Nghiên cứu kết quả cắt đốt nội soi điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt đã có bíến chứng bí đái cấp tại bệnh viện 103 - Pdf 18

ĐẶT VẤN ĐỀ
U phì đại lành tính tuyến tiền liệt (Benign Prostatic Hyperplasia -
UPĐLTTTL) là bệnh hay gặp ở nam giới cao tuổi. Khi nền kinh tế phát triển,
tuổi thọ được kéo dài thì tỉ lệ bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt ngày
càng cao.
Ở Việt Nam nếu từ những năm 40 của thế kỷ trước, Hồ Đắc Di và Tôn
Thất Tùng chỉ gặp từ 3 - 4 trường hợp/năm, thì ngày nay số bệnh nhân này đã
chiếm vị trí số hai trong các bệnh về đường tiết niệu, sau bệnh sỏi tiết niệu.
Theo điều tra dịch tễ của Trần Đức Hoè (1995) ở 1000 nam giới tuổi từ 40 trở
lên thấy tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi 50 là 50%, lứa tuổi 60 là 60%, lứa tuổi 70 là
70% và lứa tuổi trên 80 là 100% [11].
U phì đại lành tính tuyến tiền liệt gây nên các biến chứng: Bí đái cấp,
nhiễm khuẩn niệu, sỏi bàng quang, túi thừa bàng quang, dãn niệu quản, dãn
đài bể thận, suy thận, tăng huyết áp
Trong đó bí đái cấp là biến chứng hay xảy ra, theo Verhamme KM tỷ lệ
bí đái cấp do u phì đại lành tính tuyến tiền liệt ở độ tuổi 40 - 49 là 2,2/1000
nam giới trên năm, tỷ lệ này tăng 11/1000 ở độ tuổi trên 80 [81]. Tại Việt
Nam bệnh nhân thường đến muộn tỷ lệ bí đái cấp trong các nghiên cứu cắt
đốt nội soi điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt chiếm khoảng 50% [37].
Cho đến nay cắt nội soi điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt vẫn
được coi là tiêu chuẩn vàng trong điều trị các rối loạn tiểu tiện do bệnh gây ra.
Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị bằng cắt đốt nội soi tại các nước phát triển có
giảm đi, nhưng lại tăng lên ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Khi có biến chứng bí đái cấp phải đặt thông tiểu là nguyên nhân chính
gây nhiễm khuẩn niệu ngược dòng, thời gian lưu sonde càng dài nguy cơ
nhiễm khuẩn niệu càng lớn, tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu tăng 3 – 10% mỗi ngày
lưu sonde [47], sau đặt sonde niệu đạo – bàng quang 4 – 7 ngày có tới 50%
1
bệnh nhân bị nhiễm khuẩn niệu với hệ thống dẫn lưu kín và > 90% với hệ
thống dẫn lưu hở [59]. Tình trạng nhiễm trùng niệu trước mổ làm tăng sinh
mạch máu, tăng thể tích tuyến tiền liệt.

- Mặt đáy phía trên có gờ ngang, mép trước ống dẫn tinh chia ra hai sườn.
+ Sườn phía trước hoặc bàng quang, chạy chéo xuống dưới và ra trước,
có lỗ niệu đạo sau chạy qua, bao quanh nó là cơ thắt vân [13].
+ Sườn phía sau hoặc còn gọi là túi tinh, chạy chéo xuống dưới và ra sau
chia hai phần bởi vết đứt chạy ngang ở sâu, hình cong lõm ở trước, ở đó là
các ống túi tinh đổ vào các ống dẫn tinh hợp thành ống xuất tinh. Chỗ lõm đó
bao gồm: ở phía trước là mép trước các ống dẫn tinh và phía sau là một gờ
ngang là mép sau của ống dẫn tinh, chạy ở giữa là rãnh giữa của TTL.
- Đỉnh ở phía dưới hay là mỏm tiền liệt tuyến có niệu đạo chạy ra ở mặt sau.
Tiền liệt tuyến ở người lớn có: chiều cao 30 milimet và ở đáy rộng
35milimet và dày 25milimet, nặng độ 20g. Bao quanh là bao xơ tế bào liên
3
kết mảnh, có nhiều sợi cơ và đàn hồi, có các dải đi vào sâu phân chia các nhân
tuyến [13].
- Tuyến tiền liệt nằm sau xương mu, mặt sau TTL liên quan với túi tinh
ống dẫn tinh và ngăn cách với trực tràng bởi cân Denonvilliers, Cân này có
hai lớp dính vào nhau (lá trước và lá sau), trải dài từ túi cùng Douglas đến
nhân xơ của tầng sinh môn [13].

