1
Đặt vấn đề
Xuất huyết tiêu hoá do loét hành tá tràng là một biến chứng thường gặp
trong thực hành cấp cứu nội ngoại khoa. Mặc dù trong những thập kỷ gần
đây, tỷ lệ mắc mới loét hành tá tràng trên thế giới có xu hướng giảm, nhưng
biến chứng xuất huyết do loét dạ dày hành tá tràng vẫn chiếm tỷ lệ 20-30%.
Tỷ lệ tử vong tính chung cho xuất huyết do loét dạ dày tá tràng là 6-7%, nghĩa
là hầu nh- không giảm trong vòng 30 năm qua [6,12,16,38].
Nội soi cầm máu ổ loét dạ dày tá tràng đã được chứng minh là một biện
pháp hiệu quả làm giảm tỷ lệ tái xuất huyết cũng nh- làm giảm phẫu thuật
cầm máu và tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên sau nội soi cầm máu thành công vẫn còn
khoảng 15% đến 20% bệnh nhân xuất huyết chảy máu tái phát [6,12,16,38].
Các nghiên cứu đã cho thấy pH đóng vai trò quan trọng trong quá trình
cầm máu tại ổ loét xuất huyết. Do acid dịch vị ức chế quá trình ngưng tập tiểu
cầu và tăng ly giải fibrin tại ổ loét. Vì vậy, việc nâng và duy trì pH dịch vị > 6
là điều kiện cần để ổn định cục máu đông ở đáy ổ loét, làm giảm nguy cơ tái
xuất huyết [22,24,27,33,34]. Đó chính là cơ sở để phối hợp sử dụng thuốc ức
chế bài tiết axít sau can thiệp cầm máu qua nội soi trong điều trị các trường
hợp chảy máu do loét hành tá tràng.
Theo các nghiên cứu sử dụng thuốc ức chế bài tiết acid loại kháng H
2
liều cao đường tĩnh mạch điều trị xuất huyết tiêu hoá do loét dạ dày hành tá
tràng cho thấy: kháng H
2
không có hiệu quả lâm sàng trong điều trị xuất
huyết do loét hành tá tràng, còn đối với xuất huyết do loét dạ dày kháng H
2
Đại học Y Hà Nội nhằm hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét kết quả cầm máu bằng tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với
Nexium liều cao ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá do loét hành tá tràng
ở thời điểm 72 giê và sau 30 ngày.
2. Nhận xét tác dụng phụ của phương pháp điều trị dùng Nexium liều cao 3 Chương 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Dịch tễ học xuất huyết tiêu hoá do loét hành tá tràng.
Xuất huyết tiêu hoá là một trong những biến chứng nặng của loét hành tá
tràng. Ở Mỹ hàng năm, có khoảng 300.000 trường hợp chảy máu do loét dạ
dày tá tràng phải nhập viện điều trị, tỷ lệ tử vong vẫn còn ở mức 6-7%
[6,12,16,38].
Nghiên cứu của E.M.Vereeburg (1997) tại Hà Lan cho thấy tỷ lệ bệnh
nhân loét hành tá tràng chảy máu là 45/100.000 dân. Nghiên cứu của
M.Ahmed (1997) ở Ả rập Xêút tỷ lệ này là 31/100.000 dân
[15,64].
Ở Việt Nam theo thống kê của Nguyễn Khánh Trạch tỷ lệ xuất huyết tiêu
hoá do loét dạ dày tá tràng trên tỷ lệ chảy máu tiêu hoá chung là 34,56%, theo
Tạ Long là 32,2%, theo Hà Văn Quyết là 52% [5,11,10].
