MỘT SỐ DẠNG BÀI VẬN DỤNG KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
TRONG THẾ ĐỐI SÁNH
Vũ Thị Bích Ngọc
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định
Yêu cầu của cảm thụ văn học là cảm nhận, đánh giá được những giá trị
của văn học. Các đề bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi, dù có ra
dưới dạng nào thì cũng đòi hỏi kĩ năng cảm thụ văn học tinh tế và có chiều
sâu. Để tạo nên những bài viết có chất lượng, bên cạnh sự nhạy cảm, tinh tế
của người cảm thụ còn rất cần đến những kĩ năng cảm thụ. Cảm thụ văn học
trong thế đối sánh là một trong những kĩ năng để đạt được cái đích ấy.
Đối sánh nhằm làm nổi bật đối tượng. Trong cảm thụ văn học, người ta
thường đặt hiện tượng văn học cần so sánh trong mối quan hệ với những hiện
tượng trong cùng một giai đoạn, một thời kì; đặt vào thời điểm trước nó và
sau nó để thấy được những điểm tương đồng, điểm khác biệt của chúng trên
một số phương diện như: phong cách, nội dung tư tưởng, hình thức nghệ
thuật…từ đó hướng tới làm nổi bật điểm chung và điểm riêng độc đáo của
hiện tượng văn học ấy. Đồng thời đánh giá được ý nghĩa của những điểm
tương đồng và khác biệt ấy để có một cái nhìn đúng đắn và sâu sắc về giá trị
của tác phẩm, về vai trò, vị trí của tác phẩm, của nhà văn trong dòng chảy văn
học nói chung.
Trong cảm thụ văn học, yêu cầu đối sánh luôn được đặt ra và nó có thể
diễn ra dưới nhiều cấp độ như: cấp độ câu chữ; cấp độ hình ảnh; cấp độ văn
bản; cấp độ tác giả;… Đối sánh trong cảm thụ văn học có nhiều tác dụng như:
làm nổi bật nét đặc sắc của hiện tượng văn học; minh họa cho một vấn đề lí
luận văn học, văn học sử; đối sánh lại có thể như một phương pháp để giảng
bình, phân tích, đánh giá văn học; Trong bài viết này chúng tôi xin chia sẻ
với đồng nghiệp một số dạng bài vận dụng kĩ năng cảm thụ văn học trong thế
đối sánh dành cho học sinh giỏi.
1
1. Dạng 1: Cảm nhận về hai (hay nhiều) tác phẩm (đoạn tác phẩm)
* Yêu cầu của dạng bài:
1. Giới thiệu
Hai đoạn thơ trích từ hai bài thơ của hai tác giả đã nêu lên quan niệm sống
tích cực, đẹp đẽ của một nhà thơ Mới và một nhà thơ cách mạng tiêu biểu
nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.
2. Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu)
- Về nội dung: Quan niệm sống của Xuân Diệu xuất phát từ tình yêu cuộc
sống, con người tha thiết và một cảm quan đặc biệt về thời gian. Vẻ đẹp cuộc
sống trong cái nhìn của nhà thơ hiện ra với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ :
mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, cỏ rạng ngời trong nắng. Nhà thơ đã
nhân hoá những vẻ đẹp thiên nhiên đó để nó mang hương sắc của tuổi xuân,
tuổi trẻ. Tuy nhiên, những vẻ đẹp ấy sẽ phai tàn cùng với sự trôi chảy của thời
gian. Vì vậy, sống là phải chủ động, hết mình, đắm say, mãnh liệt, thức nhọn
mọi giác quan để tận hưởng tất cả những vẻ đẹp của cuộc sống, của niềm vui,
tình yêu và hạnh phúc. Chú ý phân tích các từ : ôm-riết-say- thâu-hôn-cắn và
điệp từ ta muốn để thấy rõ cảm xúc ham hố, vồ vập cả nhà thơ trước vẻ đẹp
cuộc sống trần gian.
- Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ
đã sử dụng thành công những câu thơ tự do mang điệu nói, nhịp thơ dồn dập,
lôi cuốn; cách sử dụng những động từ táo bạo, mới mẻ; phép lặp từ… để khắc
hoạ ước muốn giao cảm tận độ vô biên của thi sĩ với cuộc sống.
