SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC
KINH NGHIỆM DẠY TỪ NGỮ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HẠ TRUNG HUYỆN BÁ THƯỚC
Họ và tên: Bùi Văn Đạt
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hạ Trung
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
Năm học 2012 - 2013
BÁ THƯỚC, NĂM 2013
1
KINH NGHIỆM DẠY TỪ NGỮ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HẠ TRUNG HUYỆN BÁ THƯỚC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Trong tiếng Việt có một số lớn từ gốc Hán mà ta thường gọi là từ ngữ Hán
Việt. Nó chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong kho tàng tiếng Việt, cho đến nay, chưa thể
biết được đích xác. Nhiều người dẫn con số 60% của Maspero thống kê nhưng
đá quá cũ, từ bấy đến nay tiếng Việt đã phát triển và chắc chắn là tỉ lệ đã thay
đổi. Chúng tôi chỉ thống kê 2.000 mục từ của cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên thì thấy con số không phải như vậy, từ ngữ Hán Việt chiếm khoảng
40%. Công việc thống kê để có được số lượng chính xác, khoa học còn chờ ở
tương lai. Dù sao đi nữa, độ phong phú của từ ngữ Hán Việt là điều dễ thấy qua
từ điển, qua các văn bản, nhất là văn bản khoa học, chính luận, báo chí v.v...
Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Kinh nghiệm dạy từ ngữ Hán Việt cho
học sinh lớp 7 ở Trường trung học cơ sở Hạ Trung huyện Bá Thước”
2. Mục đích, đối tượng áp dụng
a. Mục đích.
Thực hiện đề tài này nhằm mục đích nâng cao chất lượng việc dạy và học
môn Ngữ văn nói chung, đối với phân môn tiếng Việt nói riêng. Từ đó có những
cách thức và phương pháp phù hợp để giúp các em có hứng thú trong học tập,
nâng cao chất lượng toàn diện hơn.
b. Đối tượng áp dụng:
- Đối tượng là các em học sinh ở lớp 7, ở độ tuổi 12- 13. Nhưng khó khăn
nhất là vốn hiểu biết sâu sắc về từ Hán Việt. Đặc biệt trong hoàn cảnh giao tiếp.
Trên cơ sở đó tôi đã lựa chọn từ ngữ Hán Việt trong chương trình Ngữ văn lớp
7 để vận dụng.
- Là học sinh ở hai diện: Lớp có học lực trung bình và lớp yếu trong hai
năm học : Năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012.
Năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012 tôi và một số đồng chí
cùng trong bộ môn trao đổi, thống nhất áp dụng một số phương pháp, kinh
nghiệm vào giảng dạy ở 2 lớp 7 diện trung bình và yếu có so sánh đối chiếu với
lớp có mức độ học lực trung bình và khá tiến hành theo cách học lâu nay vẫn áp
dụng.
Mặt khác trong các năm học gần đây theo yêu cầu của chuyên môn, chúng tôi
đã nắm bắt sự triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Sở giáo dục và Đào tạo,
Phòng giáo dục và Đào tạo về môn Ngữ văn, chúng tôi đã tổ chức các chuyên đề
3
về cách soạn và dạy môn Ngữ văn. Từ đó tôi mạnh dạn đề xuất, thảo luận một
số ứng dụng trong khi dạy môn Ngữ văn ở khối lớp 7 về cách dạy những bài về
từ Hán Việt.
Riêng những phần nêu dưới đây chúng tôi đã dạy thể nghiệm ở một số
4
làm kinh tế. Điều đó đã làm ảnh hưởng đến việc học của học sinh. Nhiều em
chưa có đủ vở, đồ dùng học tập, chưa có thời gian cho việc học tập ở nhà. Vì thế
rất khó khăn cho việc tiếp thu bài giảng của giáo viên.
2.2. Trường THCS Hạ Trung
Năm học 2010 - 2011 học sinh khối 7 của trường có 41 em, năm 2011 –
2012 học sinh khối 7 của trường có 45em, đa số ở lứa tuổi từ 12 đến 13, tuổi còn
nhỏ, thể lực còn yếu, bên cạnh đó năng lực học tập của các em còn nhiều hạn
chế. Đặc biệt là số học sinh học yếu về môn văn đặc biệt ngại học phần tiếng
Việt nói chung đối với từ ngữ hán việt các em càng ngại. Hơn nữa học sinh
không nắm vững kiến thức, qua khảo nghiệm một số năm ở một số tiết dạy về
bài “ Từ Hán Việt” ở lớp 7 số học sinh không làm được bài còn rất nhiều .