Hình 1.1: Thiết đồ đứng dọc giữa qua chậu hông [22]
( Trích Nguyễn Quang Quyền (1997) Atlas giải phẫu người)
1.1.2. Giải phẫu vùmg của tuyến tiền liệt
Có nhiều quan điểm khác nhau về mô tả giải phẫu nhu mô phân chia các
vùng TTL, nhưng trước hết TTL không phải chỉ là một khối các tổ chức tuyến
hợp thành [8], [13], [32], [36].
4
- Lowsley 1912 cho rằng: TTL có 5 thuỳ mà nguồn gốc từ bào thai đã
phân biệt được: thuỳ sau, hai thuỳ bên, một thuỳ trước và một thuỳ trung gian
chỉ có ở bào thai sẽ teo mất đi sau khi sinh.
- Quan điểm này được Frank công nhận năm 1954.

* Động mạch
Tuyến tiền liệt được nuôi dưỡng bởi các nhánh của động mạch chậu
trong gồm [13], [36]:
Hình 1.3: Động mạch cấp máu tuyến tiền liệt
- Động mạch sinh dục bàng quang: bắt nguồn từ nhánh trước động
mạch chậu trong hoặc là nhánh chung với động mạch thẹn trong, chạy ở
hố chậu xuống dưới ra trước và vào trong phân chia ra:
+ Động mạch túi tinh, thừng tinh: chạy ở trong lớp cân Denonvilliers để
phân nhánh vào túi tinh và phần cuối của ống dẫn tinh và chỉ một phần cho
tiền liệt tuyến;
6
+ Một nhánh chạy trong rãnh bàng quang - tiền liệt tuyến phân
nhánh cho bàng quang;
+ Một nhánh chính chạy vào tiền liệt tuyến ở phía dưới và trong góc sau
ngoài tiền liệt tuyến;
+ Một nhánh không thường xuyên ở phía sau đi áp sát vào mặt sau
tiền liệt tuyến.
- Động mạch trực tràng giữa cho nhánh ở nền bàng quang, các túi
tinh và mặt sau tiền liệt tuyến.
* Tĩnh mạch:
Các tĩnh mạch TTL cùng với tĩnh mạch mu dương vật, tĩnh mạch
mu,tĩnh mạch bàng quang dưới tao nên đám rối Santorini bao quanh mặt
trước và hai bên tuyến tiền liệt. Từ đám rối này tách ra tĩnh mạch thẹn trong
và các tĩnh mạch bên TTL chạy về tĩnh mạch chậu trong. tĩnh mạch chảy vào
tĩnh mạch hạ vị [13], [36].
1.2. Cơ chế bệnh sinh
Cho đến nay việc xác định cơ chế bệnh sinh của UPĐLTTTL vẫn còn
nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả đều thừa nhận rằng:
Sự phát triển của UPĐLTTTL cần đến sự có mặt của androgen tinh hoàn
trong suốt quá trình phát triển của TTL từ tuổi dậy thì đến lúc già (Mc.

