SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC
KINH NGHIỆM DẠY TỪ NGỮ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HẠ TRUNG HUYỆN BÁ THƯỚC
Họ và tên: Bùi Văn Đạt
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hạ Trung
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
Năm học 2012 - 2013
BÁ THƯỚC, NĂM 2013
1
KINH NGHIỆM DẠY TỪ NGỮ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HẠ TRUNG HUYỆN BÁ THƯỚC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Trong tiếng Việt có một số lớn từ gốc Hán mà ta thường gọi là từ ngữ Hán
Việt. Nó chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong kho tàng tiếng Việt, cho đến nay, chưa thể
biết được đích xác. Nhiều người dẫn con số 60% của Maspero thống kê nhưng
đá quá cũ, từ bấy đến nay tiếng Việt đã phát triển và chắc chắn là tỉ lệ đã thay
đổi. Chúng tôi chỉ thống kê 2.000 mục từ của cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên thì thấy con số không phải như vậy, từ ngữ Hán Việt chiếm khoảng
40%. Công việc thống kê để có được số lượng chính xác, khoa học còn chờ ở
tương lai. Dù sao đi nữa, độ phong phú của từ ngữ Hán Việt là điều dễ thấy qua
từ điển, qua các văn bản, nhất là văn bản khoa học, chính luận, báo chí v.v
Từ ngữ Hán Việt đến với người Việt, hay nói một cách khác, theo cách nói
của các nhà ngôn ngữ học, sự thủ đắc từ ngữ Hán Việt, cũng như các lớp từ ngữ
khác, do nhiều con đường: con đường tự nhiên, tự phát, tức là qua thực tiễn giao
tiếp xã hội, mỗi người tự thể nghiệm, tự tìm hiểu để nắm được ý nghĩa, cách
dùng nó. Sự thực là như vậy, nếu chúng ta chú ý quan sát lời ăn tiếng nói của
nâng cao chất lượng toàn diện hơn.
b. Đối tượng áp dụng:
- Đối tượng là các em học sinh ở lớp 7, ở độ tuổi 12- 13. Nhưng khó khăn
nhất là vốn hiểu biết sâu sắc về từ Hán Việt. Đặc biệt trong hoàn cảnh giao tiếp.
Trên cơ sở đó tôi đã lựa chọn từ ngữ Hán Việt trong chương trình Ngữ văn lớp
7 để vận dụng.
- Là học sinh ở hai diện: Lớp có học lực trung bình và lớp yếu trong hai
năm học : Năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012.
Năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012 tôi và một số đồng chí
cùng trong bộ môn trao đổi, thống nhất áp dụng một số phương pháp, kinh
nghiệm vào giảng dạy ở 2 lớp 7 diện trung bình và yếu có so sánh đối chiếu với
lớp có mức độ học lực trung bình và khá tiến hành theo cách học lâu nay vẫn áp
dụng.
Mặt khác trong các năm học gần đây theo yêu cầu của chuyên môn, chúng tôi
đã nắm bắt sự triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Sở giáo dục và Đào tạo,
Phòng giáo dục và Đào tạo về môn Ngữ văn, chúng tôi đã tổ chức các chuyên đề
3
về cách soạn và dạy môn Ngữ văn. Từ đó tôi mạnh dạn đề xuất, thảo luận một
số ứng dụng trong khi dạy môn Ngữ văn ở khối lớp 7 về cách dạy những bài về
từ Hán Việt.
Riêng những phần nêu dưới đây chúng tôi đã dạy thể nghiệm ở một số
đồng chí giáo viên trên lớp và sinh hoạt tổ , nhóm cặn kẽ, trao đổi cụ thể từng
bước soạn và lên lớp áp dụng cho 2 lớp 7a, 7b năm học 2010 – 2011 và năm học
2011 - 2012. Chính kết quả thu được đại trà ở 2 lớp 7 đã khích lệ tôi trình bày đề
tài này.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Mục đích của việc học tiếng Việt ở trường THCS là nhằm cung cấp
những tri thức tiếng Việt cho học sinh, giúp các em vận dụng kiến thức lý thuyết
Việt nói chung đối với từ ngữ hán việt các em càng ngại. Hơn nữa học sinh
không nắm vững kiến thức, qua khảo nghiệm một số năm ở một số tiết dạy về
bài “ Từ Hán Việt” ở lớp 7 số học sinh không làm được bài còn rất nhiều .
