BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐINH HỮU HÙNG
NGUY CƠ TÁI PHÁT SAU ĐỘT
QUỴ THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ
CẤP THEO PHÂN TẦNG MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Thần kinh
Mã số: 62.72.21.40 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS VŨ ANH NHỊ
PGS. TS ĐỖ VĂN DŨNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Đột quỵ với hơn 80% là thiếu máu não cục bộ (TMNCB) luôn là
vấn đề thời sự của y học bởi đây là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong và tàn tật, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điểm
đáng chú ý là sau khi biến cố này xảy ra, bệnh nhân (BN) phải đối mặt
với nguy cơ tái phát rất cao, nhất là trong năm đầu tiên. Theo Burn và
cộng sự (cs), nguy cơ tái phát tại thời điểm trên là cao nhất và gấp 15
lần so với dân số chung. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trong nước
cho thấy nguy cơ tái phát tại các thời điểm 90 ngày và 6 tháng cũng ở
mức báo động. Nguy hiểm hơn khi tỉ lệ tử vong, tàn tật và chi phí điều
trị của đột quỵ tái phát đều cao hơn so với đột quỵ lần đầu. Vì vậy,
theo Tổ chức Y tế thế giới, dự phòng tái phát đột quỵ là việc làm hết
(36 trang), Đối tượng và Phương pháp (13 trang), Kết quả (32 trang),
Bàn luận (44 trang). Có 35 bảng, 2 hình, 16 biểu đồ và 284 tài liệu
tham khảo (30 tiếng Việt, 254 tiếng Anh).
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2. Một số vấn đề về đột quỵ tái phát
1.2.1. Định nghĩa
Trước hết, đột quỵ tái phát được định nghĩa như là một trường
hợp đột quỵ (theo Tổ chức Y tế thế giới), xảy ra sau lần đột quỵ trước
đó, đồng thời thỏa mãn thêm một trong các tiêu chuẩn sau:
(1) Có bằng chứng lâm sàng cho thấy bệnh khởi phát đột ngột với
các triệu chứng thần kinh khu trú mới (khác với lần trước), xuất hiện
sau 24 giờ kể từ lần đột quỵ trước đó mà không có nguyên nhân rõ
ràng nào khác như chấn thương, cơn động kinh, nhiễm độc, phẫu thuật,
chụp mạch máu,… ngoài nguyên nhân mạch máu đồng thời đã loại trừ
những trường hợp bệnh nặng lên do phù não, hiệu ứng choán chỗ hoặc
chảy máu trong ổ nhồi máu, hoặc
3
(2) Có bằng chứng lâm sàng cho thấy có sự nặng lên đột ngột đối
với các triệu chứng thần kinh khu trú đang ổn định trước đó, xuất hiện
sau ngày thứ 21 kể từ khi đột quỵ khởi phát mà không có một nguyên
nhân rõ ràng nào khác ngoài nguyên nhân mạch máu. Ngoài ra, hình
ảnh học sọ não sẽ giúp củng cố thêm chẩn đoán.
1.2.2. Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ/cơn thiếu
máu não thoáng qua (TIA) và một số yếu tố liên quan
1.2.2.1. Nguy cơ tái phát sau đột quỵ TMNCB/TIA
Theo y văn, sau khi đột quỵ TMNCB/TIA xảy ra, BN có nguy cơ tái
phát rất cao, ngay từ những ngày đầu tiên của bệnh. Trong đó, hầu hết
các trường hợp tái phát thường xảy ra trong năm đầu tiên. Trên thực tế,
đột quỵ tái phát chiếm khoảng 25 - 40% trong tổng số BN đột quỵ và có
của Eriksson còn cho kết quả cao hơn nữa: 38,7% và 53,9%.
Nhìn chung, chưa có sự đồng nhất về kết quả giữa các nghiên cứu.
