Bài giảng “Xã hội học đại cương” potx - Pdf 19

Bài giảng
“Xã hội học đại
cương”
MỤC LỤC
Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA XÃ HỘI HỌC 5
1.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC 6
1.1.1. Tiền đề ra đời của môn xã hội học 6
1.1.2 Khái niệm xã hội học 8
1.1.3. Đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học 9
1.1.4. Các lý thuyết xã hội học chủ yếu 23
1.1.5. Sự phát triển của xã hội học ở Việt nam 25
1.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC 26
1.2.1. Đặc điểm của tri thức xã hội học 27
1.2.2. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học 29
1.2.3. Mối liên hệ của xã hội học với các môn khoa học khác 30
1.3. CHỨC NĂNG CỦA XÃ HỘI HỌC 30
1.3.1. Chức năng nhận thức: 30
1.3.2. Chức năng thực tiễn 31
1.3.3 Chức năng tư tưởng 31
Chương 2: CƠ CẤU XÃ HỘI 32
2.1. CƠ CẤU XÃ HỘI: 32
2.1.1. Khái niệm cơ cấu xã hội: 32
2.1.2. Các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản: 32
2.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ cấu xã hội: 35
2.2. VỊ THẾ XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ XÃ HỘI: 36
2.2.1. Vị thế xã hội: 36
2.2.2. Vai trò xã hội: 37
2.2.3. Quan hệ giữa vị thế xã hội và vai trò xã hội: 39
2.3. BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI: 39
2.3.1. Bình đẳng xã hội: 39
2.3.2. Bất bình đẳng xã hội: 40

4.2.2. Đặc trưng của cộng đồng xã hội: 64
4.2.3. Phân loại cộng đồng xã hội: 64
4.2.4. Phạm vi nghiên cứu cộng đồng xã hội của xã hội học: 64
4.3. TỔ CHỨC XÃ HỘI: 65
4.3.1. Khái niệm: 65
4.3.2. Phân loại: 66
4.3.3. Một số dạng của tổ chức xã hội: 67
4.4. THIẾT CHẾ XÃ HỘI: 69
4.4.1. Khái niệm: 69
4.4.2. Đặc điểm của thiết chế xã hội: 69
4.4.3. Chức năng của thiết chế xã hội: 70
4.4.4. Các loại thiết chế xã hội cơ bản: 71
4.4.5. Một số quan niệm về thiết chế xã hội: 71
Chương 5: VĂN HOÁ VÀ LỐI SỐNG 73
5.1. KHÁI NIỆM VĂN HOÁ: 73
5.2. LOẠI HÌNH VĂN HOÁ: 74
5.2.1. Văn hoá vật chất (văn hoá vật thể): 74
5.2.2. Văn hoá tinh thần (văn hoá phi vật thể): 74
5.3. CƠ CẤU VĂN HOÁ: 75
5.3.1. Chân lý: 75
5.3.2. Giá trị: 76
5.3.3. Mục tiêu: 77
5.3.4. Chuẩn mực: 77
5.3.5. Biểu tượng: 78
5.3.6. Ngôn ngữ: 79
5.4. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HOÁ: 79
5.5. LỐI SỐNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG CÓ VĂN HOÁ: 80
5.5.1. Khái niệm lối sống: 80
5.5.2. Phân loại lối sống: 80
5.5.3. Những vấn đề nghiên cứu chủ yếu về lối sống: 81

8.2. XÃ HỘI HỌC ĐÔ THỊ 120
8.2.1. Khái niệm đô thị 121
8.2.2. Đặc trưng của đô thị 122
8.2.3. Cấu trúc của đô thị 122
8.2.4. Sự hình thành và phát triển của đô thị 123
8.2.5. Nội dung chủ yếu của xã hội học đô thị 125
8.2.6. Quá trình đô thị hóa ở Việt nam 127
8.3. XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH: 129
8.3.1. Khái niệm gia đình: 129
8.3.2. Nội dung nghiên cứu của xã hội học gia đình: 130
Chương 9: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC 134
9.1. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC 134
9.1.1. Chuẩn bị 135
9.1.2. Thu thập thông tin cá biệt 138
9.1.3. Xử lý và phân tích thông tin 139
9.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC140
9.2.1. Phân tích tài liệu 140
9.2.2. Quan sát 141
9.2.3. Phỏng vấn 142
9.2.4. Phương pháp trưng cầu ký kiến bằng bảng hỏi (Ankét) 145
9.2.5. Xây dựng bảng hỏi 146
9.3. CHỌN MẪU 148
9.3.1. Nghiên cứu trường hợp (case study) 148
9.3.2. Nghiên cứu chọn mẫu 149
Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA XÃ HỘI HỌC
Nội dung chính của chương này là giới thiệu lịch sử hình thành và phát
triển của xã hội học trong đó nhấn mạnh tiền đề ra đời của xã hội học cũng như
những đóng góp chủ yếu của các nhà sáng lập xã hội học. Trên cơ sở đó,
chương này đề cập một cách khái quát các lý thuyết xã hội học chính hiện nay
và sự hình thành phát triển của xã hội học ở Việt nam. Trọng tâm của chương