3. Cảm nhận đoạn thơ trong bài “Từ ấy” (Tố Hữu)
- Về nội dung: Quan niệm sống và cũng là quan niệm nghệ thuật của Tố Hữu
thể hiện trong đoạn thơ là kết quả của sự giác ngộ lí tưởng cộng sản. Nó đã
chỉ rõ con đường đời và con đường nghệ thuật của nhà thơ là phải đứng vào
hàng ngũ những người lao động để gắn bó, cùng chiến đấu vì lí tưởng cộng
3
sản. Tố Hữu quan niệm : sống là tự nguyện đặt cái “tôi” của mình trong mối
quan hệ gắn bó với quần chúng nhân dân. Tâm hồn thi sĩ trải rộng với cuộc
đời, cùng hoà nhịp, đồng cảm với những con người đau khổ như những người
ruột thịt. Sống là chiến đấu, là hi sinh vì sự nghiệp cách mạng, vì quần chúng,
* Đề bài tham khảo:
Đề số 1: Trong bài Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm viết:
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
Còn trong bài Đất nước, Nguyễn Đình Thi cũng có những câu:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Anh (chị) hãy cảm nhận những câu thơ trong 2 bài thơ trong quan hệ so
sánh, đối chiếu để thấy những nét độc đáo của mỗi tác giả khi viết về quê
hương, đất nước.
Định hướng cách giải quyết:
1. Giới thiệu:
- Cảm hứng quê hương, đất nước là cảm hứng nổi bật trong thơ ca kháng
chiến chống Pháp, kết tinh trong nhiều bài thơ hay
- Cả hai bài thơ đều là cảm xúc tinh tế của các nhà thơ viết về quê hương, đất
nước, thấm thía nhất là những vần thơ viết về nỗi đau quê hương bị tàn phá
- Giới thiệu các câu thơ ở đề bài
2. Nét chung:
Hình ảnh quê hương, đất nước đau thương trong chiến tranh: hiện lên với
những hình ảnh thân quen, gần gũi đã chạm đến những gì thiêng liêng, sâu
nặng nhất trong tâm hồn mỗi con người kháng chiến
5
3. Nét riêng: Đối sánh trên cơ sở các tiêu chí: trong hoàn cảnh sáng tác, mạch
cảm xúc, thế giới hình tượng, nghệ thuật thể hiện
- Đoạn 1:
+ Hoàn cảnh sáng tác đặc biệt: cảm hứng xuất thần
+ Mạch cảm xúc: bài thơ là sự song song của hai mạch cảm xúc đặc biệt: nhớ
thương, tự hào và xót xa, căm giận
Định hướng cách giải quyết:
1. Sự gặp gỡ:
1.1. Vì sao trong văn chương lại có sự gặp gỡ?
Các tác phẩm văn chương có thể có những điểm gặp gỡ về nội dung và nghệ
thuật vì:
- Người nghệ sĩ cùng chung một mối quan tâm (những vấn đề có tính chất
vĩnh cửu, mang tầm nhân loại); chung mục đích sáng tạo (đưa con người đến
với những giá trị cao quý chân - thiện - mĩ)
- Kiểu tư duy, cách thể hiện có thể có điểm tương đồng: ở đâu, thời kì nào
người ta cũng có cách nghĩ như thế, cách thể hiện như thế.
- Theo quy luật kế thừa trong sáng tạo nghệ thuật: văn học của mỗi thời kì,
mỗi quốc gia không bao giờ ra đời từ môi trường chân không mà luôn có sự
kế thừa
1.2. Chỉ ra và phân tích những biểu hiện của sự gặp gỡ của Nguyễn Du và
Thanh Thảo ở hai bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” và “Đàn ghi ta của Lor-ca”
+ Niềm đồng cảm sâu sắc, niềm tiếc thương day dứt, đớn đau, phẫn uất, bất
bình cho cái Đẹp bị huỷ diệt, đầy đoạ, dập vùi
+ Sự nâng niu, trân trọng cái Đẹp, khẳng định sức sống của cái Đẹp, gắn
với khát vọng bất tử hoá cái Đẹp
+ Hướng con người tới những tình cảm nhân văn cao đẹp, đặt ra những câu
hỏi lớn lao cho thời đại, là tiếng nói cất lên từ thời đại nhưng còn đọng lại và
có tầm nhân loại
7
( Cần chỉ ra các biểu hiện trên ở từng tác phẩm)
2. Điểm độc đáo:
2.1. Bên cạnh sự tương đồng luôn là sự khác biệt đi liền với sự độc đáo, mới
lạ vì:
- Xuất phát từ quy luật sáng tạo văn học:
+ Quá trình viết văn phải là quá trình tìm tòi sáng tạo cái mới, không được
lặp lại.
