MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hội thoại có vai trò quan trọng trong đời sống. Nó là hoạt động thường
xuyên và phổ biến của loài người khi sử dụng ngôn ngữ. Nếu thống kê, hội
thoại chiếm khoảng 70 – 80% thời gian con người sử dụng ngôn ngữ trong
một ngày. Không có hoạt động ngôn ngữ, mọi sự giao lưu sẽ đình trệ. Vì thế
hội thoại cũng là hình thức chủ yếu của hoạt động giao tiếp.
Có thể khẳng định rằng chúng ta không thể sống nếu như thiếu hội
thoại vì đây là nhu cầu tất yếu, giúp chúng ta trao đổi tâm tư, tình cảm, những
nhu cầu, hiểu biết của bản thân từ đó nâng cao mối quan hệ với mọi người
trong cộng đồng và thêm cái nhìn rộng mở ra thế giới bên ngoài để trưởng
thành hơn và sống tốt hơn. Xã hội càng phát triển, khoa học công nghệ càng
hiện đại thì nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin càng trở nên cấp bách và cần
thiết. Hội thoại là chìa khóa để chúng ta mở ra cánh cửa văn minh tiếp cận tri
thức của loài người.
Hội thoại có vai trò quan trọng như thế, vậy mà có thời gian, người ta
không quan tâm đến việc dạy hội thoại cho học sinh. Người ta nghĩ rằng, trẻ
dùng được tiếng mẹ đẻ đương nhiên đã biết nói và nghe, đã biết hội thoại.
Trong nhà trường tuy hội thoại cũng là nội dung được dạy nhưng lại bị bỏ
quên. Nội dung dạy hội thoại chưa được chú ý đúng mức, chưa nhận được
nhiều sự quan tâm từ các nhà giáo dục.
Ở Việt Nam, việc đưa hội thoại chính thức dạy trong nhà trường chậm
hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ từ cuối thế kỉ XX và
những năm đầu thế kỉ XXI, hội thoại mới được đưa vào chương trình môn
Tiếng Việt, được dạy thử nghiệm rồi dạy chính thức ở các cấp học. Hiểu biết
của giáo viên về hội thoại sơ lược, kinh nghiệm dạy hội thoại của giáo viên
1
còn ít ỏi, nhiều giáo viên đang gặp khó khăn khi dạy vấn đề này. Vì thế tôi
nhận thấy tầm quan trọng của việc dạy hội thoại trong trường học và tính cần
thiết phải đưa hội thoại trở thành một nội dung giảng dạy cơ bản.
Đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, việc dạy hội
các phương châm hội thoại… để có cái nhìn khái quát nhất về hội thoại. Tuy
nhiên tác giả chưa đề cập đến việc dạy hội thoại trong nhà trường, chưa nói về
cách tổ chức và hướng dạy hội thoại hiện nay.
2.2. Lịch sử nghiên cứu dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học
Ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới việc nghiên cứu và dạy hội
thoại cho học sinh Tiểu học diễn ra từ khá lâu và được duy trì và phát triển
triển đến tận ngày nay.
Ở Việt Nam, việc đưa hội thoại chính thức dạy trong nhà trường chậm
hơn. Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học ban hành năm 2001 mới đưa việc
học hội thoại thành một nội dung quan trọng. Chương trình ban hành năm
2006 tiếp tục khẳng định phương hướng trên. Sách Tiếng Việt đầu thế kỉ XXI
đã có nhiều loại bài tập và bài học dạy hội thoại. Đó là bước tiến mới trong
lịch sử dạy tiếng Việt.
Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo
quan điểm giao tiếp ở Tiểu học (Nxb Giáo dục, 2009) và cuốn Một số vấn đề
dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học (Nxb Giáo dục, 2008) có đề cập vấn đề
dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học. Trong hai cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra
được nội dung và phương pháp dạy hội thoại ở Tiểu học đồng thời nêu ra các
kiểu bài tập dạy hội thoại ở các lớp 1, 2, 3, 4, 5 và quy trình chung cho một
bài dạy hội thoại.