ở Châu Âu đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ. Trước hết, trong lĩnh vực kinh tế,
các cuộc cách mạng công nghiệp đã đánh dấu bước chuyển biến của xã hội
Phương Tây từ một hệ thống xã hội nông nghiệp truyền thống sang một hệ
thống xã hội công nghiệp hiện đại; kiểu sản xuất phong kiến bị sụp đổ trước sức
mạnh của thương mại và công nghệ; lao động thủ công được thay thế bằng lao
động máy móc; hệ thống tổ chức kinh tế truyền thống được thay thế bằng các tổ
chức kinh tế của xã hội hiện đại
Biến đổi kinh tế kéo theo những biến đổi về xã hội: nông dân bị đuổi ra
khỏi ruộng đất trở thành người bán sức lao động, di cư hàng loạt vào trong các
1
Xem Phan Trọng Ngọ (1997); Chung Á và Nguyễn Đình Tấn (1997); Phạm Tất Dong và Lê
Ngọc Hùng (2001)
thành phố tìm kiếm việc làm và bị thu hút vào các nhà máy, công xưởng tư bản;
của cải ngày càng được tập trung vào trong tay giai cấp tư sản; quá trình đô thị
hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng, số lượng các thành phố tăng lên, qui mô
của các thành phố được mở rộng; vai trò của các tổ chức tôn giáo trở nên mờ
nhạt; cơ cấu của gia đình, hệ thống các giá trị văn hoá truyền thống có sự biến
đổi; luật pháp ngày càng quan tâm đến việc điều tiết các quan hệ kinh tế; các
thiết chế xã hội và tổ chức hành chính cũng dần thay đổi theo hướng thị dân hoá
và công dân hoá
Sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã
phá vỡ trật tự xã hội phong kiến đã tồn tại từ trước đó. Bối cảnh kinh tế xã hội
lúc bấy giờ đã làm nảy sinh nhu cầu giải thích các hiện tượng mới trong xã hội,
lập lại trật tự và ổn định xã hội, là cơ sở để xã hội học ra đời, tách khỏi triết học
để nghiên cứu xã hội một cách cụ thể hơn.
b. Tiền đề về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Thế kỷ 18, 19 nhân loại đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của các
khoa học tự nhiên. Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và đặc biệt là
phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng là nhân tố quan trọng cho sự ra đời
của xã hội học. Lần đầu tiên trong lịch sử khoa học nhân loại, thế giới hiện thực

mạng tư sản là nhân tố gần nhất đối với việc phát sinh các lý thuyết xã hội học.
1.1.2 Khái niệm xã hội học
Về thuật ngữ: Xã hội học (Sociology) có gốc ghép từ chữ La tinh socius
hay societas có nghĩa là xã hội với chữ Hi lạp ology hay logos có nghĩa là học
thuyết hay nghiên cứu. Như vậy xã hội học được hiểu là học thuyết về xã hội
hay nghiên cứu về xã hội.
Về mặt lịch sử: August Comte- người Pháp là người đầu tiên đưa ra
thuật ngữ xã hội học vào năm 1838. Ông chủ trương áp dụng mô hình phương
pháp luận của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa thực chứng vào nghiên cứu các
qui luật của sự biến đổi xã hội
Từ khi xuất hiện đến nay xã hội học trải qua nhiều giai đoạn phát triển ở
nhiều quốc gia khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội học. Các
định nghĩa này có thể khái quát thành ba xu hướng như sau:
a. Định nghĩa xã hội học là khoa học về hệ thống xã hội
Ví dụ định nghĩa xã hội học của V. Đôbơrianốp (Viện Xã hội học Liên xô):
“Xã hội học Mác - Lênin là khoa học nghiên cứu những quá trình và hiện tượng
xã hội xét theo quan điểm tác động lẫn nhau một cách có qui luật giữa các lĩnh
vực hoặc các mặt cơ bản của xã hội”
2
.
Xu hướng này bị phê phán là chỉ tập trung vào cái xã hội mà quên mất con
người, chỉ tập trung vào cái khái quát mà quên cái cụ thể, nhấn mạnh cái toàn
bộ bỏ qua cái bộ phận… tương tự như người ta chỉ “thấy rừng mà không thấy
cây”.
b. Định nghĩa xã hội học là khoa học nghiên cứu về hành động xã hội
Ví dụ định nghĩa xã hội học của J.H.Phichtơ (Loyola Univeristy-Mỹ): “Xã
hội học là công cuộc nghiên cứu một cách khoa học những con người trong mối
tương quan với những người khác”
3
.