ảnh hưởng của điều hòa nội tiết các trung gian Fibroblast Growth Factor
(FGF) và Epidermal Growth Factor (EGF).
Isaass (1990), Tenniswood (1986) cũng nêu lên một sự mất cân bằng
khác ở tuổi già, giữa khu vực tế bào đang tăng trưởng và khu vực tế bào định
hướng chết theo chương trình (apoptosis). Chính các yếu tố tăng trưởng đã
làm mất sự hằng định (homeostatic) của mô tuyến làm cho các “tế bào gốc”
phát triển nhanh trong khi quá trình chết theo chương trình của tế bào biệt hóa
bị chậm lại. Hiện tượng này có thể tăng lên do viêm hay do các yếu tố miễn
dịch. Kết quả là số tế bào mầm tăng trưởng nhanh hơn là sự chết theo chương
trình (apoptosis) của tế bào còn lại.
- Vai trò của prolactine
Prolactine được bài tiết ở dưới đồi, nhưng chỉ có vai trò thứ yếu đối với
sự phát triển của TTL thông qua cơ chế:
+ Kích thích để hình thành các nội tiết tố nam.
+ Có tác dụng làm tăng khả năng liên kết giữa testosterone với các tế
bào biểu mô của TTL mà ở đó có các tiếp nhận, tác động hiệp đồng với nội
tiết tố nam.
Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của yếu tố tăng trưởng GH (growth
hormone). Các nguyên nhân khác như viêm, tinh dịch trào ngược…hệ thống
miễn dịch dưới tác động của các tế bào Lympho T hoạt hóa có thể sản xuất
các loại yếu tố tăng trưởng khác gây nên tăng sản [32].
1.3. Sinh lý bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt
Tuyến tiền liệt bao gồm các tuyến nhỏ nằm ở lớp hạ niêm sát cổ bàng
quang, khi TTL to làm chít hẹp cổ bàng quang, niệu đạo sau bị kéo dài ra
khúc khuỷu và chít hẹp lại, cổ bàng quang bị đội lên phía trên sàn. Trương lực
9
của cơ trơn bao xơ tuyến tiền liệt và cổ bàng quang tăng làm cho bàng quang
tống nước tiểu ra ngoài khó khăn [15], [17], [32].
Thể hiện trên lâm sàng là đái khó:
+ Khi đái bệnh nhân phải rặn mạnh

- U phì đại lành tính tuyến tiền liệt chèn ép vào các mạch máu nuôi
dưỡng chính nó, tạo nên các vùng nhồi máu và thiếu máu. Hiện tượng này
gây ra đái máu hoặc bí đái cấp một phần hay toàn bộ [15].
1.4. Bí đái cấp và nhiễm trùng niệu trong u phì đại lành tính tuyến tiền liệt
Quá trình phát triển của UPĐLTTTL đã gây nên các biến chứng: Bí đái,
nhiễm khuẩn, túi thừa bàng quang, sỏi bàng quang, dãn niệu quản, dãn đài bể
thận, suy thận, cao huyết áp
1.4.1. Bí đái cấp
Bí đái cấp (Acute urinary retention - AUR) là biến chứng hay xảy ra, nó
là tình trạng đột ngột bàng quang không thể tống được nước tiểu dẫn đến đau
đớn, bàng quang căng đầy nước tiểu và ngay lập tức cần phải giảm áp lực
trong bàng quang bằng thông tiểu [81].
Verhamme KM đã tiến hành điều tra 56958 nam giới (tuổi trung bình 58
trong 2,8 năm) cho thấy tỷ lệ bí đái cấp do UPĐLTTTL là 2,2/1000 người
trên năm, tỷ lệ này tăng theo tuổi, tuổi 40 - 49 là 2,2/1000, 11/1000 ở độ tuổi
trên 80 [81].
* Cơ chế
Ngày nay có nhiều giả thuyết lý giải cho bí đái cấp ở người bị
UPĐLTTTL.
- Yếu tố cơ học
+ U phì đại lành tính tuyến tiền liệt to làm chít hẹp cổ bàng quang, niệu
đạo sau bị kéo dài ra khúc khuỷu và chít hẹp lại. Cổ bàng quang bị đội lên
11
phía trên sàn, nhất là khi UTTL to cả ba thuỳ làm tắc lưu thông niệu đạo gây
ra bí đái cấp.
+ Sỏi bàng quang, cục máu đông làm cho cổ BQ bị phù nề. Nhiễm khuẩn
niệu làm tăng sinh mạch máu, tăng thể tích TTL làm tắc nghẽn gây bí đái cấp.
+ Tuyến tiền liệt bị nhồi máu, xung quanh chỗ nhồi máu phù nề làm cho
thể tích tuyến to lên chít hẹp cổ bàng quang gây bí đái cấp [15].
- Những yếu tố chức năng