3
Đề cập đến vấn đề tổ chức dạy học hội thoại, tác giả Nguyễn Trí có đề
cập đến hai hướng là hướng phân tích và hướng thực hành. Tuy nhiên tác giả
chỉ dừng lại ở việc đưa ra lý thuyết và một số ví dụ minh họa tiêu biểu chứ
không đi vào nghiên cứu sâu ở bất kì lớp nào.
Như vậy, hội thoại là một vấn đề đã được thế giới nghiên cứu trong thời
gian dài. Vấn đề dạy học hội thoại cho học sinh Tiểu học cũng được đề cập
đến, tuy nhiên dạy hội thoại cho học sinh lớp 2 theo hướng phân tích và
hướng thực hành là nội dung chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Đây là
cơ sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu và phát triển.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Các vấn đề lí thuyết về hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Khái niệm hội thoại đã được nhiều tác giả đề cập đến. Sau đây chúng
tôi xin đưa ra một số định nghĩa:
- Theo tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán trong cuốn “Đại cương
ngôn ngữ học”, tập một (Nxb Giáo dục – Hà nội, 1995 – tr.122) thì “Hội
thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp
nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đề ra”.
- Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học”, tập hai
(Nxb Giáo dục, 2003) cũng đưa ra khái niệm“Hội thoại là hình thức giao tiếp
thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi
hoạt động ngôn ngữ khác”.
- Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Một số vấn đề dạy hội thoại cho học
sinh tiểu học” (Nxb Giáo dục, 2008) đề cập đến hội thoại và cho rằng“Hội
thoại là cuộc giao tiếp bằng lời (ở dạng nói hay dạng viết) tối thiểu giữa hai
nhân vật về một vấn đề nhằm đạt đích đã đặt ra”.
1.1.2. Bản chất của hội thoại
Hội thoại vừa là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vừa là một
hiện tượng xã hội. Cả hai bản chất đó đều bộc lộ và chi phối các hoạt động
hội thoại.
Sở dĩ nói hội thoại là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chính
trong hội thoại (và độc thoại), ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan
trọng của nó - chức năng giao tiếp. Chính trong hội thoại, ngôn ngữ mới phát
huy đầy đủ đặc điểm, sức mạnh, vẻ đẹp… của nó. Nói cách khác thì ngôn ngữ
6
trở thành ngôn ngữ sống nhờ vào hội thoại. Một ngôn ngữ nếu không được ai
muốn. Chúng ta sẽ không bộc lộ được suy nghĩ, không giao lưu tình cảm để
gần gũi, thân thiện và thiết lập các mối quan hệ cần thiết trong cuộc sống.
Bàn đến bản chất xã hội của hội thoại là bàn đến chức năng, mục đích
và nội dung hội thoại, là gắn hội thoại với các hoạt động xã hội.
Hoạt động hội thoại là hoạt động giao tiếp gắn rất chặt với các quy tắc
ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người. Học các quy
tắc hội thoại, từ quy tắc luân phiên lượt lời đến các phương châm điều hành
nội dung hội thoại, từ phép lịch sự đến việc thực hiện các quy luật cấu trúc
hội thoại, người học thực ra đã tiếp nhận nhiều quy tắc đạo đức, nhiều phép
ứng xử văn minh như sự tôn trọng thể diện người hội thoại, sự phối hợp, hợp
tác trong cuộc sống… Vì thế dạy hội thoại cho học sinh đồng thời cũng là dạy
đạo đức, dạy văn hóa ứng xử.
Hai bản chất nêu trên của hội thoại gắn chặt với nhau đến mức ở nhiều
nhân tố hoặc nhiều giai đoạn khó tách bạch đâu là tính chất ngôn ngữ, đâu là
tính chất xã hội. Điều ấy không có nghĩa là không nhận thấy hai bản chất này
trong hiện tượng hội thoại.
1.1.3. Các nhân tố giao tiếp và hội thoại
Hội thoại là một trong những hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ có vị
trí quan trọng nhất. Vì thế các nhân tố tham gia vào cuộc giao tiếp (như ngữ
cảnh, ngôn ngữ, văn bản) cũng là các nhân tố tham gia vào cuộc thoại.