đôi”
6
: con người – xã hội, vi mô – vĩ mô, khái quát – cụ thể, chất – lượng…Điều
này gây khó khăn cho những người bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu xã hội học
nhưng cũng chính nó tạo nên sự lý thú của môn khoa học này.
Trên cơ sở phân tích các định nghĩa khác nhau về xã hội học, chúng ta có
thể đưa ra định nghĩa chung nhất về xã hội học như sau: xã hội học là khoa học
nghiên cứu qui luật của sự nảy sinh, biến đổi và phát triển mối quan hệ giữa
con người và xã hội.
1.1.3. Đóng góp của các nhà sáng lập ra xã hội học.
a. August Comte (1798-1857)
August Comte là nhà lý thuyết xã hội, nhà thực chứng luận người Pháp.
August Comte sinh năm 1798 trong một gia đình Giatô giáo và theo xu hướng
quân chủ, nhưng ông trở thành một người có tư tưởng tự do và cách mạng rất
sớm. Năm 1814, ông học trường Bách khoa. Năm 1817 làm thư ký cho Saint
Simon. Comte là người sáng lập ra “chủ nghĩa thực chứng”. Năm 1826, ông bắt
đầu giảng giáo trình triết học thực chứng. Comte chịu ảnh hưởng của triết học
Ánh sáng và chứng kiến các biến động chính trị xã hội, các cuộc cách mạng
công nghiệp và xung đột giữa khoa học và tôn giáo ỏ Pháp. Comte là người đầu
tiên đưa ra thuật ngữ “xã hội học” vào năm 1838. Công trình cơ bản của August
Comte là “Triết học thực chứng” (1830 – 1842) và “Hệ thống chính trị học thực
chứng” (1851 – 1854). Đóng góp chủ yếu của Comte là về phương pháp luận xã
hội học, quan niệm về cơ cấu của xã hội học, và về biến đổi xã hội
4
Sdd
5
Xem Trần Thị Kim Xuyến (2002)
6
Xem Pham Tất Dong và Lê Ngọc Hùng (2001)
Về phương pháp luận xã hội học

học. Cũng như so sánh trong sinh vật học, việc so sánh xã hội hiện tại với xã hội
trong quá khứ hay so sánh các hình thức, các dạng, các loại xã hội với nhau để
phát hiện ra sự giống và khác nhau giữa các xã hội đó. Trên cơ sở các thông tin
thu được, có thể khái quát các đặc điểm chung, các thuộc tính cơ bản của xã hội.
Phân tích lịch sử: Lúc đầu Comte coi phương pháp phân tích lịch sử là
một dạng của phương pháp so sánh: so sánh xã hội hiện tại với xã hội quá khứ,
nhưng sau đó Comte chỉ ra tầm quan trọng đặc biệt của phương pháp này.
Phương pháp phân tích lịch sử được hiểu là việc quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng sự vận
động lịch sử của các xã hội, các sự kiện, các hiện tượng xã hội để chỉ ra xu
hướng, tiến trình biến đổi xã hội.
Như vậy về phương pháp luận nghiên cứu, Comte chưa chỉ ra đầy đủ,
chính xác theo tiêu chuẩn khoa học ngày nay về các đặc điểm, thủ tục, các qui
tắc cụ thể của các phương pháp nghiên cứu xã hội học. Mặc dù vậy, quan điểm
phương pháp luận của Comte là rất quan trọng và có ý nghĩa đặt nền móng cho
xã hội học trong bối cảnh lý luận và phương pháp khoa học xã hội đầu thế kỷ
XIX. Comte đã mở đầu cho một thời kỳ xây dựng và phát triển một khoa học
mới mẻ là xã hội học.
Về cơ cấu của xã hội học
Comte chịu ảnh hưởng của các khoa học tự nhiên như vật lý học và sinh
học không chỉ về phương pháp nghiên cứu và còn về quan niệm cơ cấu của xã
hội học. Điều này thể hiện rất rõ qua cách Comte phân chia và gọi tên các bộ
phận cấu thành xã hội học. Theo Comte, xã hội học gồm có 2 bộ phận chính là
Tĩnh học xã hội và Động học xã hội
 Tĩnh học xã hội (Social Statics): là bộ phận xã hội học nghiên cứu về trật tự
xã hội, cơ cấu xã hội, các thành phần và các mối liên hệ của chúng (Gia
đình, nhà nước…). Đầu tiên Comte nghiên cứu các cá nhân với tư cách là
một đơn vị xã hội cơ bản. Sau đó quan điểm xã hội học của ông thay đổi.
Theo ông, đơn vị xã hội cơ bản nhất, sơ đẳng nhất trong tất cả các đơn vị xã
hội là gia đình. Khi nghiên cứu về gia đình, Comte chủ yếu nghiên cứu cơ
cấu gia đình, sự phân công lao động nam nữ trong gia đình và quan hệ giữa