Kết quả điểm khảo sát năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012 ở 2
lớp 7 môn Ngữ văn như sau:
Năm học 2010 - 2011
Lớp Sĩ
số
Điểm
9 - 10 7 - 8,5 5 - 6,5 3 - 4,5 0 - 2,5
SL % SL % SL % SL % SL %
7a 21 0 0 2 9,5% 8 38% 5 23,8% 6 28,5%
7b 20 0 0 1 5% 6 30% 9 45% 4 20%
Năm học 2011 - 2012
Lớp Sĩ
số
Điểm
9 - 10 7 - 8,5 5 - 6,5 3 - 4,5 0 - 2,5
SL % SL % SL % SL % SL %
7a 23 2 8,7% 5 21,7 10 43,5 5 21,7 1 4,35
7b 22 3 13,6 4 17,4 12 54,6 2 9.1 1 4,6
Bên cạnh những mặt yếu cùng với nhiều khó khăn, song các em ở trường
THCS Hạ Trung cũng có nhiều ưu điểm đáng khích lệ, các em đang ở độ tuổi
hiếu động, thích tìm tòi tranh luận, trường lại có bề dày về thành tích học tập, đó
là cơ sở để thúc đẩy các em học tập tốt.
Tóm lại: căn cứ vào hai cơ sở trên tôi đã đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu để
thay đổi các hình thức tổ chức học tập cho học sinh cho phù hợp với đối tượng
học sinh và thực tế tình hình địa phương nhằm giúp các em tiếp thu bài tốt hơn,
nâng cao chất lượng môn học.
tố phụ đặt trước yếu tố chính, ngược với trật tự cấu tạo từ tiếng Việt.
Ví dụ: Mỹ nhân (mỹ: đẹp, nhân; người)
- Về phương diện ngữ cảm: các từ Hán – Việt thường có sắc thái trang
trọng, tao nhã. Sách giáo khoa lớp 7 cũng đã nêu lên đặc điểm này, tuy nhiên
không phải học sinh lúc nào cũng nhận biết được dễ dàng.
Theo tôi, 2 trong số 3 tiêu chí nêu trên để nhận diện từ Hán – Việt thuộc
về nội dung ngữ nghĩa của từ. còn tiêu chí cấu tạo từ thì chỉ áp dụng được cho
danh từ mà không áp dụng được cho động từ (có cấu trúc động từ + bổ kiểu như
6
ái quốc, thất tình v.v). các tiêu chí nêu trên chỉ có thể phát huy được hiệu lực khi
học sinh đạt đến một trình độ học vấn nhất định. Đối với học sinh trung học cơ
sở đặc biệt khó khăn, đối với các em là học sinh người dân tộc như ở trường
THCS Hạ Trung huyện Bá Thước, tư duy của các em chủ yếu còn ở trình độ
trực quan, cảm tính. Vì vậy, các tiêu chí đưa ra để nhận diện từ Hán – Việt đối
với học sinh trung học cơ sở càng cụ thể, càng rõ ràng về hình thức, càng có tính
trực quan thì càng tốt, càng hiệu quả.
Trước khi đi vào tiêu chí nhận diện cụ thể, Tôi đã xác định một số khái
niệm cơ bản: từ thuần Việt và từ Hán – Việt. Bản thân tôi cho học sinh tìm hiểu
khái niệm từ Hán – Việt là gì?
Để làm sáng tỏ khái niệm này, cần cho học sinh phân biệt các khái niệm
sau: Cách đọc Hán – Việt, tiếng Hán – Việt, từ Hán – Việt và yếu tố gốc Hán.
Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cách đọc Hán – Việt là một cách đọc vốn
bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể Đường âm dạy
ở Giao Châu vào giai đoạn bao gồm khoảng 2 thế kỷ VIII và IX. Nói đến cách
đọc Hán – Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt Nam gán cho hệ thống
văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào.
Ví dụ: tuyết, học, cao, tuy, chẩm, giá, ma v.v.
Yếu tố gốc Hán là những yếu tố đã được du nhập vào trong tiếng Việt, bất
luận đó là những yếu tố như thế nào: quốc , gia, sơn, tuyết, mùa ( do vụ mà ra)
hoặc mỳ chính (vốn do vị tinh mà ra). v.v.
vốn là nguồn gốc của tiếng Việt.