Kết quả điểm khảo sát năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012 ở 2
lớp 7 môn Ngữ văn như sau:
Năm học 2010 - 2011
Lớp
Sĩ
số
Điểm
9 - 10
7 - 8,5
5 - 6,5
3 - 4,5
2
9,5%
8
38%
5
23,8%
6
28,5%
7b
20
0
0
1
5%
6
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7a
23
2
8,7%
5
21,7
9.1
1
4,6
Bên cạnh những mặt yếu cùng với nhiều khó khăn, song các em ở trường
THCS Hạ Trung cũng có nhiều ưu điểm đáng khích lệ, các em đang ở độ tuổi
hiếu động, thích tìm tòi tranh luận, trường lại có bề dày về thành tích học tập, đó
là cơ sở để thúc đẩy các em học tập tốt.
Tóm lại: căn cứ vào hai cơ sở trên tôi đã đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu để
thay đổi các hình thức tổ chức học tập cho học sinh cho phù hợp với đối tượng
học sinh và thực tế tình hình địa phương nhằm giúp các em tiếp thu bài tốt hơn,
nâng cao chất lượng môn học.
5
II. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN VỀ CÁCH
NHẬN DIỆN VÀ DẠY YẾU TỐ HÁN - VIỆT
2.1. Giải pháp 1: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các
từ Hán – Việt
Từ Hán – Việt chiếm một tỷ lệ khá lớn trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt
trong các văn bản văn học trung đại mà học sinh bắt buộc phải tìm hiểu .Do tầm
quan trọng đó mà sách giáo khoa ngữ văn lớp 7 đã dành cho chúng ta một thời
lượng vừa đủ.Ngữ văn Lớp 7, tập1 : tiết 18 và tiết 23.
2.1.1. Biện pháp 1: Cách nhận diện từ Hán Việt
Song, trong tất cả các tiết dạy Hán – Việt ấy học sinh (cũng như cả giáo
viên) đều không được cung cấp những kiến thức cần thiết về đặc điểm ngữ âm
của các từ ngữ Hán - Việt (nhất là các từ đơn), khác với các từ ngữ thuần Việt
như thế nào? Bằng cách nào để có thể nhận diện và phân biệt được chúng?
THCS Hạ Trung huyện Bá Thước, tư duy của các em chủ yếu còn ở trình độ
trực quan, cảm tính. Vì vậy, các tiêu chí đưa ra để nhận diện từ Hán – Việt đối
với học sinh trung học cơ sở càng cụ thể, càng rõ ràng về hình thức, càng có tính
trực quan thì càng tốt, càng hiệu quả.
Trước khi đi vào tiêu chí nhận diện cụ thể, Tôi đã xác định một số khái
niệm cơ bản: từ thuần Việt và từ Hán – Việt. Bản thân tôi cho học sinh tìm hiểu
khái niệm từ Hán – Việt là gì?
Để làm sáng tỏ khái niệm này, cần cho học sinh phân biệt các khái niệm
sau: Cách đọc Hán – Việt, tiếng Hán – Việt, từ Hán – Việt và yếu tố gốc Hán.
Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cách đọc Hán – Việt là một cách đọc vốn
bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể Đường âm dạy
ở Giao Châu vào giai đoạn bao gồm khoảng 2 thế kỷ VIII và IX. Nói đến cách
đọc Hán – Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt Nam gán cho hệ thống
văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào.
Ví dụ: tuyết, học, cao, tuy, chẩm, giá, ma v.v.
Yếu tố gốc Hán là những yếu tố đã được du nhập vào trong tiếng Việt, bất
luận đó là những yếu tố như thế nào: quốc , gia, sơn, tuyết, mùa ( do vụ mà ra)
hoặc mỳ chính (vốn do vị tinh mà ra). v.v.
Cách đọc Hán – Việt
+ Một là: những lĩnh vực gồm những chữ Hán có thể đọc Hán – Việt
được, nhưng không liên quan đến tiếng Việt.
