các nhân vật.
14
- Đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật.
- Ý nghĩa của các nhân vật trong việc thể hiện giá trị hiện thực, giá trị nhân
đạo của tác phẩm.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
* Với hình tượng cái “tôi” trong tác phẩm trữ tình hoặc tác phẩm kí, cần
chú ý các bình diện sau đây khi phân tích, đối sánh:
- Hoàn cảnh xuất hiện của cái “tôi” (không gian, thời gian).
- Cảm xúc, suy tư của cái “tôi” , quan niệm, cảm nhận của cái “tôi” về thế
giới khách quan.
- Các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện cái “tôi”.
- Hình tượng cái “tôi” nói lên được đặc điểm gì trong phong cách nghệ
thuật của các tác giả?
* Với hình tượng thiên nhiên, có thể chú ý các bình diện sau đây khi phân
tích, đối sánh:
- Hình tượng thiên nhiên được thể hiện qua những yếu tố không gian, thời
gian như thế nào?
- Hình tượng thiên nhiên đặc trưng cho miền đất nào, vùng quê nào?
- Sắc diện, tính chất của hình tượng thiên nhiên (hùng vĩ, dữ dội hay thơ
mộng, trữ tình; lớn lao, kì vĩ hay bình dị, gần gũi ).
- Hình tượng thiên nhiên thể hiện điều gì trong cách nhìn, quan niệm của
người cầm bút về thế giới khách quan, thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn tác giả,
trong mối quan hệ của tác giả với quê hương đất nước?
- Các yếu tố nghệ thuật góp phần xây dựng, khắc tả hình tượng thiên
nhiên?
- Hình tượng thiên nhiên cho thấy điều gì trong phong cách nghệ thuật của
người cầm bút?
2.6. Với dạng bài đối sánh ở cấp độ chi tiết

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”
(Tương tư - Nguyễn Bính)
16
Gợi ý: Khi phân tích, đối sánh hai đoạn thơ trên, học sinh có thể trình bày
theo những hệ thống lập luận khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý:
1. Điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ:
- Đều là sản phẩm sáng tạo của hai thi nhân được coi là những đỉnh cao
của phong trào Thơ mới.
- Về nội dung: Đều thể hiện nỗi nhớ - một trạng thái cảm xúc muôn đời
của tình yêu đôi lứa. Nỗi nhớ là nội dung trữ tình chủ đạo trong cả hai đoạn thơ.
Chủ thể trữ tình đều là các chàng trai với sự cô đơn, nhung nhớ đang hướng về
người mình yêu trong hoàn cảnh xa cách.
- Về nghệ thuật: Đều sử dụng điệp từ “nhớ”.
2. Điểm khác biệt giữa hai đoạn thơ:
- Về nội dung:
+ Hoàn cảnh của nhân vật trữ tình: nhân vật trữ tình ở đoạn thơ của Xuân
Diệu từng có những kỉ niệm đẹp trong tình yêu, chàng trai cùng với người yêu đã
được sống những phút giây êm đềm nhưng giờ đây lại chia xa. Còn chủ thể trữ
tình ở đoạn thơ của Nguyễn Bính lại sống trong mối tình đơn phương, chàng trai
yêu nhưng không mạnh mẽ bày tỏ tình cảm, yêu nhưng chưa một lần được đắm
mình trong những phút giây mặn nồng của lứa đôi.
+ Nội dung trữ tình: Trong đoạn thơ của Xuân Diệu, nỗi nhớ hoà cùng nỗi
buồn và niềm bâng khuâng nuối tiếc vì những kỉ niệm tình yêu đã trôi về miền
quá vãng. Trong đoạn thơ của Nguyễn Bính, nỗi nhớ lại kèm theo sự hờn trách vì
“cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”.
+ Sắc thái của nỗi nhớ: Nỗi nhớ của chủ thể trữ tình trong thơ Xuân Diệu
được bộc lộ một cách táo bạo, mạnh mẽ. Còn nỗi nhớ của chủ thể trữ tình trong
thơ Nguyễn Bính tuy cũng da diết nhưng cách thể hiện lại có phần dè dặt hơn,