1.1.3.1. Ngữ cảnh
Bàn đến ngữ cảnh hội thoại là bàn đến nhân vật hội thoại (giao tiếp) và
hiện thực bên ngoài hội thoại (hay hiện thực ngoài văn bản, ngoài diễn ngôn).
Đó là các nhân tố có tác động lớn đến hội thoại (văn bản).
8
• Nhân vật hội thoại (giao tiếp)
- Nhân vật hội thoại (giao tiếp) là những người tham gia hội thoại (giao
tiếp). Có hai yếu tố của nhân vật hội thoại ảnh hưởng đến cuộc hội thoại là
vai hội thoại (giao tiếp) và quan hệ liên cá nhân.
- Nói đến vai hội thoại (giao tiếp) là nói đến vị trí của nhân vật trong
vị thế yếu. Người ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một cách tự giác hoặc
ngẫu nhiên, có chủ đích hoặc không có chủ đích cuộc giao tiếp, cuộc hội
thoại. Ngược lại, người ở vị thế giao tiếp yếu sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội
dung hội thoại do người ở vị thế giao tiếp mạnh nêu ra.
• Hiện thực bên ngoài hội thoại
Bất kì cuộc hội thoại nào cũng xoay quanh một phạm vi hiện thực nhất
định. Phạm vi hiện thực đó trở thành hiện thực – đề tài của hội thoại. Các
cuộc hội thoại lại diễn ra trong một hoàn cảnh xã hội nào đó, một môi trường
hội thoại xác định, một tình huống hội thoại cụ thể. Các yếu tố trên hợp thành
hiện thực bên ngoài hội thoại nhưng có tác động quan trọng đến hội thoại. Có
yếu tố tác động trên phạm vi rộng, theo cách gián tiếp như hiện thực – đề tài
của hội thoại, hoàn cảnh xã hội. Có yếu tố tác động trên phạm vi hẹp, theo
cách trực tiếp như môi trường hội thoại, tình huống hội thoại.
Các yếu tố hiện thực bên ngoài hội thoại bao gồm:
- Hiện thực – đề tài hội thoại
Hiện thực – đề tài hội thoại bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên và xã
hội, thế giới tâm linh và các biểu hiện tâm lí của con người, ngôn ngữ và việc
sử dụng ngôn ngữ… được đưa vào làm đề tài của hội thoại.
10
Mỗi cuộc hội thoại chỉ có thể đề cập đến một bộ phận của hiện thực
làm đề tài hội thoại.
- Hoàn cảnh xã hội
GS. Đỗ Hữu Châu gọi hoàn cảnh xã hội là hoàn cảnh giao tiếp rộng.
Như vậy, xét về mặt tên gọi thì hai cách gọi này là khác nhau nhưng chúng
đều giống nhau về mặt ý nghĩa.
Hoàn cảnh xã hội bao gồm các đặc điểm về lịch sử, địa lí, văn hóa,
nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật, quân sự, giáo dục, tâm lí dân tộc và xã hội,
ngôn ngữ, trang phục, âm nhạc… của dân tộc, bộ tộc, cộng đồng người… nơi
diễn ra hội thoại. Các điều kiện trên có ảnh hưởng ít, nhiều, đậm, nhạt khác
nhau… đến các cuộc hội thoại.
đặc điểm riêng khác nhau. Ngôn ngữ nói có những đặc thù:
o Có thể sử dụng tất cả các lớp từ trong vốn từ của một ngôn ngữ.
o Thường sử dụng các cấu trúc ngữ pháp đơn giản, giản lược… kể cả các
cách diễn đạt đơn giản không theo quy tắc ngữ pháp chuẩn mực, nói tắt…
o Chú trọng sử dụng ngữ điệu để diễn đạt một số nội dung thông tin và
nội dung liên quan đến tình cảm, biểu đạt thái độ… của người nói.
o Được sự phụ trợ rất có hiệu quả của các yếu tố phi ngôn ngữ của người
tham gia hội thoại.
