BÁO CÁO THỰC TẬP
Đ ti:
Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hng Nông nghiệp v phát triển
nông thôn H Nội
1
môc lôc
Lời mở đầu 5
Chương i 7
rủi ro tín dụng trong ngân hng thương mại 7
1.1. Nh ng v n c b n v tín d ng ngân h ngữ ấ đề ơ ả ề ụ à 7
1.1.1. Khái ni m v phân lo iệ à ạ 7
1.1.2. Nguyên t c tín d ng ngân h ngắ ụ à 9
1.1.3. Vai trò c a tín d ng ngân h ngủ ụ à 10
1.2. R i ro tín d ng trong ho t ng c a ngân h ngủ ụ ạ độ ủ à 11
1.2.1. Khái ni mệ 11
1.2.2. Phân lo i r i ro tín d ngạ ủ ụ 12
1.2.3. D u hi u nh n bi t r i ro tín d ngấ ệ ậ ế ủ ụ 13
1.2.4. M t s mô hình l ng hoá r i ro tín d ngộ ố ượ ủ ụ 15
1.2.4.1. Mô hình điểm số Z 16
1.2.4.2. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng 17
1.2.5 . Tác ng c a r i ro tín d ngđộ ủ ủ ụ 18
1.2.5.1. Tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động của ngân hàng 18
1.2.5.2. Tác động của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế 19
1.2.6. Nguyên nhân d n n r i ro tín d ngẫ đế ủ ụ 19
1.2.6.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng 19
1.2.6.2. Nguyên nhân thuộc về người vay 21
1.2.6.3. Nguyên nhân khác 21
1.3. Nhân t nh h ng t i h n ch r i ro tín d ngốả ưở ớ ạ ế ủ ụ 23
1.3.1. Chính sách v quy trình tín d ngà ụ 23
triển nông thôn H Nội 50
3.1. nh h ng ho t ng tín d ng t i ngân h ng nông nghi p v phát Đị ướ ạ độ ụ ạ à ệ à
tri n nông thôn H N i trong n m t iể à ộ ă ớ 50
3.2. Gi i pháp h n ch r i ro tín d ng t i ngân h ng nông nghi p H N iả ạ ế ủ ụ ạ à ệ à ộ
52
3.2.1. Nâng cao ch t l ng cán b tín d ngấ ượ ộ ụ 52
3.2.2. Th c hi n y quy trình cho vayự ệ đầ đủ 53
3.2.3. Xây d ng h th ng phân lo i v x p h ng khách h ng t ngự ệ ố ạ à ế ạ à ựđộ 54
3
3.2.4. Coi tr ng nh ng không quá l i v o t i s n m b oọ ư ỷ ạ à à ả đả ả 55
3.2.5. nh k phân lo i n v trích l p d phòng r i ro theo quy nh m iĐị ỳ ạ ợ à ậ ự ủ đị ớ 56
3.2.6. T ng c ng công tác ki m tra, giám sát tín d ng c l pă ườ ể ụ độ ậ 57
3.2.7. a d ng hoá danh m c cho vayĐ ạ ụ 58
3.2.8. Thi t l p b ph n nghiên c u, phân tích, d báo di n bi n n n kinh tế ậ ộ ậ ứ ự ễ ế ề ế59
3.3. M t s ki n nghộ ố ế ị 59
3.3.1. Ki n ngh v i ngân h ng Nông nghi p v phát tri n nông thôn Vi t Namế ị ớ à ệ à ể ệ
59
3.2.2. Ki n ngh v i ngân h ng Nh n cế ị ớ à à ướ 61
3.3.3. Ki n ngh v i Nh n cế ị ớ à ướ 65
Kết Luận 68
Danh mục ti liệu tham khảo 69
4
Lời mở đầu
Sau 20 năm cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng
thương mại (NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh
về mọi mặt, kể cả số lượng, qui mô, nội dung và chất lượng; đã có những đóng
góp xứng đáng vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế nói
chung và quá trình đổi mới, phát triển của các thành phần kinh tế, các doanh
nghiệp và dân doanh nói riêng; thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi
mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động ngân hàng nước ta
Ngân hàng là một trung gian tài chính có chức năng quan trọng là thu
hút, tập trung các nguồn vốn, chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh. Các
dịch vụ ngân hàng cung cấp ngày càng phong phú, đa dạng và cũng mang lại cho
ngân hàng nguồn thu không nhỏ. Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng vẫn là tín dụng.
Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng được hiểu là quan hệ vay
mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định giữa ngân hàng với các
chủ thể khác trong nền kinh tế. Theo nhiều tiêu thức, tín dụng được phân chia như
sau:
Theo thời gian, tín dụng được phân chia thành tín dụng ngắn, trung
và dài hạn.
- Tín dụng ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn dưới 1 năm, để
tài trợ cho tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn là những khoản vay thông thường từ 1 đến 5
năm, tài trợ cho các tài sản cố định như máy móc thiết bị…
- Tín dụng dài hạn là những khoản vay từ 5 năm trở lên để tài trợ cho
tài sản cố định có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài.
7
Nhìn chung, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn ở ngân hàng thường cao hơn tín
dụng trung và dài hạn. Đó là do các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho nhu cầu vốn
lưu động của khách hàng. Hơn nữa, tín dụng trung và dài hạn thường có rủi ro cao
hơn và nguồn đắt hơn. Việc phân loại theo thời gian để ngân hàng quản lý nhằm
đảm bảo an toàn và sinh lợi.
Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh,
cho thuê, chiết khấu.
- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời gian xác định. Trong phần lớn các
ngân hàng, cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng.
- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như cam kết. Để có thể tồn tại và phát triển,
ngân hàng luôn yêu cầu người vay vốn phải thực hiện đúng như cam kết trong
hợp đồng tín dụng.
Thứ hai, khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được
thoả thuận với ngân hàng, phù hợp theo luật hiện hành. Thông thường, hoạt động
của ngân hàng đươc quy định trong luật nhưng mỗi ngân hàng lại có quy định
riêng. Mục đích sử dụng vốn được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân
hàng không tài trợ cho những hoạt động trái pháp luật và phạm vi của ngân hàng.
Nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, khách hàng phải hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước ngân hàng và luật pháp.
9
Thứ ba, ngân hàng tài trợ dựa trên phương án ( hoặc dự án) có hiệu quả.
Bởi vì chỉ khi hoạt động sử dụng vốn vay ngân hàng mang lại lợi nhuận thì khách
hàng mới có khả năng hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng. Trong trường hợp thấy
phương án hoặc dự án đó có thể có rủi ro cao, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải
có các hình thức đảm bảo tiền vay.
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của phần lớn các ngân hàng thương mại,
thường chiếm tỷ trọng từ 60 – 70% lợi nhuận của ngân hàng. Do đó, ngân hàng
luôn tìm cách duy trì, mở rộng tín dụng thông qua việc đa dạng hoá các loại hình
dịch vụ. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn có tác động đến những hoạt động kinh
doanh khác hay uy tín nên ngân hàng cũng phải quan tâm đến chất lượng tín dụng
để tránh những ảnh hưởng xấu. Như vậy, ngay đối với bản thân ngân hàng, tín
dụng đã chiếm một vai trò quan trọng, quyết định tới sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế, tín dụng ngân hàng lại thể hiện một vai
trò rõ nét hơn.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình điều hoà vốn giữa các chủ
thể trong nền kinh tế. Trong cấu trúc hệ thống tài chính, ngân hàng là trung gian
tài chính, có chức năng chuyển vốn từ người tiết kiệm đến người đầu tư và kiếm
lời bằng phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Như vậy, thông
mong muốn đối với ngân hàng. Những rủi ro mà ngân hàng thường gặp phải trong
quá trình hoạt động như : rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro
tồn đọng vốn…Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lợi chủ yếu của
ngân hàng nên rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro có thể mang lại những tổn
11
thất nghiêm trọng đối với ngân hàng, thậm chí làm phá sản. Để hạn chế được loại
hình rủi ro này, trước hết phải hiểu thế nào là rủi ro tín dụng?
Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng, nhưng trong phạm vi luận văn này,
rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất tài chính mà ngân
hàng phải chịu do người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo
cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này có nghĩa là các khoản thanh
toán bao gồm cả phần gốc, lãi như cam kết có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không
được trả.