Trong vốn từ tiếng Việt hiện nay học sinh thường hiểu các từ thuần Việt
là những từ còn lại trong tiếng Việt sau khi đã trừ đi các từ Hán – Việt cùng một
số từ gốc Hán khác mà dấu ấn ngoại lai của chúng còn rất rõ như: sủi cảo, vằn
thắn, tạp pí lù v. v. và những từ của các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Anh và
tiếng Pháp, tiếng Nga…
Trong số những từ được coi là thuần Việt thì:
+ Có những từ có sự tương ứng với tiếng Mường: đuôi khoáy, móng,
mồm, sừng, chớp, làng xóm
+ Có những từ có sự tương tác với tiếng Tày – Thái: bánh, bắt, bóc, buộc,
đường, gọt, neo, méo, ngắt, ngẩm, ngợi, vắng
+ Những yếu tố thuần Việt là gốc Việt cổ Môn – Khmer: một, hai, ba,
bốn, mắt, cân , gối, cá, chim, đất, mưa, lúa, gió, trăng, ngày
+ Có những yếu tố gốc Thái: lưng, bụng, cằm, gà, vịt, đồng, rẫy, rùa
+ Có những yếu tố - như đã trình bày ở trên – được mượn từ tiếng Hán từ
thời thượng cổ đã được Việt hóa hoàn toàn ( thí dụ: mùi, mùa, buồng, buồm )
và những yếu tố cũng được mượn từ tiếng Hán đời Đường, nhưng sau đã diễn
biến theo một con đường khác với cách đọc Hán – Việt.
Các từ thuần Việt loại này có thể kể ra rất nhiều trong kho từ tiếng việt hiện nay:
8
Âm Hán Âm Việt Âm Hán Âm Việt
Kính Gương Thanh Xanh
Các Gác Đại Đời
Cang Gang Cận Gần
Can Gan Kí Ghi
Hoạch Vạch Quả Góa
Bổn Vốn Kiếm Gươm
Bản Ván Phương Vuông
Phá Vỡ Long Rồng
Lực Sức
Bất cứ tiếng nào trong tiếng Hán – Việt ( hoặc từ đơn Hán – Việt)
- Uyên ( trừ ngoại lệ nguyền, chuyền, chuyện), Ví dụ: duyên, tuyên,
quyến
- Uyết, Ví dụ: Tuyệt, quyết, tuyết, thuyết
- Ưu, Ví dụ: cửu, cừu, bưu, bửu, ngưu
- Uy, Ví dụ: Tuy, tùy,tủy, túy, quý, quỷ, quy
Câu văn để ghi nhớ giúp nhận diện tiếng ( hoặc từ đơn) Hán – Việt:
Nguyện quyết cứu nguy.
Bất cứ tiếng hoặc ( từ đơn) nào có chứa vần của 4 từ trong câu trên dù có
âm đầu hoặc mang thanh điệu nào cũng đều là Hán – Việt, trừ một vài ngoại lệ
Loại thứ 2: Các cấu tạo âm thanh chỉ có ở tiếng ( hoặc từ đơn) thuần Việt.
Ví dụ:
- Mọi tiếng có kết hợp âm ết đều là thuần Việt ( trừ ngoại lệ, kết là Hán –
Việt)
- Mọi tiếng có kết hợp âm ưng ( ngoại trừ ưng, ứng ngưng là Hán -Việt)
đều là thuần Việt.
- Nhưng tiếng nào có âm đầu là R thì là Thuần Việt. Thí dụ, ro, rò, rỉ, rẻ
Đối với trường hợp các tiếng ( hoặc từ đơn) có chứa những kết hợp âm có
thể là Hán – Việt hoặc thuần Việt thì chúng ta dùng 3 tiêu chí đã được nêu ở trên
để nhận diện ngoài ra bản thân tôi xin cũng hay sử dụng một thủ pháp thực hành
khác sau đây. Thủ pháp này được dựa trên quy tắc cấu tạo từ đã được GS.
Nguyễn Tài Cẩn: để cấu tạo từ, tiếng Việt thường có xu hướng ghép các yếu tố
có cùng nguồn gốc với nhau ( H + H, V + V)
Thủ pháp cụ thể như sau:
Một tiếng nếu đứng riêng một mình rất khó xác định là thuần việt hay
Hán - Việt. Để xác định ta thử tìm xem có từ ghép Hán – Việt nào trong thành
phần có chứa đó hay không. Nếu tìm được thì tiếng được chứa trong từ ghép
Hán – Việt ấy cũng chính là Hán – Việt.