Ví dụ: chẩm, giá, ma
+ Hai là: những yếu tố người Việt, mượn từ tiếng Hán, nhưng chúng lại
không trực tiếp liên quan gì đến cách đọc Hán – Việt, ở đây có 3 trường hợp:
* Trường hợp mượn cách đọc Hán – Việt tức mượn từ thượng cổ như:
mùa, mùi, buồng, buồm… Vì chúng đã được nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời
nên đã được Việt hóa hoàn toàn, rất khó có thể phân biệt được với những từ
thuần Việt và thuộc vào kho từ vựng cơ bản, để gọi tên sự vật trong sinh hoạt
hàng ngày, những hiện tượng xung quanh con người. Phần lớn chúng là những
7
đường, gọt, neo, méo, ngắt, ngẩm, ngợi, vắng ...
+ Những yếu tố thuần Việt là gốc Việt cổ Môn – Khmer: một, hai, ba,
bốn, mắt, cân , gối, cá, chim, đất, mưa, lúa, gió, trăng, ngày...
+ Có những yếu tố gốc Thái: lưng, bụng, cằm, gà, vịt, đồng, rẫy, rùa...
+ Có những yếu tố - như đã trình bày ở trên – được mượn từ tiếng Hán từ
thời thượng cổ đã được Việt hóa hoàn toàn ( thí dụ: mùi, mùa, buồng, buồm ...)
8
và những yếu tố cũng được mượn từ tiếng Hán đời Đường, nhưng sau đã diễn
biến theo một con đường khác với cách đọc Hán – Việt.
Các từ thuần Việt loại này có thể kể ra rất nhiều trong kho từ tiếng việt hiện nay:
Âm Hán
Âm Việt
Âm Hán
Âm Việt
Kính
Gương
Thanh
Xanh
Các
Bổn
Vốn
Kiếm
Gươm
Bản
Ván
Phương
Vuông
Phá
Vỡ
Long
Rồng
Lực
Sức
+ Có những từ được tạo bằng cách dùng chất liệu Hán – Việt kết hợp với
yếu tố thuần Việt theo quy tắc ngữ pháp tiếng Việt như; kẻ địch, người Việt, tàu
- Uyên ( trừ ngoại lệ nguyền, chuyền, chuyện), Ví dụ: duyên, tuyên,
quyến
- Uyết, Ví dụ: Tuyệt, quyết, tuyết, thuyết ...
- Ưu, Ví dụ: cửu, cừu, bưu, bửu, ngưu ...
- Uy, Ví dụ: Tuy, tùy,tủy, túy, quý, quỷ, quy ...
Câu văn để ghi nhớ giúp nhận diện tiếng ( hoặc từ đơn) Hán – Việt:
Nguyện quyết cứu nguy.
Bất cứ tiếng hoặc ( từ đơn) nào có chứa vần của 4 từ trong câu trên dù có
âm đầu hoặc mang thanh điệu nào cũng đều là Hán – Việt, trừ một vài ngoại lệ
Loại thứ 2: Các cấu tạo âm thanh chỉ có ở tiếng ( hoặc từ đơn) thuần Việt.
Ví dụ:
- Mọi tiếng có kết hợp âm ết đều là thuần Việt ( trừ ngoại lệ, kết là Hán –
Việt)
- Mọi tiếng có kết hợp âm ưng ( ngoại trừ ưng, ứng ngưng là Hán -Việt)
đều là thuần Việt.
- Nhưng tiếng nào có âm đầu là R thì là Thuần Việt. Thí dụ, ro, rò, rỉ, rẻ
Đối với trường hợp các tiếng ( hoặc từ đơn) có chứa những kết hợp âm có
thể là Hán – Việt hoặc thuần Việt thì chúng ta dùng 3 tiêu chí đã được nêu ở trên
để nhận diện ngoài ra bản thân tôi xin cũng hay sử dụng một thủ pháp thực hành
khác sau đây. Thủ pháp này được dựa trên quy tắc cấu tạo từ đã được GS.