Điều đó đã được chứng minh rõ ràng qua một phân tích tổng hợp của
Mohan và cs tại tất cả các thời điểm theo dõi với p < 0,00001. Sự không
đồng nhất đó có thể được giải thích bởi nhiều lý do khác nhau như sự
khác biệt về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, định nghĩa đột quỵ
tái phát đã được sử dụng, sự khác biệt theo khu vực địa lý và sự tác
động tích cực của những tiến bộ trong điều trị dự phòng tái phát,…
1.2.2.2. Các yếu tố liên quan với nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu
máu não cục bộ/cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA)
Các yếu tố liên quan với nguy cơ tái phát sau đột quỵ TMNCB/TIA
được chia thành 2 nhóm: có thể và không thể thay đổi được. Tuy nhiên,
không hoàn toàn giống với đột quỵ lần đầu, các yếu tố này thường
thuộc nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm (1) các yếu tố dân số-xã hội,
(2) tiền sử y khoa, (3) các YTNC mạch máu (4) bệnh tim, (5) tình trạng
bệnh trên lâm sàng, (6) quá trình điều trị dự phòng tái phát đột quỵ (các
5
biện pháp và sự tuân thủ điều trị của BN) và (7) một số yếu tố khác.
Trong đó, các yếu tố liên quan với nguy cơ tái phát thường được đề cập
đến là tuổi, tiền sử đột quỵ/TIA, THA, ĐTĐ, rung nhĩ, hẹp động mạch
(ĐM) cảnh, phân nhóm nguyên nhân đột quỵ TMNCB, các liệu pháp
điều trị dự phòng hiệu quả sau đột quỵ TMNCB/TIA (thay đổi lối sống,
chống kết tập tiểu cầu, kháng đông, nhóm statins, tái thông ĐM cảnh).
Nhìn chung, mặc dù chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu
nhưng có một sự đồng thuận chung là việc xác định các yếu tố liên
quan với nguy cơ tái phát đột quỵ sẽ giúp chúng ta chọn lọc được
tương đối chính xác nhóm BN có nguy cơ tái phát cao. Trong đó, tiền
sử đột quỵ/TIA, rung nhĩ, hẹp ĐM cảnh, phân nhóm XVĐM lớn hay
lấp mạch từ tim, liệu pháp hạ huyết áp, chống huyết khối, statins và tái
một số nghiên cứu trước) để tính cỡ mẫu theo công thức dành cho
nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu có dùng phương pháp phân tích sống còn.
Kết quả: cỡ mẫu tối thiểu thực tế cần phải lấy là 330 bệnh nhân (đã dự
phòng cho trường hợp bị mất mẫu).
2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu
* Bước 1: Thu thập thông tin khi bệnh nhân nhập viện
Bệnh nhân sẽ được thăm khám lâm sàng tỉ mỉ và cho làm đầy đủ
các cận lâm sàng (CLS) để thu thập các thông tin cần thiết:
- Khám lâm sàng: ghi nhận giá trị của một số biến số, ví dụ như
tuổi, giới, tiền sử THA, tiền sử ĐTĐ, hút thuốc lá, điểm Glasgow,
- Cận lâm sàng: BN được cho làm đầy đủ các CLS cần thiết, bao
gồm xét nghiệm máu, điện tâm đồ, siêu âm tim, siêu âm ĐM cảnh,
chụp cắt lớp vi tính sọ não. Trong những trường hợp BN không đủ chi
phí để làm các CLS thì chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ đầy đủ.
- Các thông tin cần thiết khác, bao gồm cả số điện thoại cố định, di
động của BN và người nhà BN đã được ghi chép cẩn thận. Đồng thời,
chúng tôi cũng đã giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu để BN và
người nhà BN hiểu rõ và tự nguyện tham gia.
7
* Bước 2: Thu thập thông tin trong quá trình theo dõi
Chúng tôi tiến hành theo dõi ngay khi BN nhập viện. Khi ra viện,
BN và/hoặc người nhà BN được: (1) các bác sĩ điều trị của bệnh viện
tư vấn về những biện pháp điều trị tiếp theo, bao gồm cả điều trị dự
phòng tái phát đột quỵ, (2) cung cấp những thông tin cần thiết nhằm
giúp nhận ra các triệu chứng của đột quỵ tái phát, (3) cung cấp số
điện thoại của chúng tôi để họ có thể liên lạc bất kỳ lúc nào, và (4)
giải thích là cần phải nhập viện càng sớm càng tốt nếu có triệu chứng
nghi ngờ đột quỵ tái phát và đồng thời gọi điện cho chúng tôi ngay để
được hướng dẫn kịp thời.