Cơ sở để nhận biết một trong từ song tiết từ ghép Hán – Việt có thể như
sau: Trật tự yếu tố: yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ: Hải quân, không phận,
trí lại nội dung bài dạy các yếu tố Hán – Việt được đưa ra trong sách giáo khoa
dựa trên cơ sở thực tế là những bài học này đơn thuần chỉ là một sự liệt kê các
yếu tố và nghĩa của chúng từ đầu đến cuối danh sách. Do vậy giáo viên có thể
xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các
yếu tố Hán – Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng
khác nhau. Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, chúng ta cần phải chú ý đến tính hệ
thống, nếu chúng ta trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách
11
có hệ thống thì sẽ giúp cho nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu hơn
và dễ ghi nhớ hơn.
Trên cơ sở nguyên tắc sư phạm này, chúng ta có thể sắp xếp lại các yếu tố
Hán – Việt đã được cung cấp trong SGK và sắp xếp chúng theo các quan hệ
khác nhau đã thực hiện như sau:
- Các yếu tố Hán – Việt trái nghĩa: Cận, viễn, đại, tiểu, phú, bần, đa, thiểu
v.v.
- Các yếu tố Hán – Việt đồng âm, độc có nghĩa – “đọc” độc có nghĩa là
“ác” chỉ có một, phong có nghĩa là “gió” phong có nghĩa là “ ban cấp cho”, tặng
danh hiệu, và phong có nghĩa là mũi nhọn, ( tiên phong, giao phong v.v)
- Các yếu tố Hán – Việt đa nghĩa: Các yếu tố Hán – Việt có nhiều nghĩa
như:
Ngân có nghĩa:
1. Bạc: ngân bản vị, Thủy ngân
2. Tiền bạc, ngân hàng, ngân khố.
3. Có màu sáng như bạc: Ngân hà, Sông ngân.
Hoặc “ phi”:
1. Bay: Phi công, phi cơ v.v.
2. Có tốc độ nhanh như bay: Phi báo.
3. Ngựa chạy rất nhanh: Ngựa phi.
4. Phóng dao: Phi dao
- Các yếu tố Hán – Việt đồng nghĩa: chiến – đả, kiến - thiết giáo – huấn,
và tên mới ( Ví dụ: Làng Tám ), những sự tích lịch sử, những giai thoại về việc
học chữ nho, làm câu đối ( Ví dụ: Da trắng vỗ bì bạch, chuồng gà kê áp chuồng
vịt v.v.) ngày trước của cha ông có thể cung cấp cho chúng ta nguồn cứ liệu bổ
sung, giúp cho việc xây dựng những tiết học về yếu tố Hán – Việt sống động, đa
dạng và có hiệu quả cao.
2.2.1. Biện pháp 1: Giáo án minh họa
TIẾT 18 - Tiếng Việt : TỪ HÁN VIỆT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT :
1. Kiến thức :
- Hiểu được thế nào là yếu tố Hán Việt, cách cấu tạo đặc biệt của từ ghép
Hán Việt.
2. Kĩ năng : Nhận biết được các từ ghép Hán Việt, mở rộng yếu tố Hán Việt.
3. Thái độ : - Biết sử dụng từ Hán Việt trong những ngữ cảnh cụ thể
B. PHƯƠNG PHÁP :
- Nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm.
C. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN :
- SGK – SGV NV7 tập 1, từ điển Hán Việt.
D. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC :
* Ổn định lớp - Kiểm tra bài cũ :
? Em hãy đọc thuộc lòng và nêu nội dung của 2 văn bản tiếng Hán đã
học.
13
* Bài mới : Giới thiệu bài
Nhắc lại kiến thức về từ mượn dẫn vào bài
? Dựa vào kiến thức từ mượn ở lớp
6 em hãy cho biết thế nào là từ Hán
Việt ?
Mở rộng :
- Không phải mọi từ gốc Hán đều là
từ Hán Việt.
2
lí mã.
- (Lí Công Uẩn) Thiên
3
đô về
Thăng Long
I. ĐƠN VỊ CẤU TẠO TỪ HÁN VIỆT
- Từ Hán Việt là từ có gốc Hán và được
phát âm theo âm Hán Việt.
- Trong trong tiếng việt có khoảng 3000
yếu tố Hán Việt.
* Ví dụ 1:
- Nam : Nước nam
- Quốc : nước
- Sơn : núi
- Hà : Sông
Các tiếng : quốc, sơn, hà. Không thể
dùng độc lập Riêng tiếng Nam có thể
dùng độc lập vì có thể nói : miền Nam,
phía Nam.
+ Nam quốc
+ Sơn hà
từ Hán Việt
-> yếu tố Hán Việt.