• Ngữ vực
Trong giao tiếp, có những chuẩn mực ngôn ngữ được cả xã hội hoặc
cộng đồng thừa nhận, bên cạnh đó lại có các phương ngữ địa lí, các loại biệt
ngữ xã hội… Còn căn cứ vào cách dùng có thể nói đến các ngữ vực khác
nhau:
12
o Ngữ vực quy thức: dùng để nói với những người quen biết ít hoặc chưa
quen biết.
o Ngữ vực thân tình: dùng để giao tiếp giữa những người có quan hệ
thân thiết với nhau.
o Ngữ vực quy nghi thức: dùng để giao tiếp giữa những người tuy có
biết nhau nhưng không thân thiết.
• Ngôn ngữ cá nhân
Ngôn ngữ mỗi cá nhân dùng khi giao tiếp, hội thoại đều có dấu ấn của
ngôn ngữ chuẩn mực, của phương ngữ, của ngữ vực, thậm chí của cả biệt ngữ
xã hội, đồng thời kèm theo là những sáng tạo riêng của cá nhân.
1.1.4. Vị trí của hội thoại trong đời sống, trong văn chương và trong nhà
trường
1.1.4.1. Vị trí của hội thoại trong đời sống
Hội thoại có vai trò quan trọng trong đời sống. Có thể khẳng định rằng
chúng ta không thể sống nếu thiếu đi hội thoại vì đó là nhu cầu tất yếu và hoạt
động thường xuyên của con người. Qua hội thoại chúng ta có cơ hội giao lưu
nhau trong dòng diễn biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ
tính cách nhân vật. Tức là với mỗi một cuộc hội thoại giữa các nhân vật hay
ngay cả khi nhân vật trong truyện độc thoại nội tâm thì phần nào cho độc giả
hiểu được tâm trạng của nhân vật và từ đó có thể đánh giá về nhân vật với các
tính cách như hiền hậu, nhu mì, thẳng thắn, trung thành hay độc ác, thâm
hiểm… Đối với một số truyện thì có thể trong mỗi cuộc thoại lại thể hiện một
tâm trạng khác nhau của nhân vật như: buồn, vui, lo lắng hay hờn ghen, giận
dỗi… Đó là do hoàn cảnh, tình tiết trong cốt truyện tạo nên. Tất cả những
14
cuộc thoại đó góp phần tạo sự đa sắc màu trong tính cách từng nhân vật khiến
người đọc cảm thấy thu hút và muốn tìm hiểu, theo dõi.
Ngoài ra, các cuộc hội thoại còn nhằm bộc lộ mâu thuẫn, thúc đẩy sự
phát triển của tình tiết truyện. Mỗi một truyện hay một lớp kịch đều tồn tại
những mâu thuẫn và tình tiết nhất định, mâu thuẫn, tình tiết càng gay cấn,
càng nóng bỏng thì càng lôi cuốn độc giả.
Như vậy, mỗi một truyện đều cần thiết phải có những cuộc hội thoại.
Dù những cuộc thoại đó có diễn ra trong thời gian ngắn hay dài thì đều có ý
nghĩa quan trọng. Đó là một yếu tố cơ bản để tạo nên thành công cho truyện.
Nếu truyện mà không có các cuộc thoại giữa các nhân vật thì rất buồn tẻ và
nhàm chán, khó đi vào nội tâm của người đọc.
Cũng qua hội thoại người đọc sẽ phần nào hình dung được bối cảnh
giao tiếp, không gian giao tiếp để có cái nhìn, sự đánh giá khách quan hơn về
thực tế truyện kể. Có những cuộc thoại mà tác giả xây dựng thành công tới
mức khắc họa rõ ràng đặc điểm, lối sống của một số vùng miền dân tộc qua
cách nói, qua ngôn ngữ của các nhân vật.
Giống như trong đời sống, trong văn chương không thể thiếu đi hội
thoại bởi hội thoại chính là linh hồn của tác phẩm. Tác phẩm hay phải là tác
phẩm xây đựng được tình tiết hấp dẫn, ý tưởng mới lạ… và điều đó chỉ có thể
được tạo nên thông qua các cuộc hội thoại giữa các nhân vật.
1.1.4.3. Vị trí của hội thoại trong nhà trường
đã có nhiều loại bài tập và bài học dạy hội thoại. Đó là bước tiến mới trong
lịch sử dạy tiếng Việt.
