MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1. Phương pháp dạy học tích hợp và hình thức lồng ghép
trong dạy học Vật lí.
3
1.1. Khái niệm về dạy học tích hợp. 3
1.2. Các mục tiêu của dạy học tích hợp. 4
1.3. Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp. 4
1.4. Hình thức lồng ghép trong dạy học tích hợp. 7
1.5. Hoạt động của giáo viên trong dạy học tích hợp lồng ghép. 7
Chương 2. Xây dựng và giải thích một số hiện tượng Điện và Từ bằng
phương pháp tích hợp lồng ghép trong chương trình Vật lí lớp 11 ban
cơ bản.
8
2.1. Một số địa chỉ và nội dung tích hợp. 8
2.2. Vận dụng phương pháp DHTH dưới hình thức lồng ghép vào giáo
án - tiết 13 "Điện năng. Công suất điện".
12
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 15
3.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm 15
3.2. Về kết quả kiểm tra đánh giá thực nghiệm sư phạm 15
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm. 15
KẾT LUẬN 16
1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Vật lí học không phải chỉ là các phương trình và con số. Vật lí học là những
điều đang xảy ra trong thế giới xung quanh ta. Nó nói về các hiện tượng cơ, điện,
quang xảy ra trong cuộc sống. Việc học môn Vật lí không chỉ dừng lại ở sự tìm
cách vận dụng các công thức Vật lí để giải cho xong các phương trình và đi đến
- Tìm hiểu một số hiện tượng Điện và Từ có liên quan đến các tiết học trong
chương trình Vật lí 11 ban cơ bản.
3
- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy học đã thiết kế.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phương pháp DHTH và hình thức lồng
ghép.
- Nghiên cứu về các hiện tượng Điện và Từ trong chương trinh sách giáo
khoa và các tài liệu tham khảo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm.
- Xây dựng các hiện tượng Điện và Từ vào các tiết dạy cụ thể trong chương
trình Vật li 11 ban cơ bản.
- Thực nghiệm sư phạm ở 2 lớp 11 thuộc trường PT Nguyễn Mộng Tuân,
Huyện Đông Sơn, Tỉnh Thanh Hoá.
- Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thuật toán thống kê.
6. CẤU TRÚC SKKN
PHẦN I: MỞ ĐẦU.
Chương 1. Phương pháp dạy học tích hợp và hình thức lồng ghép trong dạy
học Vật lí
Chương 2. Xây dựng và giải thích một số hiện tượng Điện và Từ bằng
phương pháp tích hợp lồng ghép trong chương trình Vật lí lớp 11 ban cơ bản.
4
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
PHẦN II. KẾT LUẬN.
CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ HÌNH THỨC
LỒNG GHÉP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ.
1.1. Khái niệm về dạy học tích hợp.
Quá trình DHTH được hiểu là một quá trình dạy học trong đó toàn thể các
hoạt động học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự
trọng đối với quá trình học tập của HS và dành thời gian cũng như các giải pháp
hợp lý cho chúng.
- Dạy HS sử dụng kiến thức trong hoàn cảnh cụ thể. Thể hiện ở việc:
6
+ Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã học;
+ Tạo các tình huống học tập để HS vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự
lực.
Theo yêu cầu này thì DHTH không chỉ quan tâm đánh giá việc HS hiểu
những kiến thức đã học. mà còn đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong các
tình huống có ý nghĩa. Hình thành và rèn luyện những kỹ năng đa thành phần trong
cuộc sống và học tập.
1.3. Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp.
Có thể nêu lên một số lý do của việc thực hiện DHTH ở trường phổ thông
như sau:
- DHTH góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của Nhà trường phổ
thông.
- Vận dụng DHTH là một yêu cầu tất yếu của việc thực hiện nhiệm vụ dạy học ở
nhà trường phổ thông. Như Luật giáo dục (2005) đã nêu: “ Mục tiêu giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triền toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Việc có nhiều môn học đã được đưa vào
Nhà trường phổ thông hiện nay là sự thể hiện quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục
7
toàn diện. Các môn học đó phải liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu giáo
dục nêu trên.
- Mặt khác, hiện nay các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của loài người
phát triển như vũ bão, trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên
ghế nhà trường là có hạn, thì không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà
liên ngành (như sinh thái học, tự động hoá…). Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà
trường là phải làm sao cho tri thức của HS xác thực và toàn diện. Quá trình dạy học
phải làm sao liên kết, tổng hợp hoá các tri thức, đồng thời thay thế “ tư duy cơ giới
cổ điển” bằng “ tư duy hệ thống”. Theo Xavier Rogiers, nếu nhà trường chỉ quan
tâm dạy cho HS các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các
“Suy luận theo kiểu khép kín”, sẽ hình thành những con người “ mù chức năng”,
9
nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các
kiến thức đó hàng ngày.
- Góp phần giảm tải học tập cho HS.