-> Tiếng để cấu tạo từ Hán Việt gọi là
yếu tố Hán Việt ?
- yếu tố Hán Việt dùng trong những
trường hợp sau :
+ Phần lớn dùng để tạo từ ghép Hán
Việt.
? Từ việc tìm hiểu các ví dụ trên em
hãy cho biết đơn vị cấu tạo từ Hán
Việt và cách dùng các yếu tố Hán
Việt ? GV nhấn mạnh, bổ sung rút
ra ghi nhớ.
Lấy ví dụ minh họa
Gọi hs đọc yêu cầu của bài tập 1
trong SGK.
? Phân biệt nghĩa của các yếu tố
Hán Việt đồng âm trong các từ ngữ
sau ?
Học sinh dựa vào từ điển Hán
Việt để phân tích nghĩa các yếu tố
đồng âm.
Bài tập 2: Tìm những từ ghép
Hán Việt có chứa yếu tố Hán
Việt : quốc, sơn, cư, bại.
Chuyển ý sang mục 2
? Các từ Sơn hà, xâm phạm trong
bài ‘Nam quốc Sơn hà’ và ‘giang
san’ trong bài ‘Tụng giá hoàn kinh
sư’ thuộc loại từ ghép đẳng lập hay
chính phụ ?
? Các từ ái quốc, thủ môn, chiến
với Thiên
3
.
• Ghi nhớ :
- Trong Tiếng Việt có một khối lượng
khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo từ
cư, cư ngụ.
- Bại : thảm bại, chiến bại, bại vong, bại
liệt, thất bại, đại bại.
II. TỪ GHÉP HÁN VIỆT
* Ví dụ :
- Sơn hà :
- Xâm phạm
- Giang san
Từ ghép đẳng lập
a. ái quốc, thủ môn, chiến thắng từ
15
thắng thuộc loại từ ghép gì ?
? Nhận xét về trật tự của các yếu tố
trong các từ này có giống trật tự các
tiếng trong từ ghép tiếng Việt cùng
loại không ?
? Các từ thiên thư, thạch mã, tái
phạm thuộc loại từ ghép gì ? Trật tự
giữa các tiếng có gì khác so với từ
ghép tiếng việt cùng loại ?
H Qua phân tích trên em hãy cho
biết : Từ ghép Hán Việt có mấy
loại chính ?
? Em có nhận xét gì về trật tự các
yếu tố trong từ ghép chính phụ ?
? Hãy so sánh cấu tạo vị trí và các
yếu tốt của từ ghép chính phụ Hán
Việt có gì giống và khác so với các
từ tiếng việt.
Học sinh rút ra ghi nhớ.
phụ đứng sau ( giống với trật tự từ ghép
thuần việt) Ví dụ: ái quốc ( C- P)
- Hoặc yếu tố phụ đứng trước, yếu
tố chính đứng sau. ( khác với trật tự từ
ghép thuần Việt) VÍ dụ: Quốc kì ( P- C)
III . LUYỆN TẬP :
Bài tập 3 :
- Yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ
đứng sau : hữu ích, phát thanh, bảo mật,
phóng hoả.
- Yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính
đứng sau : thi nhân, đại thắng, tân binh,
hậu đãi.
(Giáo viên có thể cho học sinh giải thích
và đặt câu với các từ Hán Việt đó)
Bài tập 4 : Bài tập này Giáo viên có thể
cho học sinh làm ở nhà.
Yêu cầu :
- Yếu tố chính đứng trước : ái quốc, hữu
danh, đại diện, ưu thời, ái quần, tham
chiến, đình chiến, điện báo, đính hôn,
tuyệt vọng.
- Yếu tố phụ đứng trước : quốc hồn, dân
trí, đại thắng, đại sự, bạc mệnh.
ư
e.
E. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI :
16
- Nắm được các loại từ ghép Hán Việt và cách hiểu, cách sử dụng trong văn
cảnh.
Nhìn vào kết quả trên ta thấy: tỉ lệ phần trăm số bài được điểm giỏi – khá
ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp không áp dụng chúng. Trong khi số bài được
điểm trung bình và yếu,kém được giảm đi rõ rệt so với lớp áp dụng.
Điều đó cho thấy kinh nghiệm của giáo viên trong việc phát huy được khả năng
tiềm ẩn của học sinh trong khi học để tìm ra tri thức, học sinh có cơ hội thể hiện
năng lực của mình, nó góp phần phân hoá trình độ của học sinh một cách tỉ mỉ,
chi tiết và thực sự có hiệu quả.