1.2. Nguyên nhân, bệnh sinh, yếu tố nguy cơ xuất huyết tiêu hoá do loét
hành tá tràng
1.2.1. Nguyên nhân và bệnh sinh của loét hành tá tràng.
Ngày nay các nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều hơn về bệnh sinh của loét
dạ dày tá tràng. Cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày tá tràng là sự mất cân bằng
kinh X lên việc bài tiết acid có liên quan chặt chẽ với nhau. Tác động của acid
lên niêm mạc dạ dày theo cơ chế khuếch tán ngược ion H
+
. Đó là hiện tượng
khuếch tán thụ động do sự chênh lệch quá cao giữa nồng độ ion H
+
ở
lòng dạ
dày và
nồng độ ion H
+
ở
dưới lớp nhầy. Thông thường lớp nhầy chỉ đủ sức cản
khoảng 70-80% acid. Sự khuếch tán ngược càng lớn nếu nồng độ ion H
+
trong
lòng
dạ dày càng cao. Đó là yếu tố tấn công chính gây phá huỷ niêm mạc dạ
dày. Ở nồng độ pH < 4, acid chlorhydric sẽ chuyển pepsinogen thành pepsin.
Nồng độ acid càng cao, pepsin hoạt động càng mạnh, nó cùng với acid gây
nên sự phá huỷ niêm mạc dạ dày.
Vai trò của pepsin với loét: các tế bào chính ở vùng thân vị không bài tiết
ngay ra pepsin mà bài tiết ra pepsinogen. Pepsinogen bản chất là một protein và
là tiền chất của pepsin ở dạng không hoạt động có trọng lượng phân tử 42.500
kDa. Trọng lượng phân tử của pepsin sau khi đã hoạt hoá là 35.000 kDa.
Pepsinogen được phân ra làm 2 nhóm: Pepsinogen I hay A (pepsinogen từ 1-5),
niêm mạc đường tiêu hoá. Thuốc chống viêm không steroid với mức độ khác
nhau ức chế cyclo-oxygenase (COX) làm giảm tổng hợp Prostagladin, tạo
điều kiện cho acid chlorhydric và pepsin của dịch vị gây tổn thương cho niêm
mạc khi hàng rào bảo vệ bị suy yếu.
- Ngoài ra các chống viêm không steroid còn tác động trực tiếp huỷ hoại
các tế bào biểu mô tiêu hoá do phần lớn chúng đÒu là những acid. Các thuốc
này ức chế sự phân chia của tế bào biểu mô đường tiêu hoá làm thay đổi lưu
lượng máu tới các cơ quan tiêu hoá, làm giảm thiểu các chất cung cấp năng
lượng trong các tế bào niêm mạc và hoạt hoá men 5-lipoxygenase làm tăng các
Leucotrien là chất gây huỷ hoại tế bào biểu mô của hệ tiêu hoá, gây thủng ổ loét.
1.2.4. Vai trò của Helicobacter Pylori 6
H.P được tìm thấy ở 95-100% bệnh nhân loét hành tá tràng, ở 60-80%
bệnh nhân loét dạ dày. Ngay cả khi loét hành tá tràng đã liền sẹo, H.P vẫn còn
tìm thấy trong 63%. Tuy nhiên tỷ lệ mới mắc loét hành tá tràng chỉ chiếm 1%
trong những trường hợp nhiễm H.P, và chỉ 10-15% cá thể nhiễm H.P xuất
hiện loét hành tá tràng trong một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ [3,6,12,
17].
Do đó, tuy H.P là nguyên nhân chính nhưng vẫn còn có các yếu tố bệnh
sinh khác đóng vai trò hoặc độc lập hoặc liên kết H.P gây loét hành tá tràng.
Với ổ loét chảy máu, H.P là một yếu tố “hỗ trợ” quan trọng cho những tác
nhân tấn công vào ổ loét gây chảy máu.
1.2.5.Vai trò của các yếu tố nguy cơ trong loét tá tràng
Vai trò của yếu tố di truyền: loét tá tràng xảy ra cao gấp 3 lần ở những
người trong gia đình có người bị loét (cha mẹ, con cái). Nhóm máu O có tần suất
loét tá tràng cao hơn, khoảng 67,56% theo Hoàng Gia Lợi. Tác giả này không
gặp những trường hợp nào có nhóm máu AB trong loét DD-TT. Theo Sobhani
biểu hiện của kháng nguyên Lewis còn có liên quan đến sự kết dính của H.P trên
hơn mùa xuân hè[3,14]. Nghiên cứu của H.J.Lin trên 10.331 bệnh nhân loét
dạ dày tá tràng trong 7 năm tại Đài Loan có 2951 bệnh nhân chảy máu do loét
dạ dày tá tràng thì 63% là vào mùa lạnh từ tháng10 đến tháng 3 [53].