* Tiêu chuẩn chẩn đoán NKN [19], [54], [72].
- Cấy khuẩn nước tiểu ≥ 10
5
VK/ml (< 2 mầm bệnh được phân lập) là
tiêu chuẩn chính.
- Hội chứng nhiễm trùng
- Hội chứng kích thích BQ (đái buốt, đái dắt, nước tiểu đục hoặc có máu ).
- Xét nghiệm nước tiểu khác: Soi tươi ≥ 3 BC/ vi trường nước tiểu không
ly tâm.
* Biểu hiện của nhiễm trùng niệu tại các cơ quan trên hệ tiết niệu.
- Viêm niệu đạo: Biểu hiện khi có dịch nhầy chảy ra từ niệu đạo (NĐ),
trong dịch nhầy có sự hiện diện của bạch cầu (BC) đa nhân. Viêm ngược
dòng, từ đó có thể gây viêm BQ và TTL hay xa hơn nữa. Niệu đạo cũng có
thể bị nhiễm khuẩn từ TTL, bàng quang xuống [20].
- Viêm BQ có thể do VK từ trên xuống hoặc ngược dòng từ NĐ lên, ở
nam giới không bao giờ có viêm BQ đơn độc do VK gây ra, phải kiểm tra
nhiễm khuẩn từ thận xuống hoặc do nhiễm khuẩn ngược dòng [20], [53].
- Viêm TTL đường vào chủ yếu từ NĐ nhất là khi làm các thủ thuật ở
NĐ (thông tiểu, nong niệu đạo…) làm cho TTL phù nề, xung huyết tăng thể
tích u gây nên tình trạng tắc nghẽn càng trầm trọng hơn.
- Thận bị nhiễm khuẩn thường do ngược dòng từ dưới lên, nhất là trong
UPĐLTTTL. Biểu hiện: đau vùng thận, sốt cao, đái đục, bạch cầu tăng cao
Ngoài ra NKN còn biểu hiện viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn…
13
1.4.3. Sự liên quan giữa bí đái cấp và nhiễm khuẩn niệu
Tình trạng nhiễm khuẩn niệu và bí đái cấp do UPĐLTTTL có sự liên
quan chặt chẽ với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả.
- Một trong những nguyên nhân quan trọng gây bí đái cấp là do nhiễm
khuẩn niệu gây viêm tăng sinh mạch máu, tăng thể tích TTL làm cho rối loạn
tiểu tiện và bí đái cấp thêm trầm trọng.