- Hiểu theo nghĩa chiết tự, nhân đạo là đạo đức yêu thương con người. Tư
tưởng nhân đạo luôn coi con người là trung tâm của đời sống; trân trọng, ngợi ca
những vẻ đẹp và giá trị người; cảm thương với nỗi bất hạnh, thống khổ của con
người; đồng tình với những khát vọng sống chính đáng của con người; lên án các
thế lực, các đối tượng cướp đoạt quyền sống, chà đạp hạnh phúc của con người.
Tư tưởng nhân đạo là một phương diện quan trọng của nội dung tác phẩm văn
18
học, là một trong những yếu tố tạo cho tác phẩm sức sống trường tồn trước sự
băng hoại của dòng chảy thời gian.
2. Phân tích, đối sánh tư tưởng nhân đạo trong ba đoạn trích.
a. Điểm tương đồng:
- Cả ba đoạn trích đều thể hiện niềm cảm thương của người cầm bút đối
với bi kịch của người phụ nữ.
- Trong sự thấu hiểu, cảm thông với nỗi bất hạnh của con người, các tác
giả (cũng như dịch giả) đều cho thấy ngòi bút bậc thầy trong nghệ thuật phân tích
và diễn tả tâm lý, khả năng đào sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật để miêu tả
những trạng thái cảm xúc phức tạp.
- Tác giả của cả ba đoạn trích (cũng như ba tác phẩm) đều là những đấng
mày râu, họ đã vượt qua tư tưởng trọng nam khinh nữ để thể hiện tư tưởng nhân
đạo cao đẹp, tiến bộ.
b. Điểm khác biệt:
- Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ hướng niềm đồng cảm
tới thiếu phụ có chồng ra chiến trận - nạn nhân của chiến tranh phong kiến phi
nghĩa. Đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ thể hiện nỗi xót thương của tác
giả dành cho người phụ nữ bị chôn vùi tuổi xuân, bị bỏ rơi phũ phàng. Đoạn trích
Trao duyên thấm đượm nỗi xót xa của người cầm bút với bi kịch tình yêu đau
đớn của Thuý Kiều, nàng buộc phải trao cho người khác thứ vô giá mà lẽ ra
người ta không bao giờ trao.
- So với đoạn trích Trao duyên, hai đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người
chinh phụ, Nỗi sầu oán của người cung nữ có nét riêng là thể hiện sự đồng tình

nghèo đói và khốn khổ.
+ Đều là “giọt châu của loài người”, giọt nước chan chứa tình người trào ra
từ tâm hồn những bà mẹ giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
+ Đều góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm: tấm lòng thương
cảm đối với bi kịch của con người và sự trân trọng vẻ đẹp tình đời, tình người của
tác giả.
- Về nghệ thuật: Đều cho thấy ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, sâu
sắc của hai nhà văn.
2. Điểm khác biệt:
20
- Về nội dung: Chi tiết dòng nước mắt của bà cụ Tứ gắn với tình huống anh
cu Tràng “nhặt” được vợ; bà cụ cảm thấy ai oán, xót thương cho số kiếp đứa con
mình và cũng xót tủi cho chính thân phận mình: Tràng có vợ vào lúc cái đói, cái
chết đang ráo riết truy đuổi con người. Còn dòng nước mắt của người đàn bà
hàng chài trào ra sau sự việc thằng Phác đánh lại bố để bảo vệ mẹ và hoàn cảnh
éo le, ngang trái của gia đình bà đã diễn ra trước mắt nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng;
người phụ nữ vùng biển này thấy đau đớn, nhục nhã vì không thể giấu được bi
kịch gia đình.
- Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử
dụng hình thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách diễn đạt
ví von, hình ảnh.
IV. KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Ý tưởng của sáng kiến kinh nghiệm này đã manh nha từ lâu và đã được tôi
thực hiện trong quá trình dạy đội tuyển học sinh giỏi quốc gia các khoá, đặc biệt
là trong năm học 2012-2013. Tôi đã cung cấp cho các em văn bản chuyên đề này
để các em tự nghiên cứu, nghiền ngẫm và trao đổi với tôi những điều còn khúc
mắc. Theo cảm nhận của tôi, sau khi học sinh được trang bị những tri thức về
kiểu bài, phương pháp làm đối với từng dạng cụ thể, các em thấy tự tin hơn và
trong quá trình làm bài, hệ thống ý được triển khai chắc chắn sẽ sâu sắc, đầy đủ
và thuyết phục hơn so với khi chưa được tiếp cận với chuyên đề. Trong năm học

3. Tài liệu trên Internet
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status