Nguyễn Tài Cẩn: để cấu tạo từ, tiếng Việt thường có xu hướng ghép các yếu tố
có cùng nguồn gốc với nhau ( H + H, V + V)
Thủ pháp cụ thể như sau:
Một tiếng nếu đứng riêng một mình rất khó xác định là thuần việt hay
Hán - Việt. Để xác định ta thử tìm xem có từ ghép Hán – Việt nào trong thành
10
phần có chứa đó hay không. Nếu tìm được thì tiếng được chứa trong từ ghép
Hán – Việt ấy cũng chính là Hán – Việt.
gây cảm giác nặng nề nhàm chán cho học sinh, chúng tôi nói rằng cần có sự bố
trí lại nội dung bài dạy các yếu tố Hán – Việt được đưa ra trong sách giáo khoa
dựa trên cơ sở thực tế là những bài học này đơn thuần chỉ là một sự liệt kê các
11
yếu tố và nghĩa của chúng từ đầu đến cuối danh sách. Do vậy giáo viên có thể
xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các
yếu tố Hán – Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng
khác nhau. Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, chúng ta cần phải chú ý đến tính hệ
thống, nếu chúng ta trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách
có hệ thống thì sẽ giúp cho nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu hơn
và dễ ghi nhớ hơn.
Trên cơ sở nguyên tắc sư phạm này, chúng ta có thể sắp xếp lại các yếu tố
Hán – Việt đã được cung cấp trong SGK và sắp xếp chúng theo các quan hệ
khác nhau đã thực hiện như sau:
- Các yếu tố Hán – Việt trái nghĩa: Cận, viễn, đại, tiểu, phú, bần, đa, thiểu
v.v.
- Các yếu tố Hán – Việt đồng âm, độc có nghĩa – “đọc” độc có nghĩa là
“ác” chỉ có một, phong có nghĩa là “gió” phong có nghĩa là “ ban cấp cho”, tặng
danh hiệu, và phong có nghĩa là mũi nhọn, ( tiên phong, giao phong v.v)
- Các yếu tố Hán – Việt đa nghĩa: Các yếu tố Hán – Việt có nhiều nghĩa
như:
Ngân có nghĩa:
1. Bạc: ngân bản vị, Thủy ngân
2. Tiền bạc, ngân hàng, ngân khố.
3. Có màu sáng như bạc: Ngân hà, Sông ngân.
Hoặc “ phi”:
1. Bay: Phi công, phi cơ v.v.
2. Có tốc độ nhanh như bay: Phi báo.
yếu tố Hán – Việt và các yếu tố thuần Việt đồng nghĩa tương ứng.
- Các yếu tố Hán – Việt có thể kết hợp với nhau để cấu tạo từ ghép Hán –
Việt: lai vãng, quá khứ, giáo huấn, sinh tồn, tồn vong, quan sát ...
Ngoài ra chúng ta có thể ứng dụng cách khác về vấn đề này, chẳng hạn
nêu những tên người tên đất trong làng, trong tỉnh hay trong thành phố - tên cũ
và tên mới ( Ví dụ: Làng Tám ), những sự tích lịch sử, những giai thoại về việc
học chữ nho, làm câu đối ( Ví dụ: Da trắng vỗ bì bạch, chuồng gà kê áp chuồng
vịt v.v.) ngày trước của cha ông có thể cung cấp cho chúng ta nguồn cứ liệu bổ
sung, giúp cho việc xây dựng những tiết học về yếu tố Hán – Việt sống động, đa
dạng và có hiệu quả cao.
2.2.1. Biện pháp 1: Giáo án minh họa
TIẾT 18 - Tiếng Việt :
TỪ HÁN VIỆT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT :
1. Kiến thức :
- Hiểu được thế nào là yếu tố Hán Việt, cách cấu tạo đặc biệt của từ ghép
Hán Việt.
2. Kĩ năng : Nhận biết được các từ ghép Hán Việt, mở rộng yếu tố Hán Việt.
3. Thái độ : - Biết sử dụng từ Hán Việt trong những ngữ cảnh cụ thể
B. PHƯƠNG PHÁP :
- Nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm.
C. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN :
13
- SGK – SGV NV7 tập 1, từ điển Hán Việt.
D. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC :
? Tiếng nào có thể dùng 1 mình dùng độc lập Riêng tiếng Nam có thể
như 1 từ đơn để đặt câu ? Tiếng dùng độc lập vì có thể nói : miền Nam,
phía Nam.
nào không?
+ Nam quốc
+ Sơn hà
? Nếu ghép các tiếng Nam, quốc, từ Hán Việt
sơn, hà với nhau sẽ cho ta các từ -> yếu tố Hán Việt.
ghép Hán Việt nào ?