rằng giới vô cơ đơn giản hơn giới hữu cơ nên tư tưởng hiểu biết về giới tự nhiên
vô cơ sớm đạt tới giai đoạn thực chứng. Cụ thể là, đạt tới trình độ thực chứng
trước tiên là thiên văn học, sau đến vật lý học, rồi hóa học. Sau các khoa học
này là các khoa học về giới hữu cơ như sinh vật học, sinh lý học. xã hội học ra
đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa, giai đoạn thực chứng và đó là khoa
học phức tạp nhất, phải dựa trên nền tảng của các khoa học khác. Vì ra đời
muộn nên xã hội học ngay lập tức đã phải là một khoa học thực chứng và chiếm
vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các khoa học.
Tóm lại, đóng góp xã hội học của Comte có thể khái quát như sau:
Thứ nhất: Comte là người đầu tiên chỉ ra nhu cầu và bản chất của 1 khoa
học về các qui luật tổ chức xã hội mà ông gọi là xã hội học. Theo Comte, xã hội
học có nhiệm vụ đáp ứng được nhu cầu nhận thức, nhu cầu giải thích những
biến đổi xã hội, và góp phần vào việc lập lại trật tự ổn định xã hội.
Thứ hai: Comte đưa ra bản chất của xã hội học là sử dụng các phương
pháp khoa học để xây dựng lý thuyết và kiểm chứng giả thuyết.
Thứ ba: Mặc dù quan niệm của Comte về phương pháp luận, về cơ cấu
của xã hội học và về qui luật ba giai đoạn còn sơ lược, nhưng Comte đã chỉ ra
các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của xã hội học.
b. Karl Marx (1818-1883)
Karl Marx, nhà triết học và kinh tế học Đức, sinh năm 1818 tại Trier,
miền Nam nước Đức và mất năm 1883 tại London. Karl Marx sinh ra trong một
gia đình Do Thái, cha làm luật sư. Đầu tiên Marx theo nghề cha, học luật ở Đại
học tổng hợp Bonn, sau đó học triết học ở đại học Tổng hợp Berlin. Sau khi tốt
nghiệp năm 1841, Karl Marx bắt đầu viết báo và làm chủ bút của tờ Sông
Gianh. Năm 1843 Marx lấy Jenny Von Wesphaler và chuyển gia đình tới Paris.
Tại đó ông kết bạn với Friedrich Engels, đang làm quản lý trong một nhà máy.
Cả hai người đã trở thành người bạn chiến đấu thân thiết của nhau, cùng viết
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và cùng hoàn thiện học thuyết Marx.
Hệ thống quan điểm của Marx phản ánh sâu sắc những biến động của
thế kỷ XIX với các cuộc cách mạng chính trị, công nghiệp hóa và chủ nghĩa tư

Biến đổi xã hội là thuộc tính vốn có của mọi xã hội vì con người không
ngừng làm ra lịch sử trong quá trình hoạt động, nhằm thoả mãn các nhu cầu
ngày càng tăng của mình. Sự vận động, biến đổi xã hội tuân theo các qui luật
mà con người có thể nhận thức được. Vì vậy con người có thể có khả năng vận
dụng các qui luật đã nhận thức được để cải tạo xã hội cho phù hợp lợi ích của
mình.
Việc vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là cơ sở lý luận và
phương pháp luận trong xã hội học đòi hỏi nghiên cứu xã hội học phải tập trung
vào phân tích mối quan hệ giữa con người và xã hội.
Quan niệm về bản chất của xã hội và con người:
Theo Mác, bản chất của xã hội và của con người bị qui định bởi hoạt
động sản xuất ra của cải vật chất. Do đó nghiên cứu xã hội học cần phân tích
các cách tổ chức mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và
xã hội trong việc sản xuất ra các phương tiện để sinh tồn và phát triển.
Marx cho rằng bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã
hội và rằng con người không ngừng nâng cao các nhu cầu mới. Xã hội học cần
vạch ra những cơ chế, điều kiện xã hội cản trở hay thúc đẩy phát triển những
năng lực phẩm chất của con người trong quá trình lao động xã hội.
Theo Marx, sản xuất của xã hội phụ thuộc vào phân công lao động. Phân
công lao động dựa vào hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và do đó
sinh ra cơ cấu phân tầng xã hội. Như vậy, về mặt thực tiễn cần phải xóa bỏ thay
thế chế độ sở hữu tư nhân bằng sở hữu toàn xã hội. Về mặt lý luận, nghiên cứu
xã hội học cần tập trung phân tích cơ cấu xã hội để chỉ ra ai là người có lợi và ai
là người bị thiệt trong cách tổ chức xã hội và cơ cấu xã hội hiện có. Bất bình
đẳng xã hội phải là một chủ đề nghiên cứu cơ bản của Xã hội học.
Ở mọi xã hội, ý thức xã hội bị qui định bởi tồn tại xã hội. Lý luận xã hội
học cần tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu vật chất và cơ cấu tinh
thần xã hội.
Qui luật phát triển của lịch sử xã hội.
Theo Marx, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử thay thế kế