Từ góc độ giáo dục, DHTH giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng
tượng khoa học và năng lực tư duy của HS, vì nó luôn tạo ra các tình huống để HS
vận dụng kiến thức trong các tình huống gần với cuộc sống. Nó cũng làm giảm sự
trùng lặp các nội dung dạy học giữa các môn học, góp phần giảm tải nội dung học
tập. Nhân đây cũng nên nhìn nhận sự giảm tải ở một góc độ khác, nghĩa là giảm
tải không chỉ gắn với việc giảm thiểu kiến thức môn học, hoặc thêm thời lượng
cho việc dạy học một nội dung kiến thức theo quy định. Phát triển hứng thú học
tập cũng có thể được xem như một biện pháp giảm tải tâm lý học tập có hiệu quả
và rất có ý nghĩa. Làm cho HS thấu hiểu ý nghĩa của các kiến thức cần tiếp thu,
bằng cách tích hợp một cách hợp lý và có ý nghĩa các nội dung gần với cuộc sống
vào môn học, từ đó tạo sự xúc cảm nhận thức cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vượt
qua các khó khăn nhận thức và việc học tập khi đó mới trở thành niềm vui và
hứng thú của HS.
1.4. Hình thức lồng ghép trong dạy học tích hợp.
Hình thức lồng ghép trong DHTH được thực hiện khi hầu hết các kiến thức
của môn học, hoặc nội dung của một bài học cụ thể cũng chính là các kiến thức về
Điện hoặc Từ.
10
1.5. Hoạt động của giáo viên trong dạy học tích hợp lồng ghép.
Hoạt động 1: Nghiên cứu chương trình, SGK để xây dựng mục tiêu dạy học,
điện tích.
Mục
I.2.Thuyết
electron.
MụcII.2.Sự
nhiễm điện
do tiếp
xúc.
Vì sao
trong
xưởng dệt
vải người ta
phải làm
cho không
khí có độ
ẩm cao?
Vì sao xe
chở xăng
Khi máy dệt hoạt động, do ma sát, các sợi
vải có thể bị nhiễm điện, do đó các sợi vải
có thể bị rối với nhau. Người ta phải làm
cho không khí trong xưởng có độ ẩm cao
để các điện tích xuất hiện trên các sợi vải
nhanh chóng mất đi.
Cái xích lòng thòng xuống đất của những
xe chở nhiên liệu có tác dụng bảo hiểm cho
xe trong khi chuyển động.Bụi trong không
khí thường tích điện, nếu bụi bám đầy vào
thùng xăng của xe thì điện tích tập trung
12
điện phân rất mỏng. Khi pin bị đánh rơi có
thể vỏ kẽm của nó (cực âm) đã móp lại và
chạm vào cực dương (túi đựng chất khử
cực và thỏi than). Thành thử pin bị đoản
mạch, cường độ dòng điện lớn làm nóng
pin và tiêu hao rất nhanh năng lượng của
pin.
Bài 8:
Điện
năng.
Công
suất
điện
Muc
II.1.Định
luật Jun -
Len-xơ.
-Vì sao dây
bếp điện
mắc trong
mạch điện
bị nóng đỏ,
trong khi đó
dây dẫn
Các dây dẫn và bếp điện được mắc nối tiếp
trong mạch điện nên cường độ dòng điện
qua các dây dẫn là như nhau. Nhưng điện
trở của bếp điện lớn hơn điện trở của các
dây nối,nhiệt lượng tỏa ra ở bếp điện lớn
hơn; mặt khác, dây điện bị cuốn xoắn ốc,
máy. Khi đứt cầu chì ấy ta phải thay cầu
chì với chỉ số đúng như thế.
Bài 14:
Dòng
điện
trong
chất
điện
phân.
Mục II.Bản
chất dòng
điện trong
chất điện
phân.
Vì sao xà
phòng có
thể tẩy sạch
các vết dầu
mỡ trên
quần áo?
Xà phòng là một loại muối của axít béo.
Như ta đã biết, các chất muối đều là chất
điện phân, nghĩa là khi hoà tan trong nước
các phân tử xà phòng bị phân lì thành các
iôn. Xà phòng thường dùng là natri stêarat
(C17 H35 COONa). Khi tan vào nước nó
bị phân li thành những iôn stêarat âm
( catiôn). Iôn stêrat có khả năng “Chui” vào
các giọt dầu bám chặt trên quần áo làm cho
chúng có điện tích âm và có xu hướng đẩy
bị mẩt rất nhiều điện tích nên khó có thể
gây ra sét được. Đó là lý do vì sao phải làm
đin hr cột thu lôi nhọn.r
Bài 19.
Từ
trường.
Mục I.
Nam châm.
Một thanh
nam châm
và một
thanh sắt có
kích thước
Đưa thanh nam cham lại gàn thanh sắt,m
thanh sắt bị hút. Nhưng nếu đưa thanh sắt
lại gần thanh nam châm thì thanh nam
châm cungx bị hút. Như vậy làm thế nào
phân biệt được thanh nào là nam châm,
16
giống nhau,
làm thế nào
để phân biệt
được chúng
nếu không
có một vật
thứ ba làm
trung gian?
thanh nào là sắt?