Thông thường, khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố
gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và ngân
hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy
nhiên, không phải bao giờ các quyết định cũng là chính xác, một phần là do khách
hàng, một phần do ngân hàng. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng,
rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là tất yếu khách quan. Nhiều quan điểm
nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, chỉ có thể hạn chế,
không thể loại trừ.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Để có thể xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng, các ngân
hàng thường tiến hành phân loại theo từng tiêu thức:
- Theo cơ cấu các loại hình rủi ro: rủi ro tín dụng được chia thành rủi
ro theo khoản cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
- Theo nguồn gốc hình thành , rủi ro tín dụng được chia thành 3 loại:
+ Rủi ro từ phía người cho vay: là những rủi ro do chính sách của ngân
hàng; việc nghiên cứu và dự báo; theo dõi, xử lý rủi ro tín dụng; cán bộ tín dụng;
công tác kiểm tra, kiểm soát…
- Sự thay đổi đáng kể về giá trị của đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mà có
thể làm mất năng lực sản xuất hiện hành
Những dấu hiệu liên quan đến giao dịch ngân hàng
- Số dư tài khoản tại ngân hàng giảm
- Xuất hiện khoản nợ quá hạn
- Đặt niềm tin nhiều vào các khoản nợ ngắn hạn
- Xin gia hạn nhiều lần hoặc đảo nợ nhiều lần
- Xuất hiện các khoản vay có nhiều nguồn trả nợ (như theo đề nghị
vay vốn) nhưng không dễ dàng nhận thấy chúng.
- Công tác kế hoạch hoá tài chính cho các nhu cầu về tài sản cố định
hoặc về vốn lưu động thể hiện sự đơn giản và kém cỏi.
Những dấu hiệu liên quan đến quản trị công ty
- Báo cáo và quản lý tài chính kém cỏi
- Các chức năng điều hành và phân công xử lý công việc thể hiện một
sự chắp vá
14
- Mong muốn hoặc khăng khăng đòi “đánh bạc” với kinh doanh có
những rủi ro quá mức.
- Đặt giá bán hàng hoá và dịch vụ một cách không thực tế
- Những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật
chủ chốt
- Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc
các điều kiện kinh tế
Tuy nhiên, khi khách hàng có một trong những dấu hiệu trên thì không
đáng kể. Nhưng khi một số dấu hiệu xảy ra đồng thời thì cán bộ cần xem xét,
đánh giá kỹ để có thê hạn chế và giảm thiểu tác động của rủi ro tín dụng gây nên.
1.2.4. Một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
Nhiều năm về trước,để đánh giá rủi ro tín dụng hầu hết các ngân hàng chỉ
dựa duy nhất vào phương pháp định tính như xem xét khách hàng có đủ tư cách
không, có tài sản thế chấp không, mục đích vay có hợp lý không…Tuy nhiên,
- X3 = tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản
- X4 = tỷ số thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn
- X5 = tỷ số doanh thu/tổng tài sản
16
Trị số Z càng cao thì người vay cao xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi
trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy
cơ vỡ nợ cao. Theo Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải
được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao và ngân hàng chỉ cấp tín dụng
khi điểm số Z được cải thiện.
Tuy nhiên, mô hình này có những hạn chế là chỉ phân biệt được khách hàng
thành hai nhóm vỡ nợ và không vỡ nợ. Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành
nhiều loại, từ không trả hay chậm trễ trong việc trả tiền vay đến không trả. Như
vậy, cần có một mô hình chính xác hơn, với nhiều thang điểm khác nhau để phân
loại khách hàng thành nhiều nhóm. Hơn nữa, mô hình này không tính tới một số
nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hoá, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức
độ rủi ro tín dụng của khách hàng như danh tiếng, mối quan hệ truyền thống hay
yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh.
1.2.4.2. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngày nay rất nhiều ngân hàng trên thế giới, trong đó có cả Việt nam sử
dụng phương pháp cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng trong việc xử lý các đơn
xin vay của người tiêu dùng. Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh
chóng khi những yêu cầu tín dụng của họ được xử lý bằng hệ thống cho điểm tự
động. Thông thường, khách hàng có thể gọi điện thoại đến ngân hàng để xin vay,
thông qua hệ thống máy tính nối mạng và có kết quả tín dụng sau vài phút.
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho
điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số
người phụ thộc, sở hữu nhà, thu nhập, tài khoản…Mô hình cho điểm tín dụng tiêu
dùng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1
đến 10 tương ứng với tình trạng người xin vay. Tổng điểm ở tất cả các hạng mục
của khách hàng đó là tiêu chí để xếp hạng mức độ rủi ro cao hay thấp và từ đó có
nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn
đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn
hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác.