nhân nào, hệ thống xã hội nào có khả năng thích nghi nhất với môi trường xung
quanh mới có thể tồn tại được trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Spencer cũng cho
rằng xã hội học phải hướng tới tìm ra các qui luật và nguyên lý chung, cơ bản
để giải thích hiện thực xã hội.
Các tác phẩm cơ bản của Spencer là «Tĩnh học xã hội » (Social
Statics), « Nghiên cứu xã hội học » (the Study of Sociology), « Các nguyên lý
của xã hội học » ( Principles of Sociology), « Xã hội học mô tả » ( Descriptive
Sociology).
Quan niệm về xã hội học của Spencer
Theo Spencer xã hội được hiểu như là các cơ thể siêu hữu cơ. Xã hội
học là khoa học về các qui luật và các nguyên lý tổ chức của xã hội. Tương tự
như mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội vận động và phát triển theo qui luật. Xã hội
học có nhiệm vụ phát hiện ra qui luật, nguyên lý của cấu trúc của xã hội và của
quá trình xã hội. Xã hội học không nên sa đà vào phân tích những đặc thù lịch
sử của xã hội mà nên tập trung vào việc tìm kiếm những thuộc tính, đặc điểm
chung, phổ biến, phổ quát, và những mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật hiện
tượng xã hội.
Cũng như Comte, Spencer cho rằng có thể vận dụng các nguyên lý và
khái niệm của sinh vật học về cơ cấu và chức năng để nghiên cứu cơ thể xã hội
(nguyên lý tiến hoá). Theo Spencer, các xã hội loài người phát triển tuân theo
qui luật tiến hóa từ xã hội có cơ cấu nhỏ, đơn giản, chuyên môn hóa thấp, không
ổn định, dễ phân rã đến xã hội có cơ cấu lớn hơn, phức tạp, chuyên môn hóa
cao, liên kết bền vững và ổn định.
Ngoài nguyên lý tiến hóa, Spencer đưa ra những nguyên lý khác. Ví dụ
Spencer cho rằng qui mô của cơ thể xã hội ảnh hưởng tỉ lệ thuận đối với nhu
cầu về sự phân hóa dẫn đến hình thành và phát triển các quá trình xã hội. Do đó
xã hội học có nhiệm vụ chỉ ra các loại yếu tố hay các biến số tác động tới xu
hướng nhịp độ và bản chất của các quá trình đó. Theo Spencer tác nhân (biến)
của hiện tượng xã hội bao gồm:
 Tác nhân (biến) chủ quan bên trong: Các đặc điểm về trí tuệ, thể lực, và các

trạng thái chủ quan của đối tượng nghiên cứu trong khi đó các hiện tượng xã hội
không ngừng biến đổi). Do đó nghiên cứu xã hội học phải sử dụng nhiều loại số
liệu, phải thu thập số liệu vào nhiều thời điểm, ở nhiều địa điểm khác nhau.
Spencer cho rằng, nắm vững các tri thức và phương pháp nghiên cứu của sinh
vật học và tâm lý học là rất cần thiết và quan trọng đối với nghiên cứu xã hội
học.
Khó khăn chủ quan liên quan tới người nghiên cứu (tình cảm cá nhân, và
các khó khăn về mặt trí tuệ như trình độ tri thức, kỹ năng, tay nghề của nhà xã
hội học)
Xã hội học về loại hình xã hội và thiết chế xã hội.
Spencer cũng sử dụng khái niệm Tĩnh học xã hội và Động học xã hội
của Comte, nhưng ông triển khai các khái niệm đó với ý nghĩa giá trị học. Theo
Spencer, Tĩnh học xã hội nghiên cứu trạng thái cân bằng của một xã hội hoàn
hảo, động học xã hội nghiên cứu quá trình tiến tới sự hoàn hảo của xã hội. Theo
ông, sự tiến hoá xã hội tất yếu sẽ đưa xã hội tiến lên từ xã hội thuần nhất, đơn
giản đến xã hội đa dạng phức tạp; từ trạng thái bất ổn định không hoàn hảo đến
trạng thái cân bằng hoàn hảo.
Căn cứ vào các đặc điểm của quá trình điều chỉnh, vận hành và phân
phối, tức là các quá trình tiến hóa, Spencer phân các xã hội thành các loại hình
sau:
 Xã hội quân sự: cơ chế tổ chức, điều chỉnh mang tính tập trung, độc đoán
cao độ để phục vụ các mục tiêu quốc phòng và chiến tranh. Hoạt động của
các cơ cấu xã hội và các cá nhân bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Chế độ
phân phối diễn ra theo chiều dọc và mang tính tập trung cao.
 Xã hội công nghiệp: Cơ chế tổ chức ít tập trung và ít độc đoán để phục vụ
các mục tiêu xã hội là sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Mức độ kiểm soát của
nhà nước và chính quyền đối với các cá nhân và cơ cấu xã hội thấp. Chế độ
phân phối diễn ra hai chiều: chiều ngang giữa các tổ chức xã hội với nhau và
giữa các cá nhân với nhau, chiều dọc giữa các tổ chức và các cá nhân.
Về sự tiến hóa của các loại hình xã hội, theo Spencer xã hội tiến hoá từ:

giảng dạy tại trường Đại học tổng hợp Sorbone, ở đó ông đã viết một trong
những tác phẩm xã hội học độc đáo và quan trọng nhất của mình “ Những hình
thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo”. Việc Durkhiem đưa vào giảng dạy môn xã
hội học trong nhà trường đại học đã mở đầu cho bước tiến quan trọng của xã hội
học với tư cách là một khoa học.
Quan niệm về xã hội học
Durkheim định nghĩa xã hội học là khoa học nghiên cứu các sự kiện xã
hội (social facts). Xã hội học sử dụng phương pháp thực chứng đến nghiên cứu,
giải thích nguyên nhân và chức năng của các sự kiện xã hội. Nhiệm vụ hàng đầu
của xã hội học là tìm ra các qui luật xã hội để từ đó tạo ra trật tự xã hội trong xã
hội hiện đại. Durkheim chủ trương xã hội học phải trở thành khoa học về các
qui luật tổ chức xã hội. Theo Durkheim, để xã hội học trở thành khoa học phải
xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học một cách khoa học. Cần coi xã
hội, cơ cấu xã hội, thiết chế xã hội, đạo đức, truyền thống, phong tục, tập quán,
ý thức tập thể… như là các “sự kiện xã hội”, các sự vật, các bằng chứng xã hội
có thể quan sát được. Cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như
quan sát, so sánh, thực nghiệm… để nghiên cứu, phát hiện ra các qui luật của
các sự vật, sự kiện xã hội.
Giải thích trật tự xã hội:
Durkhiem dựa vào lý thuyết sinh học để giải thích trật tự xã hội. Ông
cho rằng đặc trưng của sinh vật không phải là chỗ cấu tạo thành phần hoá lý của
cơ thể mà là do đặc tính hoạt động sống của các cơ quan trong một thể thống
nhất. Tương tự, các đặc tính của xã hội không thể được qui về các đặc điểm tâm
sinh lý riêng của cá nhân mà phải là hoạt động của các thể chế xã hội trong quan
hệ phụ thuộc đan xen của cơ thể xã hội thống nhất.
Durkheim cho rằng văn hoá và tôn giáo là nguồn gốc của các hoạt động
xã hội, là qui luật phổ biến để duy trì trật tự xã hội và là động lực của sự tiến
hoá xã hội (trái với quan điểm Marxist). Sự hợp tác gắn bó giữa các thể chế xã
hội thể hiện trình độ văn minh của xã hội đó.
Về sự phát triển của xã hội

hiệu quả, tức là nguyên nhân gây ra hiện tượng với chức năng mà hiện tượng
thực hiện.
Thứ năm, qui tắc chứng minh xã hội học. Qui tắc này đòi hỏi phải so
sánh hai hay nhiều hơn các xã hội để xem liệu một sự kiện xã hội đã cho trong
một xã hội mà không hiện diện trong xã hội khác có gây ra sự khác biệt nào
trong các xã hội đó không. Durkheim cũng đề ra qui tắc chứng minh “biến thiên
tương quan”: Trong nghiên cứu xã hội học, nếu hai sự kiện tương quan với nhau
và một trong hai sự kiện đó được coi là nguyên nhân gây ra sự kiện kia, và trong
khi các sự kiện khác cũng có thể là nguyên nhân nhưng không thể loại trừ được
mối tương quan giữa hai sự kiện này thì cách giải thích nhân quả như vậy có thể
coi là “đã được chứng minh”.
Các nguyên tắc xã hội học nêu trên đã được Durkheim vận dụng trong
tất cả các công trình nghiên cứu của ông về phân công lao động, về tôn giáo, về
hội nhập xã hội… Vì vậy ngày nay, các nhà xã hội học hiện đại tìm thấy ở xã
hội học Durkheim những mẫu mực về nghiên cứu xã hội học thực nghiệm.
e. Max Weber (1864 -1920)
Max Weber là nhà kinh tế học, nhà sử học, nhà xã hội học, sinh năm
1864 trong một gia đình đạo Tin lành ở Erfurt thuộc miền đông nam nước Đức.
Weber đã tốt nghiệp đại học và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ luật về đề tài
liên quan đến « Lịch sử các hãng thương mại trong thời kỳ trung cổ » tại trường
đại học tổng hợp Berlin. Năm 1892 ông giảng dạy môn luật tại trường Đại học
tổng hợp Berlin. Năm 1894, ông được bổ nhiệm làm giáo sư kinh tế học chính
trị tại trường Đaị học tổng hợp Freiburg, sau đó năm 1897 ông làm giáo sư kinh
tế học tại trường đại học tổng hợp Heidelburg. Năm 1909, Weber đảm nhận
nhiệm vụ chủ bút nhà xuất bản Xã hội học.
Các tác phẩm chủ yếu của Weber bao gồm « Tính khách quan trong
khoa học xã hội và chính sách công cộng » (1903), « Đạo đức Tinh lành và tinh
thần của chủ nghĩa tư bản » (1904), « Kinh tế và xã hội » (1909), « Xã hội học
về tôn giáo » (1912), « Tôn giáo Trung Quốc » (1913) và « Tôn giáo Ấn Độ »
(1916).