16
1.2. Vấn đề dạy học hội thoại ở lớp 2
1.2.1. Nội dung dạy hội thoại trong chương trình Tiếng Việt lớp 2
Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học năm 2000 đặt mục tiêu “hình
thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nói, nghe,
viết) để học tập giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi.”
Xuất phát từ mục tiêu trên mà nội dung dạy Tiếng Việt ở tiểu học đã
chú trọng đến dạy phát triển lời nói cho học sinh thông qua nội dung dạy hội
thoại. Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học đưa hội thoại
thành một nội dung học tập. Các chương trình này quy định các kĩ năng cần
rèn luyện trong phần nội dung chương trình và mức độ cần đạt được trong
phần chuẩn kiến thức và kĩ năng.
Chương trình Tiếng Việt lớp 2 ở Tiểu học (ban hành năm 2006) quy
định các kiến thức và kĩ năng cần học và rèn luyện phục vụ cho dạy hội thoại
như sau:
1.2.1.1. Nội dung chương trình
- Kiến thức Tập làm văn
+ Sơ giản về đoạn văn và nội dung của đoạn văn
+ Một số nghi thức lời nói: chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu
cầu, đề nghị, tự giới thiệu; đáp lời chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu,
đề nghị, tự giới thiệu.
- Kĩ năng
Nghe:
+ Nghe và trả lời câu hỏi về những mẩu chuyện có nội dung đơn giản
gần gũi với lứa tuổi.
+ Nghe – viết chính tả một đoạn văn, đoạn thơ hoặc bài thơ ngắn.
Nói:
17
Nói
Sử dụng nghi
thức lời nói
- Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ,
yêu cầu, bày tỏ sự ngạc nhiên, thán phục;
biết đáp lại những lời nói đó.
- Biết dùng từ xưng hô, biết nói đúng vai
18
trong hội thoại.
Đặt và trả lời
câu hỏi
- Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Ai?, Cái
gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu?, Bao giờ?
- Biết đặt và trả lời câu hỏi về những nội
dung đơn giản trong bài học.
Thuật việc, kể
chuyện
- Kể rõ ràng, đầy đủ một đoạn truyện
hoặc một câu chuyện đã học (dựa vào
tranh và câu hỏi gợi ý).
- Biết nói lời nhận xét đơn giản về nhân
vật, nội dung của câu chuyện đã nghe, đã
học; bộc lộ được tình cảm, thái độ với
nhân vật.
Phát biểu,
thuyết trình
- Biết giới thiệu vài nét về bản thân và
những người xung quanh.
Giới thiệu vài
nét về bản thân,
Bài tập tập sử dụng nghi thức lời nói:
Đầu bài kiểu bài tập này gồm một lời trao hay lời đáp. Cũng có khi
SGK dùng tranh ảnh mô tả tình huống giao tiếp, trong đó một nhân vật nói lời
trao hay lời đáp. HS sẽ căn cứ vào các dữ kiện đã cho, đóng vai nhân vật còn
lại để nói tiếp lời đáp hay lời trao là một nghi thức lời nói.
Ví dụ:
Đây là bài tập gồm lời trao, người làm bài cần điền lời đáp là một nghi
thức lời nói.
Viết lời đáp của Nam trong tình huống sau:
Một người lớn tuổi chào Nam:
- Chào cháu.
20
- …
(SGK Tiếng Việt 2, tập hai, tr.12)
Bài tập lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp tình huống giao tiếp:
Đề bài tập gồm vài ba câu miêu tả tình huống giao tiếp. Sau đó đề bài
đưa ra yêu cầu HS đưa ra một nghi thức lời nói phù hợp.
Đề bài đó có thể có tranh minh họa hay không có tranh minh họa cho
tình huống giao tiếp.
Đề bài đòi hỏi người làm bài đưa ra lời chào:
Ví dụ:
Nói lời của em chào bố mẹ để đi học.
+ Mục đích của bài tập
Bài tập nhằm rèn luyện việc vận dụng các nghi thức lời nói phù hợp với
các tình huống giao tiếp đề bài đã ra.
+ Tình huống giao tiếp
Tình huống giao tiếp chung của kiểu bài tập này có thể mô tả như sau:
Giữa các nhân vật xuất hiện những hoạt động (mua bán, trao đổi, tranh
luận…) đòi hỏi dùng nghi thức lời nói để giao tiếp. Trong hoàn cảnh ấy lời
đáp nên như thế nào nếu người mở đầu dùng nghi thức lời nói đúng chỗ?