Bảng 3.1. Nguyên nhân đột quỵ TMNCB theo phân loại TOAST
Nguyên nhân đột quỵ TMNCB
Tần số
(n = 405)
Tỉ lệ %
Lấp mạch từ tim
61
15,1
Xơ vữa động mạch lớn
35
8,60
Nguyên nhân khác/chưa rõ nguyên nhân
166
41,0
Bệnh mạch máu nhỏ
143
35,3
3.1.3. Một số đặc điểm chung liên quan đến quá trình theo dõi
Bảng 3.2. Một số đặc điểm chung liên quan đến quá trình theo dõi
Một số đặc điểm chung
Tần số (n = 405)
Tổng số BN được theo dõi
405
Tổng số BN bị đột quỵ tái phát
92
Tổng số BN mất theo dõi
3
Tổng số BN tử vong không do đột quỵ tái phát
33
HR
KTC 95%
p
Tuổi ≥ 65
1,69
1,08 - 2,66
0,021
Nam
0,92
0,61 - 1,39
0,729
Tình trạng hôn nhân (sống một mình)
1,36
0,89 - 2,07
0,157
Trình độ học vấn thấp (≤ tiểu học)
1,85
1,17 - 2,91
0,008
Khu vực sống là nông thôn
1,08
0,70 - 1,66
0,722
3.3.2. Các yếu tố liên quan đến tiền sử và tình trạng bệnh
Bảng 3.5. Kết quả phân tích hồi quy Cox đơn biến của các yếu tố liên
quan đến tiền sử và tình trạng bệnh đối với nguy cơ tái phát đột quỵ
(tổng hợp từ bảng 3.11 và 3.12 trong cuốn luận án)
Các yếu tố (n = 405)
HR
KTC 95%
2,30
1,19 - 4,44
0,013
10
3.3.3. Các yếu tố nguy cơ mạch máu khác
Bảng 3.6. Kết quả phân tích hồi quy Cox đơn biến của một số yếu tố
nguy cơ mạch máu quan trọng khác đối với nguy cơ tái phát đột quỵ
Các yếu tố (n = 405)
HR
KTC 95%
p
Tập thể dục thường xuyên
0,98
0,58 - 1,64
0,949
Hút thuốc lá
0,99
0,63 - 1,55
0,970
Nghiện rượu
1,25
0,71 - 2,22
0,429
Tăng huyết áp
0,88
0,50 - 1,53
0,654
Rối loạn lipid máu
0,80
0,68
0,34 - 1,35
0,273
Nồng độ HDL - C thấp
1,67
1,08 - 2,57
0,020
Nồng độ LDL - C cao
1,03
0,45 - 2,35
0,947
Tăng nồng độ fibrinogen máu
0,90
0,54 - 1,49
0,683
Nồng độ hs - CRP > 3 mg/L
1,51
0,96 - 2,37
0,069
3.3.5. Phân nhóm nguyên nhân của đột quỵ TMNCB
Bảng 3.8. Kết quả phân tích hồi quy Cox đơn biến của phân nhóm
nguyên nhân đột quỵ TMNCB đối với nguy cơ tái phát
Phân nhóm đột quỵ TMNCB (n = 405)
HR
KTC 95%
p
Lấp mạch từ tim
5,05
2,80 - 9,10
< 0,001
0,63 - 1,92
0,720
Dùng kháng đông (chỉ đánh giá ở các BN
đột quỵ TMNCB có rung nhĩ)
0,34 0,10 - 1,13 0,079
3.3.7. Kết quả phân tích đơn biến đối với một số biến số gộp
Bảng 3.10. Kết quả phân tích hồi quy Cox đơn biến của một số biến số
gộp đối với nguy cơ tái phát đột quỵ
Sự kết hợp của một số yếu tố (n = 405)
HR
KTC 95%
p
Tuổi ≥ 65 + tiền sử đột quỵ/TIA
2,33
1,47 - 3,69
< 0,001
Hẹp ĐM cảnh ≥ 70% + tiền sử đột quỵ/TIA 5,31 1,30 - 21,59 0,020
Hẹp ĐM cảnh ≥ 70% + hs-CRP > 3 mg/L 3,24 1,41 - 7,43 0,005
Hẹp ĐM cảnh ≥ 70% + hs-CRP > 3 mg/L +