Theo Weber về xã hội học vừa có đặc điểm của khoa học xã hội vừa có đặc
điểm của khoa học tự nhiên. Trước hết, Weber cho rằng, xã hội học là khoa học
có nhiệm vụ lý giải động cơ, ý nghĩa của hành động xã hội, có nghĩa là, xã hội
học không giống như khoa học tự nhiên vì đối tượng nghiên của của nó là hành
động xã hội và phương pháp nghiên cứu là giải nghĩa. Tuy nhiên, Weber cũng
cho rằng, giống như các khoa học khác, xã hội học tiến tới cách giải thích nhân
quả về đường lối và hệ quả của hoạt động xã hội. Như vậy, Weber vừa khẳng
định xã hội học là khoa học như khoa học tự nhiên vừa chỉ ra bản sắc của xã hội
học với tư cách là khoa học xã hội.
Trong khi nhấn mạnh đồng thời cả việc quan sát bên ngoài và việc nắm
bắt, lý giải những hiện tượng bên trong của hành động xã hội, Weber đã phân
loại hai loại lý giải : Thứ nhất, lý giải trực tiếp thể hiện trong quá trình nắm bắt
nghĩa của hành động qua quan sát trực tiếp những đặc điểm, biểu hiện của nó.
Thứ hai, lý giải gián tiếp là giải thích động cơ, ý nghĩa sâu xa của hành động
qua việc hình dung ra tình huống, bối cảnh của hành động.
Weber cho rằng xã hội học có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi về động
cơ, ý nghĩa của hành động xã hội và mục tiêu của xã hội học là đưa ra những
khái niệm chung, có tính chất khái quát, trừu tượng về hiện thực lịch sử xã hội.
Lý thuyết hành động xã hội
Một trong những khái niệm quan trọng nhất của xã hội học Weber là
hành động xã hội. Hành động xã hội với tư cách là đối tượng nghiên cứu của xã
hội học được Weber định nghĩa là « hành vi mà chủ thể gắn chó nó một ý nghĩa
chủ quan nào đó ». Hành động, kể cả hành động thụ động và không hành động
(chờ đợi, không làm gì cả) được gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan
của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay trong
tương lai, ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động. Như vậy không phải
hành động nào cũng có tính xã hội. Weber đã chỉ ra một số ví dụ. Thứ nhất,
hành động chủ thể nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người
khác. Thứ hai, không phải tương tác nào của con người cũng là hành động xã
hội. Thứ ba, hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông. Thứ

huấn của đạo Tin lành đã trở thành một hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức mới trong
lịch sử xã hội phương Tây. Những chuẩn mực này đã chi phối hành động xã hội
của con người Phương Tây. Bằng việc phân biệt hai khái niệm chủ nghĩa tư bản
truyền thống và chủ nghĩa tư bản hiện đại, Weber đã rút ra kết luận rằng, chính
đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản có mối tương quan cộng
hưởng, tỉ lệ thuận với nhau và đã góp phần hình thành, phát triển xã hội tư bản
chủ nghĩa hiện đại ở phương Tây. Mặc dù quan niệm này của Weber bị phê
phán là duy tâm chủ nghĩa nhưng nó cũng đã mang lại một cách giải thích mới
về mối quan hệ của các yếu tố vật chất và tinh thần, kinh tế và phi kinh tế.
Khi nghiên cứu về cấu trúc xã hội của chủ nghĩa tư bản, Weber cho rằng
cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu sự tác động của hai nhóm
yếu tố cơ bản là các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…) và các
yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực…). Ông đặc biệt
nhấn mạnh đến « kỹ năng chiếm lĩnh thị trường » của người lao động như là
một yếu tố cơ bản trong việc phân chia giai cấp. Weber cho rằng có hai hình
thức phân tầng xã hội về kinh tế. Thứ nhất, sự phân tầng xã hội thành các giai
cấp khác nhau về sở hữu tài sản. Thứ hai, sự phân tầng xã hội thành các giai cấp
khác nhau về mức độ thu nhập. Hai tháp phân tầng này dan xen, tương tác và
chuyển hóa cho nhau.
Như vậy, khi nghiên cứu phân tầng xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện đại,
Weber đã nói tới vai trò của cả hai yếu tố kinh tế và phi kinh tế trong quá trình
hình thành và biến đổi cơ cấu xã hội.
Tóm lại, công lao quan trọng của Weber đối với xã hội học hiện đại là
việc đưa ra những quan niệm và cách giải quyết độc đáo đối với những vấn đề
lý luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học. Weber đã xây dựng quan điểm
lý luận xã hội học đặc thù của mình trên cơ sở các ý tưởng của sử học, kinh tế
học, triết học, luật học và nghiên cứu lịch sử so sánh. Các lý thuyết, khái niệm
và phương pháp luận xã hội học Weber đang được tiếp tục tìm hiểu, vận dụng
và phát triển trong xã hội học hiện đại.
1.1.4. Các lý thuyết xã hội học chủ yếu