1.2.6. Cơ chế bệnh sinh chảy máu do loét tá tràng
Về nguyên nhân dẫn đến làm gián đoạn và suy yếu hàng rào bảo vệ
niêm mạc bao gồm tác động của acid-pepsin, việc sử dụng thuốc chống viêm
không steroid, aspirin và hoặc là H.P. Kết quả là mô bị thiếu máu và có thể là
điều kiện đầu tiên đưa đến sự khuếch tán ngược của ion H
+
và làm tăng tính
thấm qua màng tế bào. Sù suy yếu của hàng rào bảo vệ niêm mạc xuất phát từ
tình trạng axít hoá bên trong màng tế bào và sự huỷ hoại của tế bào.
Helicobacter pylori
NSAIDs Bệnh lý nguy kịch Loét
Gián đoạn hàng rào
bảo vệ niêm mạc
Acid 8 Chảy máu
Sơ đồ 1.1: Các yếu tố nguy cơ trong chảy máu do loét dạ dày tá tràng
(Peterson 1995)
1.3. Chẩn đoán chảy máu tiêu hoá do loét hành tá tràng
1.3.1. Các triệu chứng lâm sàng:
1.3.1.1. Nôn máu:
Là lý do khiến bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu. Số lượng chất nôn,
màu sắc chất nôn có thể giúp thầy thuốc hướng tới chẩn đoán nguyên nhân và
tiên lượng bệnh. Tuỳ theo vị trí chảy máu mà tính chất của chất nôn khác
nhau. Chảy máu hành tá tràng thường bệnh nhân nôn ra máu cục nhỏ hoặc
không nôn ra máu. Tuy nhiên, tuỳ mức độ chảy máu mà có triệu chứng khác
nhau, có trường hợp loét hành tá tràng bệnh nhân lại nôn ra máu đỏ tươi.
Trong thực tế có sự tương xứng giữa lượng máu nôn ra và mức độ mất máu.
Theo R.Dudnick (1991), nôn ra máu đặc biệt máu đỏ tươi trong chảy máu tiêu
hoá do loét dạ dày tá tràng được coi là một trong những chỉ số nguy cơ liên
quan tới chảy máu tái phát [30].
1.3.1.2. Đi ngoài phân đen:
Số lượng phân, số lần đi ngoài, hình thái phân nhão hoặc có khuôn, màu
sắc phân từ nâu, đen như nhựa đường hoặc nâu đỏ tuỳ thuộc vào mức độ chảy
máu. Theo J.Kurt (1996) khi mất 60 ml máu trở lên phân bắt đầu có màu đen [45].
Khi máu chảy số lượng nhiều phân có màu đen bóng, nhão, khắm. Khi máu chảy
ồ ạt từ ổ loét dạ dày tá tràng, phân có thể ngả sang màu đỏ. Khi máu ngừng chảy,
phân số lượng Ýt đi, thành khuôn và màu sắc dần trở về màu vàng. Phân vàng là
một tiêu chuẩn lâm sàng khẳng định chắc chắn máu đã ngừng chảy [18, 45].
1.3.1.3. Sốc:
Khi mất máu dưới 500 ml, biểu hiện lâm sàng chưa rõ, ngoại trừ bệnh
nhân đã có thiếu máu sẵn. Huyết áp tối đa tư thế nằm giảm xuống 10 mmHg
so với bình thường, lượng máu mất khoảng 20% thì lúc này bệnh nhân có
biểu hiện da xanh, nôn nao, vã mồ hôi, khát nước. Khi lượng máu mất > 40%
bệnh nhân có biểu hiện sốc. Biểu hiện toàn thân đầu tiên của sốc mà thầy
thuốc có thể cảm nhận được khi mới tiếp xúc với bệnh nhân là: tình trạng mệt
lả, lú lẫn, thờ ơ với ngoại cảnh, vã mồ hôi, da lạnh Èm. Kèm theo các biểu
Thực tế thì mạch, huyết áp có giá trị tốt hơn trong theo dõi chảy máu tiếp diễn.