không dùng statins
4,36 1,60 - 11,93 0,004
Hẹp ĐM cảnh ≥ 70% + hs-CRP > 10 mg/L 5,22 2,11 - 12,91
< 0,001
Hẹp ĐM cảnh ≥ 70% + hs-CRP > 10 mg/L
+ không dùng statins
10,17 3,17 - 32,69 < 0,001
Tiền sử NMCT + hs-CRP > 3 mg/L 4,20 1,83 - 9,65 0,001
1,96
0,83 - 4,62
0,122
Liệt vận động mức độ nặng
1,00
0,63 - 1,59
0,997
Điểm Rankin sửa đổi lúc ra viện > 2
1,99
0,95 - 4,18
0,068
Rung nhĩ
2,66
1,56 - 4,55
< 0,001
Hẹp van hai lá
2,40
0,94 - 6,11
0,067
Hẹp động mạch cảnh ≥ 70%
3,63
1,59 - 8,28
0,002
Nồng độ HDL - C thấp (< 40 mg/dL)
1,63
1,03 - 2,57
0,035
Nồng độ hs - CRP > 3 mg/dL
0,99
0,61 - 1,59
0,81 - 3,55
0,161
Rung nhĩ
2,91
1,69 - 5,00
< 0,001
Hẹp van hai lá
2,38
0,92 - 6,17
0,074
Hẹp động mạch cảnh ≥ 70%
3,22
1,40 - 7,45
0,006
Nồng độ HDL - C thấp (< 40 mg/dL)
1,80
1,15 - 2,83
0,011
Nồng độ hs - CRP > 3 mg/dL
0,96
0,60 - 1,54
0,878
Có dùng chống kết tập tiểu cầu
0,48
0,27 - 0,86
0,014
Có dùng statins
0,57
0,36 - 0,93
0,023
1,49
0,71 - 3,15
0,294
Hẹp van hai lá
2,18
0,84 - 5,68
0,111
Nồng độ HDL - C thấp (< 40 mg/dL)
1,76
1,13 - 2,76
0,013
Nồng độ hs - CRP > 3 mg/dL
1,07
0,68 - 1,71
0,763
Có dùng chống kết tập tiểu cầu
0,41
0,23 - 0,73
0,002
Có dùng statins
0,56
0,35 - 0,90
0,017
Phân nhóm nguyên nhân đột quỵ TMNCB
Lấp mạch từ tim
3,85
1,97 - 7,53
11,9%, tương tự với tác giả Vũ Anh Nhị (12,06%), Cao Phi Phong
(10,4%) và Wang (12,9%). Tuy nhiên, chưa có sự đồng nhất với một số
nghiên cứu khác. Theo Acciarresi, con số này ở mức thấp hơn (5%)
trong khi theo Ois thì lại là 16,1%. Mặc dù vậy, có một sự đồng thuận
chung là nguy cơ tái phát sớm thường ở mức cao và chính điều đó làm
gia tăng đáng kể tỉ lệ tử vong, tàn tật và chi phí điều trị đối với đột quỵ.
4.1.1.3. Tại thời điểm 6 tháng
Trong nghiên cứu này, tỉ suất tái phát tích lũy tại thời điểm 6 tháng
là 16,1%, cao hơn so với một số tác giả khác. Theo Feng thì con số
này chỉ ở mức khoảng 5,0%. Hơn nữa, trong nghiên cứu của Hankey,
mặc dù nguy cơ tái phát tích lũy trong 6 tháng đầu tiên là cao nhất
nhưng cũng chỉ ở mức 8,8%. Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi cao
tương đương với kết quả của Wang ở Trung Quốc (16%) và thậm chí
còn thấp hơn so với Vũ Anh Nhị (20,54%). Qua đây ta thấy có sự tăng
dần đều nguy cơ tái phát đột quỵ theo thời gian. Do đó, việc dự phòng
tái phát cần phải được duy trì lâu dài và liên tục.
4.1.1.4. Tại thời điểm 1 năm
Đây là thời điểm quan trọng nhất mà chúng tôi muốn khảo sát bởi
hầu hết các trường hợp tái phát đều thường xảy ra trong năm đầu tiên.