? Theo em đơn vị để cấu tạo từ Hán -> Tiếng để cấu tạo từ Hán Việt gọi là
yếu tố Hán Việt ?
Việt là gì ?
? Em hiểu thế nào là yếu tố Hán - yếu tố Hán Việt dùng trong những
trường hợp sau :
Việt ?
? Yếu tố Hán Việt có thể dùng + Phần lớn dùng để tạo từ ghép Hán
Việt.
trong những trường hợp nào ?
+ Một số yếu tố Hán Việt như : hoa,
quả, bút ,bảng ,học, tập,… Có thể dùng
độc lập, hoặc có thể dùng để tạo từ
ghép .
* Ví dụ 2 :
*Cho HS đọc ví dụ 2
14
H? Giải nghĩa tiếng thiên trong các
từ Hán Việt sau :
- Thiên1 niên kỉ, Thiên2 lí mã.
với Thiên3.
Ghi nhớ :
- Trong Tiếng Việt có một khối lượng
khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo từ
Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt.
- Phần lớn yếu tố Hán Việt không được
dùng độc lập như từ mà chỉ dùng để tạo
từ ghép.
Một số yếu tố Hán Việt như: hoa, quả,
bút, bảng, học, tập có lúc dùng để tạo từ
ghép, có lúc dùng độc lập như một từ.
- Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm
khác nghĩa( tử: chết; tử: con...)
Bài tập 1 :
- Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm
nhưng nghĩa khác xa nhau.
+ Hoa 1 : chỉ sự vật, cơ quan sinh sản
hữu tính của cây hạt kín.
+ Hoa 2 : phồn hoa, bóng bẩy
+ Gia 1 : nhà
+ Gia 2 : thêm vào
+ Tham 1 : ham muốn, lòng tham,
mong cầu không biết chán.
+ Tham 2 : xen vào, tham dự vào.
+ Phi 1 : bay
+ phi 2 : trái, không phải.
+ Phi 3 : vợ thứ của vua, xếp dưới
hoàng hậu.
Bài tập 2
- Quốc : quốc gia, ái quốc, quốc ca,
H Qua phân tích trên em hãy cho
biết : Từ ghép Hán Việt có mấy
loại chính ?
? Em có nhận xét gì về trật tự các
yếu tố trong từ ghép chính phụ ?
? Hãy so sánh cấu tạo vị trí và các
yếu tốt của từ ghép chính phụ Hán
Việt có gì giống và khác so với các
từ tiếng việt.
Học sinh rút ra ghi nhớ.
HS đọc to ghi nhớ ( sgk – trang
70)
Lấy ví dụ minh họa.
Gọi 1 hs đọc yêu cầu bài tập 3
trong sgk.
GV cho Hs làm bài tập theo nhóm
Gọi hs đọc yêu cầu của bài tập 4 –
sgk.
? Tìm 5 từ ghép Hán Việt có yếu tố
phụ đứng trước, yếu tố chính đứng
sau, 5 từ ghép Hán Việt có yếu tố
chính đứng trước, yếu tố phụ đứng
sau ?
- Sơn hà :
- Xâm phạm
- Giang san
Từ ghép đẳng lập
a. ái quốc, thủ môn, chiến thắng từ
cho học sinh làm ở nhà.
Yêu cầu :
- Yếu tố chính đứng trước : ái quốc, hữu
danh, đại diện, ưu thời, ái quần, tham
chiến, đình chiến, điện báo, đính hôn,
tuyệt vọng.
- Yếu tố phụ đứng trước : quốc hồn, dân
16
- Hướng dẫn hs về nhà làm bài tập trí, đại thắng, đại sự, bạc mệnh.
4 sgk.
ư
e.
E. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI :
- Nắm được các loại từ ghép Hán Việt và cách hiểu, cách sử dụng trong văn
cảnh.
- Xem lại tự sự, miêu tả, quá trình tạo lập văn bản để đối chiếu với bài làm số
1 trong tiết trả bài.