1.3.2.2. Theo dõi tại bệnh phòng:
Khai thác kỹ tiền sử, bệnh sử và khám phát hiện triệu chứng có ở bệnh
nhân cho phép chẩn đoán một cách tương đối chính xác vị trí chảy máu. Nôn
ra máu, hầu như chắc chắn có nguồn gốc từ thực quản dạ dày, mặc dầu khái
huyết, chảy máu hầu họng cũng có thể nôn ra máu, nhưng nếu khai thác kỹ
bệnh sử cũng có thể chẩn đoán phân biệt được.
Việc khai thác kỹ các diễn biến của các cảm giác chủ quan, số lượng,
màu sắc tính chất của các chất thải cũng có thể cho phép thầy thuốc phần nào
tiên lượng được mức độ chảy máu.
1.3.3.Đánh giá qua nội soi
1.3.3.1. Hình ảnh của ổ loét chảy máu qua nội soi
Ổ loét đang chảy máu
- Máu phun thành tia do tổn thương các động mạch có đường
kính>1mm, hình ảnh này hay thấy ở mặt sau hành tá tràng (nơi có động mạch
vị tá tràng đi qua và phần đứng bờ cong nhỏ (vòng nối động mạch vành vị ).
- Máu đùn ra liên tục như mạch nước ngầm, thường là do tổn thương ở
những tĩnh mạch có đường kính >1,8mm. 12
- Máu chảy rỉ rả thành dòng thường là thương tổn các mạch máu nhỏ ở đáy ổ loét.
Ổ loét cầm máu tạm thời
- Ổ loét thấy rõ mạch máu ở đáy của ổ loét, cục máu đông trồi lên nh-
một cái gai (gai máu) một số tác giả gọi là hình ảnh miệng núi lửa.
- Trên bề mặt ổ loét một cục máu đông vồng lên màu đỏ (nếu mới cầm)
hoặc màu tím sẫm (đã cầm lâu). Máu đọng ở đáy ổ loét chảy máu nếu mới
cầm, máu đọng có màu đỏ và sẫm màu dần theo thời gian chảy máu .
20
50-60%
20-35%
0-8%
34
10
6
11
7
3
FIII. Không chảy máu
(đáy ổ loét sạch)
42
0-12%
0,5
2
*Forrest I: ổ loét đang chảy máu
+ Forrest Ia là chảy máu động mạch, máu phun thành tia. Đây là loại
chảy máu nặng, nguy cơ tử vong cao. Máu chảy phun thành tia qua nội soi là
một dấu hiệu dự báo về nguy cơ chảy máu tái phát với tỷ lệ cao. Do vậy phải 13
có biện pháp cầm máu khẩn cấp để cứu sống bệnh nhân, cũng như cần phải
theo dõi sát để đề phòng chảy máu tái phát.
+ Forrest Ib là chảy máu tĩnh mạch. Hình ảnh nội soi của loại này có haii
hình thái. Hình thái thứ nhất là máu đùn lên như mạch nước ngầm phủ kín ổ
loét. Đây là loại chảy máu nặng mà nội soi rất khó xác định rõ vị trí của mạch
máu tổn thương, do vậy tiên lượng điều trị cũng rất khó khăn, tỷ lệ tái phát cao.
Hình thái thứ hai là máu chảy thành dòng từ mép ổ loét hay từ viền niêm mạc
huyết tiêu hoá do loét dạ dày tá tràng trên 65 tuổi nguy cơ chảy máu tái phát
gấp 1,3 lần, trên 70 tuổi nguy cơ chảy máu tái phát gấp 2,3 lần [30].
1.3.4.2. Sốc:
Sốc lúc nhập viện có nguy cơ chảy máu tái phát cao gấp 8 lần bệnh
nhân không có sốc [22].
1.3.4.3. Nôn ra máu
Nôn ra máu đỏ tươi có nguy cơ chảy máu tái phát gấp 2 lần bệnh nhân
đi ngoài phân đen mà không có nôn máu [18, 30].