Trong nghiên cứu này, tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại thời điểm 1
năm là 23,3%, cao hơn so với các nghiên cứu khác. Nhìn chung, tỉ suất
tái phát đột quỵ tại thời điểm quan trọng này thường là 10% - 14%.
Điển hình, theo Burn, giá trị này tại thời điểm 1 năm là cao nhất (13%),
15
gấp 15 lần so với dân số chung. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại
cho kết quả gần bằng với chúng tôi. Chẳng hạn, theo Wang và cs, tỉ suất
tái phát tích lũy tại thời điểm 1 năm lên tới 17,7%. Kết quả tương tự
cũng có trong nghiên cứu của Viitanen và cs (14 ± 4%). Tại Việt Nam,
hầu như chưa có nghiên cứu nào báo cáo tỉ suất tái phát tích lũy tại thời
phân tích đơn biến: nhóm BN ≥ 65 tuổi có nguy cơ tái phát cao hơn so
với nhóm BN còn lại. Trên thực tế, có rất nhiều tác giả đề cập đến yếu
tố này với những ý kiến trái chiều nhau. Ví dụ, theo Hier và một số tác
giả thì tuổi không có liên quan với nguy cơ tái phát trong khi theo
Kuwashiro và một số tác giả khác thì tuổi là một yếu tố dự báo nguy
cơ tái phát đột quỵ độc lập. Theo Howard, sự ảnh hưởng của tuổi lên
nguy cơ đột quỵ tái phát vẫn yếu hơn so với đột quỵ lần đầu. Mặc dù
vậy, chúng ta cần phải chú ý hơn khi tuổi thọ ngày càng tăng dần.
4.2.2. Trình độ học vấn
Kết quả cho thấy nguy cơ tái phát ở nhóm BN có trình độ học vấn
thấp (từ tiểu học trở xuống) cao hơn khoảng 2 lần so với nhóm còn lại.
Điều này cũng có trong một số nghiên cứu khác. Theo Langagergaard,
so với nhóm BN đột quỵ có học vấn cao, nguy cơ tái nhập viện sau 1
năm ở nhóm BN có học vấn thấp là cao hơn (HR = 1,15; KTC 95%:
1,05 - 1,26). Trên thực tế, trình độ học vấn thấp thường ảnh hưởng đến
nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả sự hiểu biết của BN về đột quỵ.
Theo Cahill, trình độ học vấn thấp có liên quan độc lập với việc dùng
thuốc dự phòng tái phát không phù hợp. Điều đó góp phần cho thấy vai
trò quan trọng của yếu tố này đối với nguy cơ tái phát. Tuy nhiên, trên
thực tế nó ít được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây.
4.2.3. Tiền sử đột quỵ/cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA)
Trong nghiên cứu này, tiền sử đột quỵ/TIA có liên quan độc lập
với sự gia tăng nguy cơ tái phát. Trong đó, số lần bị đột quỵ/TIA
trong tiền sử càng nhiều thì nguy cơ tái phát càng cao. Theo y văn,
một số tác giả cũng có báo cáo tương tự như Kamouchi, Carroll, Alter
17
(theo dõi 1 năm). Bên cạnh thời điểm 1 năm, yếu tố này còn có ý nghĩa
dự báo nguy cơ tái phát tại các thời điểm sớm hoặc muộn hơn. Điều đó
đã được chứng minh bởi rất nhiều tác giả khác như Ay, Elneihoum,
với nguy cơ tái phát đột quỵ. Điều tương tự cũng đã được chỉ ra bởi
các tác giả khác như Alter, Xu,…Tuy nhiên, những nghiên cứu có thời
gian theo dõi dài hơn, đặc biệt là ở BN NMN lỗ khuyết lại cho kết luận
trái ngược như nghiên cứu của Petty, Hillen, Putaala, Theo các
khuyến cáo về dự phòng tái phát, BN đột quỵ TMNCB/TIA có ĐTĐ
vẫn nên được điều trị tích cực với mức HbA
1
c mục tiêu là < 7%.