17
Điều đặc biệt hơn nữa trong năm học 2012-2013 tôi tiếp tục được phân
công dạy lớp 7 và áp dụng biện pháp trên vào dạy học phân môn tiếng việt và
thu được kết quả rất cao ở cả hai lớp 7A, 7B.
Cụ thể năm học 2011-2012.
Sau khi áp dụng các phương pháp này ở lớp 7A và 7B năm học 2010 –
2011 và lớp 7A và 7B năm học 2011 - 2012 tôi nhận thấy việc thay đổi nhận
thức của học sinh và đạt kết quả nhất định. Trong các giờ học thầy trò cùng làm
việc có sự tác động qua lại giữa thầy và trò nhịp nhàng hơn.
Giáo viên không phải thuyết giảng nhiều như trước, học sinh cũng không
phải ngồi để nghe, em nào cũng được học, được nói, được suy nghĩ. Bên cạnh
đó còn phát huy được tính tích cực cho học sinh, học sinh chủ động trong tìm
tòi, tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Học sinh ít chán học môn Tiếng
Việt hơn, học sinh thích học tăng lên từ 25 đến 80%.
Để minh chứng cho điều lí giải ở trên tôi đưa ra bảng đối chứng qua các
lần khảo sát thực tế ở trong các năm học cụ thể như sau:
Kết quả điểm khảo sát chất lượng qua các bài kiểm tra năm học 2010 –
2011, năm học 2011 – 2012 và học kì I năm học 2012 - 2013 ở 2 lớp 7 môn
Ngữ văn như sau:
Năm học 2010 - 2011
Lớp Sĩ
số
Điểm
bản trong SGK vào giờ dạy, giáo viên cần phải cho học sinh tìm hiểu những ngữ
liệu bên ngoài, nảy sinh từ cuộc sống hàng ngày hoặc qua thực tế bài viết của
các em đã làm sinh động cho giờ học. Mặt khác, giúp các em có ý thức khai thác
kiến thức đã học và giải quyết các tình huống của cuộc sống cho cuộc giao tiếp
đạt hiệu quả.
Tiếng Việt trong cơ chế dạy học mới, luôn ý thức được vai trò chủ động
trong việc tiếp thu tri thức mới. Các em bị cuốn vào tình huống và với tư cách là
một người trong cuộc, phải tham gia tháo gỡ, giải đáp những tình huống ấy dưới
sự điều khiển của giáo viên. Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt học sinh,
tìm hiểu bài thông qua hoạt động giao tiếp, thực hành lý thuyết đó vào làm bài
tập trong SGK, vận dụng nó trong cuộc sống.
Chất lượng giờ học: Qua việc khảo sát ứng dụng, đối chứng chúng tôi
nhận thấy không khí của hai lớp học có sự khác nhau đáng kể. Các em học tập
có sự sôi nổi, hào hứng, bị lôi cuốn vào giờ học, vốn dĩ bị coi là khó khăn và
cứng nhắc. Từ yêu cầu sử dụng tiếng Việt cho đúng như là một tất yếu trong đời
thường và sử dụng hay có đạt hiệu quả cao hay không chỉ là yêu cầu của các nhà
văn, nhà thơ…
C . KẾT LUẬN
Để dạy được một tiết tiếng Việt mang lại hiệu quả cao đối với học sinh
vùng sâu, vùng xa như trường THCS Hạ Trung không phải là một điều đơn giản
bởi vốn dĩ môn tiếng Việt lâu nay rất công thức và khô khan. Đặc biệt là những
tiết dạy từ Hán Việt. Chính vì vậy nó đòi hỏi người giáo viên trong giảng dạy
luôn luôn có những biện pháp tổ chức cụ thể với tiết liên quan đến dạy Từ Hán
Việt. bản thân tôi chuẩn bị rất kĩ càng với 2 yếu tố rất quan trọng. Đó là làm sao
trang bị cho học sinh:
19
Một là: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các từ Hán – Việt.
Bằng cách nào để có thể nhận diện và phân biệt được chúng
- Về ý nghĩa: Từ Hán – Việt là những từ tiếng Việt thường phải được giải
nghĩa thì mới hiểu chúng một cách thấu đáo.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
20không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
Bùi Văn ĐạtMỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
II. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
2
21
B. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
3
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề 3
1.2. Thực trạng của vấn đề 3
II. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
5
Giải pháp 1: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các từ Hán
– Việt
5
Giải pháp 2: Cách dạy yếu tố Hán – Việt 10