1.3.4.4. Tiền sử dùng thuốc chống viêm không steroid
80% bệnh nhân loét dạ dày hành tá tràng biến chứng chảy máu bị tử
vong có liên quan tới thuốc chống viêm không steroid [38].
1.3.4.5. Các bệnh mạn tính
Bệnh tim mạch, suy thận, xơ gan, đái đường, bệnh lý đông máu đều
làm tăng nguy cơ chảy máu tái phát [18]
1.3.4.6. Vị trí ổ loét:
Ổ loét mặt sau hành tá tràng nguy cơ tái phát 40% [14]
1.3.4.7. Kích thước ổ loét:
Ổ loét có đường kính >2cm nguy cơ chảy máu tái phát cao gấp 2-3 lần [31].
1.3.4.8. Mức độ chảy máu tái phát theo hình ảnh nội soi 15
Can thiệp cơ học:
Clip, endoloops
Biu 1.1 : T l chy mỏu tỏi phỏt theo hỡnh nh ni soi ( theo Laine v
Peterson 1994) [46]
1.4. Cỏc phng phỏp iu tr xut huyt tiờu hoỏ do loột d dy tỏ trng
Chy mỏu do loột d dy tỏ trng cú n 70-80% trng hp cú th t
cm. Tuy nhiờn nhng trng hp chy mỏu t cỏc mch mỏu ln rt khú t
di
n
g
Nonbleeding
visible
vessel
Active
bleeding
5
10
22
43
55
Forrest IIa
Forrest IIb
Forrest I
80%
60%
40%
20%
0 Forrest III
Can thiệp bằng
lần 2 trong vòng 24giờ, và nhờ đó sẽ giảm được tỷ lệ chảy máu tái phát, ngoài ra
còn giảm được giá thành điều trị cho bệnh nhân. Tuy vậy, điều trị cầm máu qua
nội soi lần 2 là phương pháp cũng cần được đánh giá thêm [16].
1.4.2.Điều trị ngoại khoa chảy máu do loét tá tràng
Trong 20 năm qua, điều trị cầm máu qua nội soi thành công đã làm
giảm có ý nghĩa chỉ định ngoại khoa chảy máu do loét dạ dày tá tràng. Chảy
máu tái phát sau điều trị nội soi từ 15-20% và trong số này có khoảng 10%
cần phải can thiệp phẫu thuật [12, 28, 38]
Chỉ định điều trị ngoại khoa được đặt ra trong các trường hợp: 17
- Chảy máu ồ ạt ở những bệnh nhân trên 60 tuổi và đường kính ổ loét
>2cm.
- Chảy máu tái phát hoặc chảy máu kéo dài, hoặc không cải thiện với
hồi sức nội khoa.
- Không thể tiến hành hoặc thất bại qua điều trị nội soi
-Các trường hợp chảy máu kèm theo biến chứng đặc biệt khác như
thủng hoặc hẹp môn vị.
1.4.3. Chụp động mạch can thiệp
Chụp động mạch can thiệp chỉ định trong những trờng hợp chảy máu nặng
tiếp diễn, có nhiều rủi ro phẫu thuật và sau điều trị nội soi thất bại. Tỷ lệ thành
công của phương pháp từ 75-80% trường hợp [12]. Trong trường hợp loét tá tràng
chảy máu ở mặt sau, có thể làm tắc động mạch vị tá tràng bằng Gelfoam, cục máu
đông tự thân, hoặc chất kết dính mô. Đây là một biện pháp kết hợp giữa hồi sức
tích cực và thủ thuật chụp động mạch, với trang bị hiện đại, đồng bộ. Do vậy chỉ
định phương pháp này rất hẹp. Chỉ định chủ yếu là những bệnh nhân già yếu, điều
trị nội soi thất bại và không có khả năng điều trị phẫu thuật.