Nói hay viết lời đáp trong các trường hợp sau:
- Mẹ ơi, đây có phải con hươu sao không ạ?
- Phải đấy con ạ.
- …
(SGK Tiếng Việt 2, tập hai, tr. 49)
22
Dạng đề 2: Cho một tình huống giao tiếp, yêu cầu người làm bài đưa ra
một lời đáp để hoàn chỉnh đoạn thoại phù hợp tình huống đó.
Ví dụ:
Em muốn mượn bạn quyển truyện, bạn bảo “truyện này tớ cũng đi
mượn”. Em đáp lời thế nào?
+ Phương pháp chuẩn bị lời đáp hoặc lời trao
Ở kiểu bài tập này, người làm phải trải qua bốn bước:
Bước 1: Rút ra tình huống giao tiếp (với đề dạng 1) hay suy nghĩ về
tình huống giao tiếp (với dạng đề 2).
Bước 2: Đưa ra lời đáp hoặc lời trao dự kiến.
Bước 3: Xem xét tính phù hợp của lời đáp hoặc lời trao với tình huống
giao tiếp.
Bước 4: Sửa chữa, hoàn chỉnh lời đáp hoặc lời trao.
Ví dụ:
Dự kiến lời đáp của người con trong đoạn thoại sau:
- Mẹ ơi, đây có phải con hươu sao không ạ?
- Phải đấy con ạ.
- …
SGK Tiếng Việt 2, tập hai đưa ra 3 lời đáp để HS lựa chọn:
- Trông nó dễ thương quá!
- Nó giống con hươu trong phim thế, mẹ nhỉ?
- Nó xinh quá!
1.2.3. Hai hướng dạy học hội thoại
Đây là trọng tâm nghiên cứu của đề tài, ở phần này chúng tôi chỉ xin
Bước này cố gắng làm rõ những diễn biến chính theo từng đề tài cuộc thoại
GV cho HS dựa trên kết quả phân tích tình huống hội thoại, mỗi em nêu ra
cách giải quyết vấn đề đặt ra trong đề bài. Các em dùng trí tưởng tượng kết
hợp với các hiểu biết của bản thân liên quan đến đề tài để nêu ra khái quát các
diễn biến chính trong cuộc thoại. Mỗi đề tài hội thoại theo quy ước xã hội sẽ
bao gồm một số hoạt động chính.
Bước 3: Thực hành hội thoại
Có thể thực hành tối thiểu hai lần hoặc nhiều hơn tùy theo quỹ thời gian
dành cho bước này. Điều quan trọng là sau mỗi lần thực hành, giáo viên và
học sinh nhận xét xem các lời thoại có gắn với nội dung cuộc thoại, có phù
hợp với hoàn cảnh xã hội, môi trường và nhân vật tham gia hội thoại không,
đã giải quyết được vấn đề đặt ra cho cuộc hội thoại chưa, đạt được đích của
hội thoại không? Ngoài ra còn có thể nhận xét về cách sử dụng ngữ điệu,
các yếu tố phụ trợ cho lời nói, việc thực hiện các quy tắc và phương châm hội
thoại…Lần thực hành sau cần phát triển các kết quả đạt được, khắc phục các
nhược điểm của lần thực hành trước sao cho lần sau hoàn chỉnh hơn lần trước.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, trong chương 1 chúng tôi đã trình bày các vấn đề lí thuyết về
hội thoại bao gồm: một số vấn đề lí thuyết về hội thoại, vị trí của hội thoại
trong đời sống, trong văn chương và trong nhà trường. Đồng thời chúng tôi
cũng nói tới vấn đề dạy học hội thoại ở lớp 2 với các nội dung: dạy hội thoại
trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, các kiểu bài tập dạy hội thoại ở lớp này,
hai hướng dạy dạy học hội thoại thường dùng và quy trình dạy bài hội thoại.
Đây chính là cơ sở lí luận mà chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu khi thực hiện đề
tài này.
Chương 2
25