1.2.5.2. Tác động của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
Hoạt động của ngân hàng thương mại mang tính xã hội hoá cao vì nó liên
quan đến nhiều ngành nghề và nhiều thành phần khác nhau trong nền kinh tế. Do
vậy, khi một ngân hàng bị phá sản, nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại
trong xã hội. Trước tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết với nhau
trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đổ rất có thể dẫn đến sự sụp đổ của các
ngân hàng còn lại. Ngoài ra, việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị
gián đoạn do thiếu vốn; người gửi tiền không lấy lại tiền. Những hậu quả này còn
làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống
tài chính, cũng như hiệu lực của các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
1.2.6. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Thông thường, người ta
phân rủi ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng, nguyên
nhân thuộc về người vay, nguyên nhân khác.
1.2.6.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Thứ nhất, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về
năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ,
thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý
thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và kỳ hạn
không phù hợp ; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán
bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi
hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người
vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo
19
đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn
cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa
lý, không tính đến phần bù rủi ro. Việc làm đó trong dài hạn không những làm
giảm lợi nhuận mà còn làm tăng tính rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng.
1.2.6.2. Nguyên nhân thuộc về người vay
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia nhóm này
thành hai loại chính:
Thứ nhất, do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ.
Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán
các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai mục đích, sản
phẩm chất lượng thấp không bán được Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng
lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao,
mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể
xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.
Thứ hai, do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng. Để đạt
được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn
để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai
lệch. Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về
khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không
hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao.Ngoài ra, cũng có những trường hợp
người kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố
tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu
càng tốt.
1.2.6.3. Nguyên nhân khác
21
Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như
chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…
Thứ nhất, chất lượng thông tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng thu
thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của
khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào
các thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng, quy định chi
phối hoạt động tín dụng do ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn
để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân; đồng thời thiết lập
môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng. Thông thường, chính
sách tín dụng quy định đối tượng vay vốn, nhu cầu vay vốn, hạn mức, điều kiện
vay, phương thức quản lý…Nếu chính sách tín dụng được xây dựng khoa học, cẩn
thận, thông suốt từ trên xuống dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu
chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh
doanh. Ngược lại, chính sách tín dụng không cụ thể, không thích ứng được với
những thay đổi của môi trường, không phù hợp với khả năng và mục tiêu của
ngân hàng sẽ làm giảm chất lượng của những khoản vay, dễ phát sinh rủi ro. Thực
tế đã chứng minh rằng ngân hàng nào xây dựng được một chính sách tín dụng hợp
lý, chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó thường cao hơn.
Trong khi đó, quy trình tín dụng lại bao gồm các bước cụ thể hoá chính sách tín
dụng, giúp cán bộ tín dụng tiến hành quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa
học, góp phần đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Quy trình cho vay gồm
nhiều bước nhỏ nhưng thường được chia thành 4 giai đoạn: phân tích trước khi
cấp tín dụng, xây dựng và ký kết hợp đồng, giải ngân, kiểm soát sau khi cấp tín
dụng. Chính vì cán bộ tín dụng cho vay chủ yếu dựa vào các bước trong quy trình
tín dụng nên đối với mỗi ngân hàng, quy trình cần được xây dựng cụ thể, chi tiết
23
đối với mỗi loại hình tín dụng, mỗi đối tượng khách hàng để đảm bảo việc thực
hiện đúng, đủ quy trình là có thể hạn chế được rủi ro xảy ra.
1.3.2. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của ngân hng
Trong công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng, ngoài việc tuân thủ theo các quy
chế cho vay, bảo lãnh, bảo đảm tiền vay…do ngân hàng trung ương ban hành, các
ngân hàng thương mại cần xây dựng riêng cho mình một chính sách quản lý rủi ro
tín dụng phù hợp. Mục tiêu của xây dựng chính sách này là nhằm giảm đến mức
tối thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và tổn thất ở mức ngân hàng cho là hợp
lý. Do vậy, chính sách này cần phải quản lý được các rủi ro hiện hữu ở từng
làm tự động sẽ nhanh, ít nhầm lẫn hơn. Ngoài ra, các cấp quản lý khi cần cũng có
thể nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động tín dụng tại cơ sở nhanh nhất, chính
xác nhất. Tóm lại, một ngân hàng nên đầu tư vào các trang thiết bị, công nghệ
hiện đại để vừa mở rộng tín dụng lại vừa hạn chế được rủi ro.
25