1.4.4. Điều trị xuất huyết tiêu hoá do loét dạ dày tá tràng bằng nội khoa
Trong những thập kỷ gần đây xu hướng sử dụng thuốc kháng tiết điều
. Bài tiết dịch vị cơ bản theo
thời khắc, nhiều nhất về đêm, Ýt nhất buổi sáng do kích thích H
2
. Quá trình
bài tiết có 3 giai đoạn: giai đoạn não chiếm 1/5 lượng dịch vị cơ bản, giai
đoạn dạ dày chiếm 2/3 lượng dịch vị cơ bản, giai đoạn ruột chiếm Ýt. Lúc đói,
dạ dày vẫn tiết ra một lượng dịch tối thiểu, gọi là dịch vị cơ bản. Hai tác nhân
duy trì dịch vị cơ bản đó là Histamin do tế bào ECL thường xuyên tiết ra một
lượng tối thiểu và thần kinh phế vị luôn duy trì một trương lực thường trực.
Cơ chế bệnh sinh của loét hành tá tràng liên quan nhiều đến sự tăng tiết bất
thường của dịch vị cơ sở và dịch vị ban đêm
(c) Vai trò của bơm proton H
+
/K
+
ATPase
Bơm proton H
+
/K
+
ATPase có vài trò quyết định tạo H
+
trong lòng
kênh. Khả năng bài tiết HCl phụ thuộc hoạt động men. Bản chất của bơm là
mét protein gắn màng chứa hai tiểu đơn vị α và ò.Tác dụng của men nhờ tiểu
đơn vị α, vai trò của ò chưa rõ.
Men có hai vị trí gắn cùng với hai trạng thái: gắn với màng túi tiểu
đơn vị men ở trạng thái bất hoạt; gắn với tiểu đơn vị chế tiết bơm ở trạng
thái hoạt động. Khi tế bào viền ở trạng thái nghỉ 95% bơm ở trong túi tiểu
pH = 6.8
A
ADP
Biểu đồ 1.2: Ảnh hưởng của pH máu lên quá trình ngưng tập tiểu cầu
Theo tác giả này cả hai quá trình cầm máu nội sinh và ngoại sinh đều bị ảnh
hưởng bởi pH. pH ≥7 là pH lý tưởng cho hoạt động của cục máu đông và tiểu cầu.
Khi pH <5.9 thì quá trình ngưng tập tiểu cầu gần như hoàn toàn bị huỷ bỏ.
Theo Bestard [27, 51] acid là yếu tố “cần” có để hoạt hoá pepsinogen
thành pepsin. Cục máu đông nằm trên niêm mạc dạ dày cũng là đối tượng của
quá trình tiêu hoá bởi men pepsin. Pepsin hoạt động tốt nhất ở pH =1.6, bất
hoạt ở pH =4-6, và hoàn toàn mất khả năng hoạt động ở pH >6. 20
O.D. 280nm
pH
0.5
0.4
0.3
0.2
0.1
0 1 2 3 4
Gastric juice
Biểu đồ1.3 : Ảnh hưởng của pH lên hoạt động của pepsin
Còng theo Bestard nếu chỉ có HCl thì quá trình tiêu cục máu đông là không
đáng kể, nhưng dưới tác dụng của dịch vị thì sau 200 phút cục máu đông gần như
bị tiêu huỷ hoàn toàn. Tác giả này lý giải đó là do tác dụng tiêu protein của pepsin.
2
kÐm hiệu quả hơn ức chế bơm proton trong điều trị
chảy máu do loét hành tá tràng
Các nghiên cứu đã sử dụng kháng H
2
theo đường tĩnh mạch liên tục cho
thấy mức pH dịch vị đạt đựơc có biên độ dao động lớn, với giá trị trung bình
là pH=3,5. Ngay cả khi dùng liều cao ranitidine theo phác đồ 50mg tiêm tĩnh
mạch, duy trì 0.25mg/kg/giê cũng không kiểm soát được pH dịch vị hiệu quả
nh- truyền omeprazole theo đường tĩnh mạch. Nghiên cứu sử dụng cimetidine
theo phác đồ tiêm tĩnh mạch 300mg, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục
1200mg/24h còng cho kết quả tương tự nghiên cứu trên [29].
Sinh lý học quá trình cầm máu đòi hỏi pH >6. Rõ ràng mục tiêu này không
thể đạt được bằng các thuốc kháng H
2 .