Ta có thể phân bệt bằng cách sau: đưa đầu
cực của một trong hai thanh vào chính giữa
đất hay dướ
Để tìm vị trí đường dây ngầm có thể dùng
một la bàn hay một kim nam châm đặt trên
một trục thẳng đứng. Ở những vị trí xa
dòng điện, kim la bàn trỏ phương bắc- nam
như bình thường. Khi la bàn đặt đến gần
dòng điện thì kim lệch đi một góc, càng
gần dòng điện góc lệch càng lớn. Như vậy
17
trong
các dây
dẫn có
hình
dạng
đặc biệt.
sàn xi
măng?
ở những vị trí mà kim la bàn lệch một góc
lớn nhất thì ở dưới đó có dây dẫn đặt
ngầm. Tất nhiên khi tiến hành cuộc “Thăm
dò” như vậy ta phải đóng mạch điện để
trong dây dẫn có dòng điện.
2.2. Vận dụng phương pháp DHTH dưới hình thức lồng ghép vào giáo án -
tiết 13 "Điện năng. Công suất điện".
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Nêu được công của dòng điện là số đo điện năng mà đoạn mạch tiêu thụ khi có
dòng điện chạy qua. Chỉ ra được lực nào thực hiện công ấy.
2. Kĩ năng
- Tính được điện năng tiêu thụ và công suất điện của một đoạn mạch theo các đại
Ghi nhận khái niệm.
I. Điện năng tiêu thụ và
công suất điện
1. Điện năng tiêu thụ của
đoạn mạch
A = Uq = UIt
Điện năng tiêu thụ của một
đoạn mạch bằng tích của
hiệu điện thế giữa hai đầu
đoạn mạch với cường độ
dòng điện và thời gian dòng
19
Giới thiệu công suất
điện.
Yêu cầu học sinh thực
hiện C4.
Thực hiện C4. điện chạy qua đoạn mạch
đó.
2. Công suất điện
Công suất điện của một
đoạn mạch bằng tích của
hiệu điện thế giữa hai đầu
đoạn mạch và cường độ
dòng điện chạy qua đoạn
mạch đó.
P =
t
A
= UI
Suy nghĩ trả lời.
Ghi nhận khái niệm.
Thực hiện C5.
phương cường độ dòng điện
và với thời gian dòng điện
chạy qua vật dẫn đó
Q = RI
2
t
2. Công suất toả nhiệt của
vật dẫn khi có dòng điện
chạy qua
Công suất toả nhiệt ở vật
dẫn khi có dòng điện chạy
qua được xác định bằng
nhiệt lượng toả ra ở vật dẫn
đó trong một đơn vị thời
21
gian.
P =
t
Q
= UI
2
Hoạt động 4 (5 phút) : Củng cố, giao nhiệm vụ về nhà.
Trợ giúp của giáo viên Hoạt động của học sinh
Cho học sinh tóm tắt những kiến thức
cơ bản đã học trong bài.
Yêu cầu học sinh về nhà làm các bài
tập 5 đén 10 trang 49 sgk và 8.3, 8.5,
Bảng kết quả thực nghiệm
Lớp Sĩ số
Số học sinh đạt điểm x
i
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN
45 0 0 1 4 10 7 12 7 4 0
100% 0% 0% 2.2% 9% 22.2% 15,5% 26,6% 15,5% 9% 0%
ĐC
45 0 2 5 10 13 8 4 2 1 0
100% 0% 4,5% 11% 22,2% 28,9% 17.7% 9% 4,5% 2,2.% 0%
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm
Dựa vào số liệu tính toán ở trên tôi rút ra được những nhận xét sau đây:
- Tỉ lệ học sinh kiểm tra đạt loại trung bình và yếu của lớp TN giảm đáng kể
so với lớp ĐC. Ngược lại số học sinh đạt loại khá, giỏi của lớp TN cao hơn lớp ĐC.
23
Như vậy, về mặt vận dụng kiến thức và giải thích các hiện tượng của học
sinh lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng.
- Từ việc phân tích số liệu thực nghiệm tôi đi đến kết luận:
+ Giả thiết nêu trên đã được kiểm chứng là đúng đã kiểm nghiệm thông
qua thực nghiệm
+ Việc tổ chức dạy học theo tiến trình đề xuất đã đem lại hiệu quả trong
việc nâng cao kiến thức cho học sinh. Nếu được áp dụng phương pháp DHTH vào
trong quá trình dạy học Vật lí ở các trường phổ thông hiện nay chắc chắn sẽ góp
phần phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, nhằm nâng cao chất lượng dạy học
trong nhà trường.
KẾT LUẬN
Dựa vào kết quả quá trình nghiên cứu, kết quả thực nghiệm sư phạm, đối chiếu
với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi đã đạt được những kết quả sau:
1. Về mặt lý luận: - Đưa ra được phương pháp DHTH dưới hình thức lồng