điều trị nội khoa nhằm tác động vào hai yếu tố trên [28].
* Các thuốc
- Nhóm thuốc ức chế thụ cảm thể α1 - adrenergic tác động lên các thụ
thể α1 - adrenergic ở cổ bàng quang và TTL làm giảm trương lực cơ trơn:
+ Prazosin 2mg và Alfuzosin 5mg Các thuốc này có tác dụng phụ, có
thể làm hạ huyết áp, chóng mặt, nhức đầu
- Nhóm ức chế enzym 5 α-Reductaza do đó Testosteron không chuyển
thành dihydrotestosteron được. Thuốc tác dụng lên mô tuyến, hạn chế và làm
nhỏ tuyến sau nhiều tháng, thuốc có một số tác dụng phụ như giảm cảm hứng
tình dục, bất lực. Các thuốc hay dùng: Narolin, fulatmide…
- Một số thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc: Tadenan được chiết suất từ
cây Pygeum africanun ở châu phi – Denkeroort (1977), ở Việt Nam có chế
phẩm được chiết suất từ cây trinh nữ hoàng cung bước đầu cho kết quả tốt.
* Chế độ chăm sóc theo dõi:
Chế độ luyện tập trong đó chú ý các bài tập tăng cường cho cơ bụng và
tầng sinh môn, điều trị các bệnh mạn tính, tránh ngồi lâu một tư thế sẽ gây ứ trệ
máu vùng tầng sinh môn, làm tăng các triệu chứng của bệnh. Trong quá trình
điều trị nội khoa nếu xuất hiện biến chứng cần chuyển phương pháp điều trị.
1.5.2. Các phương pháp điều trị ít sang chấn
* Áp nhiệt (Transurethral thermotherapy: T.U.M.T)
15
Là phương pháp đưa điện cực qua niệu đạo vào TTL để áp nhiệt, gây
hoại tử và xơ hoá, bằng máy Prostatron. Tuy nhiên tác dụng phụ của nó có thể
hun nóng các tổ chức cơ quan ở ngoài TTL.
* Đốt điện làm bốc hơi: (Transurethral electrovaporisation of the
prostate: TEVP, TUVP, TUEVP).
Các công trình nghiên cứu đều cho kết quả đáng khích lệ, nhưng tỉ lệ
đái máu sau mổ còn cao.
* Đốt bằng Laser Nd - YAG: Cũng là đốt để bốc hơi, gây hoại tử tổ chức
tế bào, kết quả cũng chỉ giải quyết đươc hiện tượng tắc nghẽn, về sau hiện

Hiện nay điều trị ngoại khoa là phương pháp mang lại kết quả rõ ràng
hơn cả [13]. Điều trị ngoại khoa bao gồm phẫu thuật bóc u và cắt đốt nội soi.
* Chỉ định chung trong điều trị ngoại khoa
- Bí đái hoàn toàn không hồi phục sau khi rút sonde niệu đạo.
- Nhiễm khuẩn niệu kéo dài, hay tái phát.
- Đái ra máu do UPĐLTTTL.
- Sỏi bàng quang, túi thừa bàng quang kết hợp.
- Các biến chứng ảnh hưởng đến chức năng thận.
- Ngoài ra còn áp dụng với các trường hợp không có điều kiện chăm sóc
và điều trị nội khoa, rối loạn tiểu tiện ảnh hưởng đến tới sức khỏe và công tác
của người bệnh.
* Phẫu thuật mở bóc UPĐLTTTL
Điều trị ngoại khoa UPĐLTTTL đã được Covillard, Good Fellow và
Young thực hiện từ năm 1639. Đến năm 1886, Mc Gill và Blfield đã áp dụng
bóc UTTL trên xương mu. Năm 1895, Fuller. E đã hoàn thiện kỹ thuật bóc
UPĐLTTTL ở trong vỏ tuyến. Năm 1904, Freyer đã nghiên cứu bóc u qua
đường bàng quang trên xương mu, Hryntchak (1927) cũng đã thực hiện bóc u
qua đường mở vào bàng quang và kỹ thuật cầm máu kỹ ở cổ bàng quang nhất
là điểm 5 giờ và 7 giờ.
Cho đến năm 1945, Millin đã thực hiện thành công kỹ thuật bóc UTTL
bằng đường mổ trước bàng quang sau xương mu [3], [17].
Ở Việt Nam năm 1938, Hồ Đắc Di và Tôn Thât Tùng lần đầu tiên mổ
bóc UTTL.
Hiện nay phẫu thuật mở bóc u tuyến tiền liệt thường áp dụng phương
pháp của Haris Hrynschak và Millin.
- Phương pháp Haris Hrynschak
17
(Theo J Sokeland, Benign prostate hyperplasia)
Hình 1.5: Phương pháp Haris Hrynschak [56]
Mở bàng quang bóc u và cầm máu các mạch máu BQ - TTL, được chỉ