Nguyên nhân do cơ chế tác dụng của
kháng H
2
là ức chế thụ thể histamin ở trên thành tế bào viền. Mà histamine
chỉ là một trong ba yếu tố kích thích bài tiết acid của tế bào viền (bao gồm
histamin, gastrin, acetylcholin). Khi ức chế các thụ thể H
2
thì tế bào viền vẫn
còn nhạy cảm với kích thích của gastrin và acetylcholine. Do đó kháng H
2
chỉ
kiểm soát được lượng dịch vị cơ bản (BAO). Điều đó cũng giải thích vì sao
dùng kháng H
2
vào buổi tối lại cải thiện triệu chứng lâm sàng rất tốt.
.
Theo phân tích tổng hợp của Collins và Langman (1985) từ 27 thử nghiêm
lâm sàng bao gồm trên 2500 bệnh nhân cho thấy điều trị chảy máu tiêu hoá do
loét dạ dày tá tràng bằng kháng H
2
có thể làm giảm tỷ lệ tái xuất huyết, tỷ lệ
phẫu thuật và tỷ lệ tử vong khoảng 10%, 20%, 30% so với nhóm chứng [29].
Tuy nhiên kết quả thu được cho thấy tỷ lệ tử vong và tỷ lệ phẫu thuật ở nhóm
dùng kháng H
2
giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng placebo, còn tỷ lệ
tái xuất huyết không có sự khác biệt giữa hai nhóm.
Ngµy 1
Ngµy 3
Ngµy 1
Ngµy 3
Ngµy 1
Ngµy 3 23
Nghiên cứu của Selby và cs (2000) phân tích 21 nghiên cứu gồm 3566
bệnh nhân cho thấy tỷ lệ tái xuất huyết và tỷ lệ phẫu thuật giảm có ý nghĩa
thống kê ở nhóm điều trị kháng H
2
hoặc ức chế bơm proton so với placebo,
nhưng tỷ lệ tử vong thì không giảm [62].
Nghiên cứu của Levine và cs (2002) kết luận rằng dùng kháng H
2
theo
Kháng H
2
PPI
Antacid
OR=0,727
(p<0,001)
OR=0,707
(p<0,001)
OR=1,14
(NS)
Levine &cs
(2001)
-
KhángH
2
&placebo
ARR=-7,2%
ARR=-6,7%
ARR=-3,2%
N: sè thử nghiệm lâm sàng OR: tỷ suất chênh
RR: nguy cơ tương đối A.RR: nguy cơ tuyệt đối
NS: không có ý nghĩa thống kê S: có ý nghĩa thống kê
1.4.5.Vai trò của thuốc ức chế bơm proton
1.4.5.1.Thuốc ức chế bơm proton
Cấu trúc hoá học: khung Pyridin methylsufnanyl benzimidazole. Bản
chất là các bazơ yếu, ở dạng tiền chất, vào cơ thể mới chuyển sang dạng proton.
Cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton
dần, ổn định sau 5-7 ngày. Hiện tượng này rõ với Esomeprazole hơn
Omeprazole và ở nam rõ hơn nữ. Nồng độ Esomeprazole cao và ổn định hơn
trong máu so với Omeprazole.
Bảng 1.3 : Phân loại thuốc ức chế bơm proton
Thuốc ức chế bơm
proton
Năm ra đời
Liều chuẩn (1lần ngày)
Thế hệ 1
Omeprazole
Lansoprazole
Pantoprazole
1989
1995
1999
20/40mg
30mg
40mg
Thế hệ 2
Esomeprazole
Rabeprazole
2001
1999
40mg
20mg 25
tit acid. Mt khỏc, bm proton H
+
/K
+
ATPase liờn tc c sinh ra. iu ú
cú ngha l cn cú sn thuc c ch bm proton liờn tc trong vũng tun hon
c ch cỏc bm mi tng hp ny. Thi gian bỏn hu ca cỏc thuc c ch
bm proton l khong 50 phỳt. Nh vy nu tiờm tnh mch thỡ 4 giờ sau
thuc s b thi tr hon ton, v cú ngha l cỏc bm proton mi c tng
hp sau ú s khụng b c ch bi thuc c ch bm proton v cú kh nng
Tổn
th-ơng
dạ dày
do stress
Ngăn
XHTH
tái phát