Luận điểm gốc của thuyết mâu thuẫn cho rằng, do có sự khan hiếm các
nguồn lực (đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị…) và do sự phân công lao
động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ giữa
các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh
với nhau vì lợi ích.
Để giải quyết mâu thuẫn xã hội, nhiều tác giả thuyết mâu thuẫn chủ
trương phê phán và đấu tranh chứ không phải là thỏa hiệp. Trong quá trình giải
quyết mâu thuẫn xã hội, hệ các giá trị và các chuẩn mực văn hóa được coi là vũ
khí, phương tiện đấu tranh lợi hại.
Về phương pháp luận, thuyết mâu thuẫn cho rằng cần phải tập trung vào
phân tích động cơ và đặc điểm xã hội của các bên tham gia mâu thuẫn và bản
chất của mối quan hệ mâu thuẫn
c. Thuyết tương tác biểu trưng (symbolic interaction theory)
Các đại biểu chính của thuyết tương tác biểu trưng bao gồm Charles
Horton Cooley (1863 – 1929), George Herbert Mead (1863 -1931), Herbert
Blumer (1900 – 1987), Erving Goffman (1922 – 1982).
Thuyết tương tác biểu trưng cho rằng xã hội được tạo thành từ sự tương
tác của vô số các cá nhân, bất kỳ hành vi và cử chỉ nào của con người đều có vô
số các ý nghĩa khác nhau, hành vi và hoạt động của con người không những phụ
thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng. Do đó để hiểu được
tương tác xã hội giữa các cá nhaanm giữa con người với xã hội, cần phải nghiên
cứu tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mối
tương tác đó.
Nguồn gốc của thuyết tương tác biểu trưng là các quan niệm xã hội học
của Max Weber, Georg Simel, Robert Park và một số trường phái triết học, sinh
vật học và các lý thuyết tâm lý học ý thức, tâm lý học hành vi và tâm lý học xã
hội.
d. Thuyết lựa chọn duy lý (rational choice theory)
Các đại biểu chính của thuyết lựa chọn duy lý là George Hommans (1910 –
1989) và Peter Blau

Theo thuyết trò chơi, mỗi người này hành động một cách duy lý là sẽ nhận
tội để tránh bị hậu quả nặng nề nhất, tránh bị phạt 10 năm tù. Kết hợp cả hai
cách hành động duy lý của từng người một dẫn đến kết cục chung là cả hai
cùng nhận tội và mỗi người bị phạt 5 năm tù. Thuyết trò chơi cho thấy, hành
động duy lý cá nhân chỉ có thể đem lại kết quả tốt đẹp cho các bên tham gia
khi cùng nhất trí những “luật chơi”, ví dụ trao đổi thông tin, hợp tác cùng có
lợi, tin cậy lẫn nhau.
Thứ hai là thuyết trao đổi(exchange theory): Thuyết trao đổi coi tương tác xã
hội như là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các bên tham gia. Mỗi bên luôn
xem xét chi phí bỏ ra và nguồn lợi thu về của từng món hàng, từng dịch vụ
trước khi đem chúng ra trao đổi với nhau.
1.1.5. Sự phát triển của xã hội học ở Việt nam
So với các nước Châu âu, Xã hội học ở Việt Nam ra đời muộn hơn.
Theo Thanh Lê (2001), sau khi thống nhất đất nước một nhiệm vụ đặc biệt cấp
thiết đặt ra cho lĩnh vực thông tin về khoa học xã hội đã được Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 4 nhấn mạnh “Mở rộng và nâng cao chất lượng các công tác
nghiên cứu trên các lĩnh vực luật học, xã hội học, sử học, khảo cổ học, dân tộc
học, ngôn ngữ học, văn học nghệ thuật…”
7
. Có thể coi đây là lần đầu tiên,
trong một văn kiện có tính chất cương lĩnh của Đảng cộng sản Việt nam, vai trò
của xã hội học đã được xác định. Như vậy, vào những năm 1970, xã hội học
chính thức trở thành một môn khoa học được nghiên cứu và sau đó được giảng
dạy trong các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt nam. Xã hội học Việt
nam phát triển ở hai trung tâm chính là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở Hà
nội, năm 1977, Ban xã hội học được thành lập do giáo sư Vũ Khiêu làm trưởng
ban cùng với khoảng 10 cán bộ trong đó hầu hết chưa được đào tạo trình độ
chuyên môn về xã hội học. Năm 1983, Viện xã hội học thuộc Ủy ban khoa học
xã hội Việt nam được thành lập
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status