thưởng thức văn chương:
- Sự gặp gỡ và nét khác biệt với những sáng tạo độc đáo, thú vị làm nên sự
phong phú, giàu có kì diệu của văn học:
- Điểm tương đồng làm nên tính tập trung, thống nhất của văn học, làm cho
mọi người có thể hiểu nhau, đồng cảm với nhau qua văn học (bất chấp
khoảng cách về không gian, thời gian)
- Điểm khác biệt độc đáo sẽ làm tiến trình văn học ngày một dài hơn, kho
tàng văn học nhân loại giàu có hơn; đời sống tinh thần con người sẽ phong
phú hơn và người nghệ sĩ ghi được tên tuổi của mình trong dòng đời nước
chảy.
3. Dạng 3: So sánh một (một số) vấn đề qua một cụm tác phẩm
* Yêu cầu của dạng bài:
Ở dạng bài này cần: cảm thụ cụm tác phẩm trong thế đối sánh để làm nổi bật
một vấn đề mà đề bài yêu cầu (có thể là vấn đề thuộc lí luận văn học hay văn
học sử,…).
* Đề bài tham khảo:
Có ý kiến cho rằng : “Mỗi nhà văn là một thế giới, nhà văn này không thể
thay thế cho nhà văn kia. Cho nên mỗi nhà văn bằng tài năng và cá tính sáng
tạo của mình đều có thể trực tiếp đóng góp cho sự phong phú và đa dạng của
một nền văn học”.
9
Anh (chị) hiểu gì về ý kiến trên? Lấy dẫn chứng minh hoạ từ truyện ngắn của
Thạch Lam và Nam Cao.
Định hướng cách giải quyết:
1. Giải thích nhận định:
Nhận định đề cập đến sự đóng góp của mỗi nhà văn cho nền văn học bằng tài
năng và cá tính sáng tạo của họ - thực chất là vấn đề phong cách của nhà văn.
2. Bàn luận :
- Sáng tạo VH là hoạt động tinh thần mang tính cá thể hoá cao độ. Mỗi nhà
văn với quan niệm riêng, với con mắt nhìn đời riêng sẽ có cách thể hiện riêng
lí thông qua cái hàng ngày, từ đó đưa ra những triết lí thâm trầm.
* Ngôn ngữ:
- Thạch Lam: bàng bạc chất thơ
- Nam Cao: đa thanh, đối thoại
(Cần phân tích dẫn chứng cụ thể trong truyện ngắn của hai nhà văn)
4. Nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau, khác nhau: do hoàn cảnh lịch sử, môi
trường sống, phong cách nhà văn…
5. Đánh giá: đóng góp của Thạch Lam, Nam Cao đã góp phần trong việc tạo
nên sự phong phú, đa dạng cho văn học, đặc biệt cho truyện ngắn Việt Nam
ngày càng được hoàn thiện hơn, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn.
Thiết nghĩ, đặt HS đối diện với các dạng bài cụ thể là một trong những giải
pháp tối ưu để củng cố, nâng cao và khắc sâu kĩ năng cho các em. Đối sánh
trong cảm thụ văn học là một trong những con đường góp phần rèn kĩ năng
cảm thụ cho học sinh để tạo nên những bài viết phong phú, có chiều sâu đồng
thời đánh thức sự nhạy cảm trong tư duy, trong cái nhìn về cuộc đời của các
em. Song thiết nghĩ, để đối sánh tốt, HS phải trường vốn. Do đó các em phải
luôn có ý thức tích lũy cho mình vốn kiến thức phong phú để khi cảm thụ một
vấn đề văn học có thể nghĩ đến những vấn đề khác có liên quan. Có kiến thức,
11
HS cũng cần được rèn về kĩ năng sử dụng thao tác lập luận so sánh. Và một
điều cũng rất quan trọng nữa là người dạy luôn có ý thức khơi gợi để đánh
thức sự nhạy cảm của HS, rèn cho HS ý thức so sánh, liên hệ khi đứng trước
một vấn đề văn học. Những vấn đề thú vị này chúng tôi sẽ có dịp bàn đến
trong những chuyên đề tiếp theo.
12