III. KIỂM NGHIỆM KẾT QỦA ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI DẠY .
Trước khi áp dụng phương pháp nêu ở trên
Năm học 2010 - 2011
Lớp
Sĩ
số
Điểm
7a
21
0
0
2
9,52
8
38,1
5
23,8
6
28,6
7b
20
0
3 - 4,5
0 - 2,5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7a
23
2
12
54,55
2
9,09
1
4,55
Quan sát bảng trên cho ta thấy rằng khi chưa áp dụng các phương pháp
đổi mới vào dạy học phần trăm số điểm khá giỏi đạt tỉ lệ rất thấp, có lớp không
có như lớp 7B năm học 2010-2011 không có em nào, trong khi đó số học sinh
đạt điểm yếu, kém lại đạt tỉ lệ rất cao.Sau khi áp dụng phương pháp mới đối với
lớp 7A, 7B năm học 2010 – 2011 và đối với lớp7A, 7B năm học 2011-2012, tôi
thu được kết quả như sau:
* Năm học 2010 - 2011
Nhìn vào kết quả trên ta thấy: tỉ lệ phần trăm số bài được điểm giỏi – khá
ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp không áp dụng chúng. Trong khi số bài được
điểm trung bình và yếu,kém được giảm đi rõ rệt so với lớp áp dụng.
17
Điều đó cho thấy kinh nghiệm của giáo viên trong việc phát huy được khả năng
tiềm ẩn của học sinh trong khi học để tìm ra tri thức, học sinh có cơ hội thể hiện
năng lực của mình, nó góp phần phân hoá trình độ của học sinh một cách tỉ mỉ,
5 - 6,5
3 - 4,5
0 - 2,5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7a
21
40
9
45
0
0
0
0
Năm học 2011 - 2012
Lớp
7a
Sĩ
số
23
Điểm
9 - 10
7 - 8,5
5 - 6,5
21,7
10
43,5
5
21,7
1
4,35
18
7b
22
4
18,2
7
31,8
11
3 - 4,5
0 - 2,5
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
28,6
9
42,8
6
tập trong SGK, vận dụng nó trong cuộc sống.
Chất lượng giờ học: Qua việc khảo sát ứng dụng, đối chứng chúng tôi
nhận thấy không khí của hai lớp học có sự khác nhau đáng kể. Các em học tập
có sự sôi nổi, hào hứng, bị lôi cuốn vào giờ học, vốn dĩ bị coi là khó khăn và
cứng nhắc. Từ yêu cầu sử dụng tiếng Việt cho đúng như là một tất yếu trong đời
thường và sử dụng hay có đạt hiệu quả cao hay không chỉ là yêu cầu của các nhà
văn, nhà thơ…
19
C . KẾT LUẬN
Để dạy được một tiết tiếng Việt mang lại hiệu quả cao đối với học sinh
vùng sâu, vùng xa như trường THCS Hạ Trung không phải là một điều đơn giản
bởi vốn dĩ môn tiếng Việt lâu nay rất công thức và khô khan. Đặc biệt là những
tiết dạy từ Hán Việt. Chính vì vậy nó đòi hỏi người giáo viên trong giảng dạy
luôn luôn có những biện pháp tổ chức cụ thể với tiết liên quan đến dạy Từ Hán
Việt. bản thân tôi chuẩn bị rất kĩ càng với 2 yếu tố rất quan trọng. Đó là làm sao
trang bị cho học sinh:
Một là: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các từ Hán – Việt.
Bằng cách nào để có thể nhận diện và phân biệt được chúng
- Về ý nghĩa: Từ Hán – Việt là những từ tiếng Việt thường phải được giải
nghĩa thì mới hiểu chúng một cách thấu đáo.
- Về mặt cấu tạo từ: theo đặc điểm cấu tạo danh từ của tiếng Hán thì yếu
tố phụ đặt trước yếu tố chính, ngược với trật tự cấu tạo từ tiếng Việt.
- Về phương diện ngữ cảm: các từ Hán – Việt thường có sắc thái trang
trọng, tao nhã.
Hai Là: Cách dạy yếu tố Hán – Việt
Khi soạn và dạy các yếu tố Hán – Việt, giáo viên không nên coi nội dung
từng bài học là bất biến mà cứng nhắc tuân theo nguyên xi trái lại, cần có sự
năng động, sáng tạo, biết cách điều chỉnh, bố trí lại tiết dạy để giò học từ ngữ
......................................................
không sao chép nội dung của người khác.
......................................................
NGƯỜI VIẾT
Bùi Văn Đạt
21
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
II. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
2
B. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
19
22