4.2.6. Rung nhĩ
Trong nghiên cứu này, rung nhĩ có liên quan mạnh và độc lập với
sự gia tăng nguy cơ tái phát đột quỵ, nhất là ở những BN không dùng
kháng đông. Kết quả thực sự quan trọng này phù hợp với nhiều nghiên
cứu khác. Điển hình, theo Sage và Van Uitert, nguy cơ tái phát ở
những bệnh nhân NMN có rung nhĩ và không dùng thuốc kháng đông
là rất cao, lên đến 20% mỗi năm. Hơn nữa, theo Penado, rung nhĩ có ý
nghĩa dự báo độc lập đối với nguy cơ tái phát ở tất cả các nhóm tuổi.
Trong đó, nguy cơ cao nhất thuộc về nhóm BN rung nhĩ nhưng không
dùng kháng đông. Ngoài ra, còn có rất nhiều dẫn chứng khác góp phần
chứng minh sự ảnh hưởng của rung nhĩ đối với cả nguy cơ tái phát
sớm lẫn nguy cơ tái phát muộn. Điều này trở nên quan trọng hơn khi
rung nhĩ ngày càng phổ biến trên khắp thế giới. Rõ ràng, những bằng
chứng quan trọng kể trên là nền tảng cho các khuyến cáo về dự phòng
tái phát đối với BN đột quỵ TMNCB/TIA có rung nhĩ đi kèm mà
kháng đông đường uống là thuốc được lựa chọn đầu tay.
4.2.7. Hẹp động mạch cảnh
Trong nghiên cứu này, hẹp ĐM cảnh ≥ 70% có liên quan độc lập và
mạnh với sự gia tăng nguy cơ tái phát tại các thời điểm theo dõi. Kết quả
19
tương tự cũng có trong một số nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau
4.2.9. Nguyên nhân đột quỵ TMNCB theo phân loại TOAST
Trong nghiên cứu này, so với nhóm bệnh mạch máu nhỏ, nguy cơ
tái phát của nhóm lấp mạch từ tim là cao nhất, kế đến là nhóm XVĐM
lớn. Điều này phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu khác.
4.2.9.1. Vai trò của phân nhóm lấp mạch từ tim
Theo Soda, nhóm lấp mạch từ tim có tỉ suất tái phát cao nhất
(14,4%) trong khi nhóm bệnh mạch máu nhỏ là thấp nhất (6,2%) qua
nghiên cứu trên những BN NMN người Nhật Bản (theo dõi 1 năm).
Kết quả tương tự cũng được chứng minh bởi một số tác giả khác như
Hata, Toni và Yamanouchi. Ngoài ra, phân nhóm này còn dự báo nguy
cơ tái phát sớm hơn (90 ngày) qua các nghiên cứu của Goldstein và
Wang. Như vậy, đột quỵ lấp mạch từ tim có nguy cơ tái phát rất cao,
bao gồm cả tái phát sớm và tái phát muộn. Do đó, trong thực hành lâm
sàng hằng ngày, người thầy thuốc cần phải hết sức chú ý nhóm BN này
để có thể chỉ định điều trị dự phòng đúng và kịp thời.
4.2.9.2. Vai trò của phân nhóm xơ vữa động mạch lớn
Cùng với lấp mạch từ tim, phân nhóm XVĐM lớn cũng có vai trò
dự báo nguy cơ tái phát đột quỵ qua nhiều nghiên cứu, nhất là nguy cơ
tái phát sớm. Điển hình, theo Petty và cs, tỉ suất tái phát tại thời điểm
30 ngày ở phân nhóm đột quỵ TMNCB do XVĐM lớn là cao nhất
(18,5%). Mặt khác, một phân tích tổng hợp của Lovett cho thấy khi so
với các phân nhóm khác, nguy cơ tái phát ở phân nhóm này là cao nhất
tại các thời điểm 30 ngày và 3 tháng (p < 0,001). Ngoài ra, phân nhóm
XVĐM lớn cũng có ý nghĩa dự báo nguy cơ tái phát muộn qua các
nghiên cứu của Ryglewicz và một số tác giả khác.
Tóm lại, BN thuộc hai phân nhóm lấp mạch từ tim và XVĐM lớn
đều có nguy cơ tái phát đột quỵ cao. Vì vậy, trên lâm sàng việc xác
định nhóm nguyên nhân của đột quỵ TMNCB là cần thiết.
21