quang của Thompson đã tạo điều kiện cho việc cắt và cầm máu cũng như
quan sát các tổn thương khác trong lòng bàng quang [21], [24], [26], [28,
[50], [70].
Năm 1955 ánh sáng “lạnh” ra đời và được áp dụng trong cắt đốt nội soi
UPĐLTTTL, Hopkin (1976) chế tạo máy cắt nội soi có sợi quang học giúp
giúp cắt được rõ. Thập niên 80 của thế kỷ XX với việc áp dụng camera –
video vào phẫu thuật cắt nội soi UPĐLTTTL nhờ đó không những cho phép
phẫu thuật viên thao tác thuận lợi, chính xác mà còn tạo thuận lợi cho sự phối
hợp giữa phẫu thuật viên và kíp gây mê.
Averous (1980), Bertrand (1981) nghiên cứu về hội chứng nội soi ở BN
được cắt nội soi UPĐLTTTL với tỷ lệ 0,7% và nó phụ thuộc vào: dung dịch
19
tưới rửa trong mổ, thời gian cắt, áp lực BQ khi tưới rửa và cắt xâm phạm vào
lớp vỏ của TTL hay không [78], [85].
Tuy nhiên những năm gần đây các nhà tiết niệu tỏ ra thận trọng hơn
trong việc chỉ định cắt đốt nội soi đối với UPĐLTTTL. Vì bên cạnh những
thành công của nó ra thì tỷ lệ tai biến, biến chứng không nhỏ. Do vậy một loạt
các phương pháp điều trị mới ra đời như làm hoá hơi TTL bằng điện, bằng
laser, bằng nhiệt Các phương pháp này tuy ít sang chấn nhưng cho đến nay
hiệu quả còn hạn chế chỉ áp dụng cho những u có nhỏ [9], [30].
Cùng với sự phát triển về phương tiện kỹ thuật thì việc nghiên cứu phác
đồ, đánh giá kết quả điều trị, tai biến, biến chứng, săn sóc bệnh nhân sau mổ
kết hợp với trình độ, kinh nghiệm phẫu thuật viên ngày một nâng cao. Do vậy
qui trình phẫu thuật cắt đốt nội soi UPĐLTTTL ngày càng hoàn thiện.
* Ưu nhược điểm của phẫu thuật cắt nội soi UPĐLTTTL
- Ưu điểm:
+ Phẫu thuật nhẹ nhàng, ít sang chấn.
+ Ít biến chứng, không có sẹo mổ.
+ Rút ngắn thời gian nằm điều trị, cải thiện chức năng tiểu tiện tốt [9].
- Nhược điểm:

90% [66], [73]. Sự cải thiện triệu chứng sau mổ là rất sớm và duy trì trong 2
năm đạt 91% [86].
* Dịch rửa trong cắt đốt nội soi
Cắt đôt nội soi là phẫu thuật thực hiện trong môi trường nước (dịch) do
đó có một số tai biến, biến chứng trong và sau mổ liên quan đến dịch rửa:
21
dịch rửa hấp thu vào máu gây tan máu dẫn đến suy thận cấp, dịch rửa làm
loãng máu, giảm natri huyết tương gây ra hội chứng nội soi.
- Các yêu cầu của dịch rửa
+ Vô khuẩn
+ Đẳng trương
+ Không dẫn điện
+ Không tạo khói khi cắt, đặc biệt khi dùng dao điện
- Các yếu tố đánh giá dịch rửa
+ Sự hấp thu dịch vào tuần hoàn: trung bình có 20ml dịch chảy vào máu
mỗi phút cắt. Cứ 1g tổ chức được cắt thì có 6 - 12 ml dịch rửa được hấp thu
vào máu và trọng lượng cơ thể tăng lên 61g và 9,2ml dịch được hấp thu thì
mất 1ml máu [14].
Dịch rửa hấp thu vào máu qua các xoang tĩnh mạch bị cắt làm tan máu
gây thiếu máu, lượng huyết sắc tố trong máu cao làm tắc các ống góp của thận
dẫn đến suy thận biểu hiện ure máu cao, thiểu niệu, vô niệu [14], [9].
+ Thời gian bán thải ở huyết tương,
+ Độ pha loãng máu và sự xuất hiện các chất chuyển hoá có thể gây độc
cho cơ thể.
Hiệu quả của một dung dịch rửa phụ thuộc vào áp lực thẩm thấu và độc
tính của nó. Dung dịch lý tưởng khi đẳng trương với huyết tương, không gây
huyết tán, không độc, không dẫn điện, không cản trở hiệu quả của dao điện
đảm bảo cho cắt thuận lợi và hiệu quả kinh tế [9].
* Các kỹ thuật cắt UTTL nội soi.
Năm 1943, Reed Nesbit và Roger Barnes lần đầu tiên công bố về cách

ụ núi, mở rộng ra hai bên ở 4h và 8h, cho phép nước ra vào dễ dàng.
23
+ Cắt tiếp hai thuỳ bên từ 4h đến 12h và từ 8h đến 12h hoặc theo vòng
tròn từ 4h đến 12h tiếp đến 8h.
+ Cắt mỏm TTL
+ Cắt mép trước.
+ Cắt và sửa phần còn sót lại quanh cơ thắt ngoài.
- Kỹ thuật cắt theo JB Blandy
+ Cắt ở điểm 6h từ cổ bàng quang tới ụ núi, mở rộng sang hai bên ở
điểm 5h và 7h, cầm máu Badenoch ở 5h và 7h.
+ Cắt tiếp từ 12h đến hai thuỳ bên.
+ Cắt tỉa vùng còn lại ở đỉnh tưyến và quanh cơ thắt ngoài.
- Xẻ cổ bàng quang
Thường áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Xơ hẹp cổ bàng quang.
+ U phì đại tuyến tiền liệt có trọng lưọng < 30g, không có thuỳ giữa,
bệnh nhân còn trẻ cần giữ chức năng sinh dục.
Kỹ thuật: xẻ từ cổ bàng quang tới sát ụ núi, xẻ sâu tới vỏ tuyến.
Có hai cách xẻ:
+ Xẻ một đường ở điểm 6h.
+ Xẻ hai đường theo hình chữ V theo hướng từ ụ núi tới lỗ niệu quản
trái và lỗ niệu quản phải.
- Phương pháp này ít gây sang chấn, đơn giản, phục hồi tiểu tiện nhanh.
* Tai biến trong phẫu thuật:
Mặc dù được coi là kỹ thuật được ưu tiên lựa chọn, nhưng vẫn có thể
xảy ra các tai biến, biến chứng sau đây [10], [31], [64]:
- Chảy máu lớn trong mổ
Trung bình lượng máu mất trong quá trình cắt u là 1,9 - 37ml/1g tổ
chức tuyến được cắt bỏ [58]. Như vậy việc chảy máu trong cắt đốt nội soi là
tất yếu xảy ra, tuy nhiên lượng máu mất lớn làm ảnh hưởng đến toàn trạng

Trích đoạn Thời gian lưu sonde bàng quang niệu đạo Tình trạng tiểu tiện sau rút sonde bàng quang niệu đạo Biến chứng sau mổ Phân loại kết quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status